TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP –
TIẾNG NÓI CỦA KHÁT VỌNG DÂN TỘC
Có những khát vọng
chỉ thuộc về một thế hệ. Nhưng cũng có những khát vọng được hun đúc qua hàng
nghìn năm lịch sử, trở thành ý chí và sức mạnh của cả một dân tộc. Với Việt
Nam, đó là khát vọng được sống trong độc lập, tự do, được tự quyết định vận mệnh
của mình. Khát vọng ấy đã
theo dân tộc ta đi qua suốt chiều dài lịch sử. Từ Nam quốc sơn hà, Bình
Ngô đại cáo đến gần một thế kỷ đấu tranh chống thực dân, đế quốc, tinh thần
độc lập chưa bao giờ tắt.
Mùa Thu năm 1945,
sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, khát vọng ấy không còn chỉ là ý chí được
hun đúc qua nhiều thế hệ mà đã trở thành hiện thực của lịch sử.
Đỉnh cao của mùa
Thu lịch sử ấy là sáng 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh
thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập,
tuyên bố với quốc dân đồng bào và thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa. Chỉ hơn một nghìn chữ, nhưng bản Tuyên ngôn đã kết tinh ý chí dựng
nước và giữ nước của cả dân tộc qua hàng nghìn năm lịch sử; không chỉ khai sinh
một nhà nước mới mà còn cất lên tiếng nói của khát vọng Việt Nam trước toàn
nhân loại.
Từ khát vọng của một
dân tộc đến chân lý của thời đại
Lịch sử từng ghi nhận
nhiều bản tuyên ngôn khẳng định chủ quyền quốc gia. Tuy nhiên, Tuyên ngôn Độc
lập năm 1945 mang một tầm vóc đặc biệt, bởi Hồ Chí Minh không chỉ nói với
nhân dân Việt Nam mà còn tuyên bố với cả thế giới về quyền độc lập chính đáng của
một dân tộc đã tự mình đứng lên giành lấy tự do.
Mở đầu bản Tuyên
ngôn, Người trích dẫn những nguyên lý nổi tiếng trong Tuyên ngôn Độc lập năm
1776 của Hoa Kỳ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp. Đó
không phải là sự viện dẫn mang tính hình thức, càng không phải sự vay mượn tư
tưởng, mà là cách Hồ Chí Minh đặt cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam trên nền
tảng những giá trị phổ quát mà nhân loại tiến bộ đã thừa nhận.
Từ quyền của mỗi
con người, Hồ Chí Minh phát triển thành quyền của mỗi dân tộc: "Suy rộng
ra, câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng;
dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do."
Chính hai chữ
"Suy rộng ra" đã làm nên giá trị đặc sắc của bản Tuyên ngôn. Từ quyền
con người, Hồ Chí Minh phát triển thành quyền dân tộc, đưa cuộc đấu tranh của
Việt Nam trở thành tiếng nói chung của các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Đây
không chỉ là cơ sở bảo vệ nền độc lập của Việt Nam mà còn là đóng góp quan trọng
vào tư tưởng giải phóng dân tộc trong thế kỷ XX.
Tiếng nói của công
lý và chính nghĩa
Nếu phần mở đầu đặt
nền tảng bằng những nguyên lý phổ quát thì phần tiếp theo được xây dựng hoàn
toàn trên những sự thật lịch sử.
Điều đặc biệt là Hồ
Chí Minh không nói bằng ngôn ngữ của người chiến thắng. Người không ca ngợi chiến
công mà để chính những sự thật lịch sử lên tiếng. Chính tiếng nói của công lý
và chính nghĩa ấy đã tạo nên sức thuyết phục đặc biệt của bản Tuyên ngôn trước
nhân dân Việt Nam và dư luận tiến bộ trên thế giới.
Thực dân Pháp nhân
danh "khai hóa" nhưng lại tước bỏ mọi quyền tự do, dân chủ của nhân
dân Việt Nam; lập nhà tù nhiều hơn trường học; bóc lột nhân dân đến tận xương tủy;
dìm các phong trào yêu nước trong biển máu. Mùa Thu năm 1940, khi phát xít Nhật
tiến vào Đông Dương, thực dân Pháp nhanh chóng đầu hàng, trao Đông Dương cho
quân Nhật kiểm soát. Sự thật ấy đã bóc trần hoàn toàn luận điệu "khai
hóa" và "bảo hộ" mà họ từng rêu rao để biện minh cho ách thống
trị của mình.
Từ những chứng cứ
không thể phủ nhận ấy, Hồ Chí Minh đi đến một kết luận ngắn gọn nhưng có sức nặng
của lịch sử: "Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị". Chỉ bằng tám chữ, Người đã khái
quát sự sụp đổ của chế độ thực dân, phát xít và phong kiến ở Việt Nam, đồng thời
bác bỏ mọi luận điệu cho rằng nền độc lập của dân tộc ta là kết quả của sự ban
phát từ bên ngoài. Đó là thành quả của cả một dân tộc đã kiên cường đấu tranh
và tự mình giành lấy quyền làm chủ đất nước.
Bởi vậy, lời tuyên
bố: "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành
một nước tự do độc lập" không đơn thuần là lời công bố sự ra đời của một
quốc gia mới. Trong câu văn ấy, hai chữ "quyền" và "sự thật"
tạo nên sức nặng đặc biệt của bản Tuyên ngôn. Có quyền vì đó là lẽ phải của lịch
sử và luật pháp quốc tế; là sự thật vì nhân dân Việt Nam đã tự mình giành lấy nền
độc lập bằng ý chí, sức mạnh và sự hy sinh của mình.
Giá trị còn mãi với
thời gian
Hơn tám mươi năm đã
trôi qua, nhưng Tuyên ngôn Độc lập vẫn giữ nguyên giá trị lịch sử, pháp
lý và thời đại. Trong bối cảnh hội nhập và phát triển, tư tưởng về quyền con
người, quyền dân tộc và khát vọng hòa bình, tự do mà Hồ Chí Minh khẳng định vẫn
là nền tảng để giữ vững độc lập, chủ quyền và xây dựng một đất nước phồn vinh,
hạnh phúc, đúng như tiêu ngữ "Độc lập - Tự do - Hạnh phúc" mà Người lựa
chọn ngay từ những ngày đầu lập quốc.
Khép lại bản Tuyên
ngôn, Hồ Chí Minh thay mặt cả dân tộc tuyên thệ trước thế giới: "Toàn
thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải
để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy."
Đó không chỉ là lời
thề của mùa Thu năm 1945 mà còn là lời nhắc nhở đối với mỗi thế hệ người Việt
Nam về trách nhiệm gìn giữ thành quả mà cha ông đã đánh đổi bằng biết bao máu
xương mới giành được.
Sáng 2/9/1945 đã
lùi xa hơn tám thập niên, nhưng mỗi lần đọc lại Tuyên ngôn Độc lập,
chúng ta như vẫn nghe vang vọng giữa Quảng trường Ba Đình lời khẳng định đanh
thép của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc
lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập." Đó không chỉ là lời
khai sinh một quốc gia mà còn là sự kết tinh của khát vọng đã được gìn giữ qua
hàng nghìn năm lịch sử, trở thành tiếng nói bất diệt của một dân tộc yêu chuộng
độc lập, tự do, đồng thời khẳng định trước nhân loại một chân lý không bao giờ
thay đổi: quyền độc lập của mỗi dân tộc là thiêng liêng, bất khả xâm phạm./.
Nguyễn
Vũ Điền