Đại hội lần thứ III Liên hiệp Hội Việt Nam - bước phát triển mới trong tập hợp và phát huy trí tuệ đội ngũ trí thức
Đại hội lần thứ III Liên hiệp Hội Việt Nam - bước phát triển mới trong
tập hợp và phát huy trí tuệ đội ngũ trí thức
Trong hai ngày 27 và 28/9/1993, tại Bảo tàng Hồ
Chí Minh, Hà Nội, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III Liên hiệp các Hội Khoa
học và Kỹ thuật Việt Nam được tổ chức. Diễn ra sau 10 năm xây dựng và trưởng
thành của Liên hiệp Hội Việt Nam, Đại hội đánh dấu một bước phát triển mới về tổ
chức, phương thức hoạt động và khả năng tập hợp, phát huy trí tuệ của đội ngũ
trí thức khoa học và công nghệ, tạo thêm những nền tảng quan trọng để Liên hiệp
Hội Việt Nam đồng hành cùng sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước.
Mười năm xây dựng nền móng và mở rộng lực lượng
Đại hội lần thứ III diễn ra trong bối cảnh đất nước
tiếp tục đẩy mạnh công cuộc Đổi mới, đồng thời phải đối mặt với nhiều biến động
lớn của tình hình thế giới đầu thập niên 1990. Những thay đổi sâu sắc của môi
trường quốc tế, những khó khăn về kinh tế - xã hội và yêu cầu đổi mới tư duy
phát triển đặt ra những nhiệm vụ ngày càng cao đối với khoa học, công nghệ và đội
ngũ trí thức.
Trong bối cảnh đó, Liên hiệp các Hội Khoa học và
Kỹ thuật Việt Nam đã bước qua chặng đường 10 năm kể từ ngày thành lập. Từ 15 tổ
chức hội thành viên ban đầu tại Đại hội I năm 1983, đến Đại hội II năm 1988 hệ
thống đã phát triển lên 23 hội thành viên; và đến Đại hội III năm 1993 đã có 42
tổ chức hội thành viên, gồm 34 hội khoa học và kỹ thuật ngành toàn quốc và 8
Liên hiệp Hội địa phương.
Sự gia tăng về số lượng hội thành viên không chỉ
phản ánh quá trình mở rộng tổ chức. Quan trọng hơn, hệ thống Liên hiệp Hội Việt
Nam đã từng bước hình thành một mạng lưới liên kết trí thức theo cả ngành, lĩnh
vực và địa bàn. Các nhà khoa học, chuyên gia, kỹ sư, nhà giáo, thầy thuốc và
cán bộ kỹ thuật thuộc nhiều cơ quan, đơn vị khác nhau có thêm một không gian
chung để trao đổi chuyên môn, chia sẻ kinh nghiệm và tham gia những hoạt động
phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Từ thực tiễn hoạt động của hai nhiệm kỳ đầu, yêu
cầu đặt ra ngày càng rõ hơn: Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
không chỉ cần mở rộng lực lượng mà còn phải tạo được cơ chế để nguồn lực trí tuệ
ấy được kết nối, tổ chức và phát huy hiệu quả hơn. Đây chính là một trong những
nội dung nổi bật làm nên ý nghĩa của Đại hội III.
Đại hội của một bước phát triển mới
Trong hai ngày 27 và 28/9/1993, Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ III Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam được tổ
chức trọng thể tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, với 184 đại biểu đại diện cho
42 tổ chức hội thành viên.
Đại hội vinh dự được đón Tổng Bí thư Đỗ Mười, Đại
tướng Võ Nguyên Giáp cùng nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các cơ quan
Trung ương, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Thủ đô Hà Nội và khách quốc tế đến dự. Sự
quan tâm của lãnh đạo Đảng và Nhà nước đối với Đại hội thể hiện sự coi trọng
vai trò của khoa học, công nghệ và đội ngũ trí thức trong công cuộc đổi mới và
phát triển đất nước.
Phát biểu tại Đại hội, Tổng Bí thư Đỗ Mười đánh
giá cao những đóng góp của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam và
các hội thành viên trong nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân
tài, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, cũng như tham gia đóng góp ý
kiến đối với các chủ trương, chính sách, dự luật và dự án phát triển quan trọng.
Những đánh giá và định hướng nêu tại Đại hội tiếp tục đặt ra yêu cầu Liên hiệp
các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phải phát huy tốt hơn tiềm năng, trí tuệ
của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong giai đoạn mới.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong lời phát biểu chào
mừng cũng nhấn mạnh ý nghĩa của mô hình tổ chức các hội khoa học và kỹ thuật -
một mô hình tạo điều kiện để đông đảo cán bộ khoa học, kỹ thuật và trí thức
tham gia hoạt động chuyên môn, vượt qua những giới hạn của từng cơ quan, ngành
hoặc địa phương, cùng hướng tới những mục tiêu chung của đất nước.
Tinh thần xuyên suốt của Đại hội là tiếp tục củng
cố khối đoàn kết trong giới trí thức, mở rộng mạng lưới tổ chức, nâng cao chất
lượng hoạt động và phát huy hiệu quả hơn nguồn lực khoa học, công nghệ trong
toàn hệ thống.
Củng cố tổ chức, bảo đảm tính kế thừa và phát
triển
Đại hội đã thảo luận và thông qua Báo cáo của Hội
đồng Trung ương khóa II cùng các văn kiện quan trọng; đồng thời bầu Hội đồng
Trung ương khóa III gồm 95 ủy viên.
Đại hội tiếp tục suy tôn GS.VS, Anh hùng Lao động
Trần Đại Nghĩa làm Chủ tịch danh dự Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt
Nam. Đây là sự ghi nhận đối với vị Chủ tịch đầu tiên, người có nhiều đóng góp
trong quá trình vận động thành lập và xây dựng nền móng của Liên hiệp các Hội
Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.
Hội đồng Trung ương khóa III bầu Đoàn Chủ tịch gồm
11 ủy viên. GS.TS Hà Học Trạc tiếp tục được tín nhiệm bầu làm Chủ tịch Liên hiệp
các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam; các Phó Chủ tịch gồm GS Phan Huy Lê, Phạm
Sĩ Liêm và TS Nguyễn Hữu Tăng; PTS Hồ Uy Liêm đảm nhiệm chức vụ Tổng Thư ký. Ủy
ban Kiểm tra gồm 5 thành viên, do ông Trần Cư làm Chủ nhiệm.
Việc tiếp tục tín nhiệm GS.TS Hà Học Trạc giữ
cương vị Chủ tịch thể hiện tính kế thừa, ổn định trong lãnh đạo, đồng thời tạo
điều kiện để những định hướng đổi mới về tổ chức và hoạt động được tiếp tục triển
khai trong một giai đoạn phát triển mới của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ
thuật Việt Nam.
Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ
thuật Việt Nam khóa III ra mắt Đại hội
Tập hợp trí thức ngày càng gắn với những vấn đề
thực tiễn của đất nước
Một nét nổi bật trước và trong giai đoạn Đại hội
III là hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam ngày càng
gắn với những vấn đề thực tiễn, những chương trình và dự án có ý nghĩa đối với
phát triển kinh tế - xã hội.
Trước thềm Đại hội III, Liên hiệp các Hội Khoa học
và Kỹ thuật Việt Nam đã tham gia xem xét luận chứng kinh tế - kỹ thuật Công
trình thủy điện Yaly trên sông Sê San, tỉnh Gia Lai và tài liệu kỹ thuật Công
trình đường dây tải điện 500 kV Bắc - Nam do hãng Nippon Koei của Nhật Bản lập.
Những hoạt động này cho thấy bước chuyển quan trọng trong việc huy động chuyên
gia thuộc nhiều lĩnh vực tham gia nghiên cứu, phân tích và đóng góp ý kiến đối
với các công trình lớn.
Ý nghĩa của những hoạt động đó không chỉ nằm ở từng
ý kiến chuyên môn cụ thể. Qua quá trình tập hợp chuyên gia, Liên hiệp các Hội
Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam từng bước hình thành phương thức huy động trí tuệ
liên ngành, phát huy tính độc lập, khách quan của đội ngũ khoa học trong việc
xem xét các vấn đề phát triển. Đây là một tiền đề quan trọng để hoạt động tư vấn,
phản biện và giám định xã hội tiếp tục được phát triển và hoàn thiện trong các
giai đoạn sau.
Cùng với đó, các hội thành viên đẩy mạnh nghiên cứu,
ứng dụng, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, phổ biến kiến thức và tổ chức nhiều hoạt
động chuyên môn phục vụ sản xuất và đời sống. Qua đó, việc tập hợp trí thức
ngày càng gắn chặt hơn với mục tiêu đưa tri thức khoa học vào thực tiễn và tạo
ra những giá trị thiết thực cho xã hội.
Một dấu mốc quan trọng về vị trí và trách nhiệm
của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
Ngay trước Đại hội III, tháng 8/1993, Ban Bí thư
Trung ương Đảng ban hành Thông báo số 52-TB/TW, xác định Liên hiệp các Hội Khoa
học và Kỹ thuật Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của trí thức Việt Nam.
Đây là một dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển của Liên hiệp Hội.
Sau 10 năm hoạt động, Liên hiệp các Hội Khoa học
và Kỹ thuật Việt Nam ngày càng được xác định rõ hơn về vị trí, vai trò trong việc
tập hợp, đoàn kết đội ngũ trí thức; phát huy tiềm năng khoa học, công nghệ;
tham gia xây dựng đất nước và đóng góp vào các công việc chung của xã hội.
Sự ghi nhận đó đồng thời đặt ra trách nhiệm lớn
hơn đối với toàn hệ thống: phải không ngừng đổi mới phương thức tập hợp trí thức;
tạo điều kiện để các nhà khoa học phát huy năng lực chuyên môn, tinh thần trách
nhiệm và khát vọng cống hiến; nâng cao chất lượng nghiên cứu, tư vấn, phổ biến
kiến thức và chuyển giao khoa học, công nghệ.
Trong giai đoạn tiếp theo, việc xây dựng tổ chức
không chỉ được đo bằng số lượng hội thành viên mà ngày càng gắn với chất lượng
tập hợp, khả năng liên kết và hiệu quả phát huy trí tuệ của đội ngũ trí thức
trong các hoạt động cụ thể.
Lần đầu tiên biểu trưng Liên hiệp các Hội Khoa
học và Kỹ thuật Việt Nam xuất hiện tại Đại hội
Đại hội III còn ghi dấu bằng một sự kiện có ý
nghĩa đối với nhận diện của tổ chức: lần đầu tiên biểu trưng của Liên hiệp các
Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam được chính thức giới thiệu tại một kỳ Đại hội.
Biểu trưng sử dụng hình tam giác đều được hợp
thành bởi ba chữ V, đặt trong đường tròn mang dòng chữ “Liên hiệp các Hội Khoa
học và Kỹ thuật Việt Nam - VUSTA”. Hình tam giác thể hiện sự gắn kết của ba
lĩnh vực lớn: khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật. Ba chữ V
liên kết với nhau đồng thời gợi hình ảnh những cánh chim đang vươn lên, thể hiện
tinh thần đoàn kết, sáng tạo và khát vọng phát triển của khoa học, kỹ thuật Việt
Nam.
Mẫu biểu trưng do họa sĩ Nguyễn Duy Lẫm thiết kế
và đoạt giải Nhất trong cuộc thi sáng tạo được tổ chức trước thềm Đại hội. Từ Đại
hội III, biểu trưng VUSTA dần trở thành hình ảnh quen thuộc, gắn với quá trình
phát triển của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam qua các nhiệm kỳ.
Ở góc độ biểu tượng, ba chữ V liên kết cũng gợi một
thông điệp phù hợp với chính chủ đề phát triển của Liên hiệp các Hội Khoa học
và Kỹ thuật Việt Nam trong giai đoạn này: sức mạnh của khoa học và công nghệ được
nhân lên khi các nhà khoa học, các hội chuyên ngành và các địa phương được kết
nối trong một mạng lưới chung.
Mở rộng hệ thống từ Trung ương đến địa phương
Nhiệm kỳ III tiếp tục chứng kiến sự phát triển mạnh
mẽ của hệ thống tổ chức. Từ 34 hội ngành toàn quốc và 8 Liên hiệp Hội địa
phương tại thời điểm Đại hội, đến cuối nhiệm kỳ, số hội khoa học và kỹ thuật ở
Trung ương tăng lên 40 hội, trong khi số Liên hiệp Hội địa phương tăng từ 8 lên
23 tỉnh, thành phố.
Sự phát triển nhanh của các Liên hiệp Hội địa
phương có ý nghĩa đặc biệt. Nếu các hội ngành tạo nên chiều sâu chuyên môn thì
các Liên hiệp Hội địa phương tạo điều kiện để nguồn lực trí thức được gắn trực
tiếp với những yêu cầu phát triển của từng địa bàn; tham gia tư vấn, phổ biến
kiến thức, ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và giải quyết các vấn đề kinh tế
- xã hội cụ thể tại cơ sở.
Tháng 12/1993, Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
tại Liên bang Nga được thành lập, mở thêm một hướng tập hợp trí thức Việt Nam ở
nước ngoài, tạo tiền đề cho việc kết nối nguồn lực trí tuệ của người Việt Nam
xa Tổ quốc với các hoạt động khoa học, kỹ thuật trong nước.
Cùng với hệ thống hội thành viên, các tổ chức
nghiên cứu, ứng dụng và dịch vụ khoa học, công nghệ thuộc Liên hiệp Hội và các
hội thành viên cũng từng bước phát triển. Đến cuối nhiệm kỳ III, hơn một trăm
đơn vị trực thuộc đã được hình thành, góp phần mở rộng không gian hoạt động
khoa học, công nghệ trong toàn hệ thống.
Phát huy trí tuệ gắn với phổ biến kiến thức và
phục vụ cộng đồng
Trong nhiệm kỳ III, hoạt động phổ biến kiến thức
khoa học và kỹ thuật tiếp tục được coi trọng. Các hội thành viên tổ chức nhiều
hình thức chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, đào tạo, tập huấn, thông tin khoa học,
xuất bản và hoạt động chuyên môn, góp phần đưa kiến thức đến với người lao động,
sản xuất và đời sống.
Thực tiễn đó cho thấy khái niệm “phát huy trí tuệ
đội ngũ trí thức” ngày càng được thể hiện bằng những hoạt động cụ thể: không chỉ
nghiên cứu và trao đổi học thuật mà còn phổ biến kiến thức, chuyển giao công
nghệ, tư vấn giải pháp, tham gia đào tạo và hỗ trợ cộng đồng.
Đây cũng là nét đặc trưng trong phương thức hoạt
động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam: kết nối đội ngũ
chuyên gia với nhu cầu của xã hội, tạo cầu nối để tri thức khoa học có thể được
chuyển hóa thành những giải pháp phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và nâng
cao đời sống Nhân dân.
Tạo nền tảng cho giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa
Trong những năm của nhiệm kỳ III, vị trí và vai
trò của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tiếp tục được củng cố bằng
nhiều chủ trương quan trọng của Đảng.
Năm 1996, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa
VIII về giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ nhấn mạnh yêu cầu củng cố,
tăng cường hoạt động của các hội khoa học và kỹ thuật; phát huy vai trò của
Liên hiệp Hội trong phổ biến, ứng dụng kiến thức, nghiên cứu khoa học, triển
khai công nghệ, bảo vệ môi trường, cũng như tư vấn, phản biện và giám định xã hội.
Ngày 11/11/1998, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số
45-CT/TW về đẩy mạnh hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt
Nam. Văn bản này tiếp tục khẳng định vai trò của Liên hiệp các Hội Khoa học và
Kỹ thuật Việt Nam trong tập hợp đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ, đồng thời
đặt ra những yêu cầu mới trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa.
Có thể thấy, những kết quả đạt được từ Đại hội
III và trong nhiệm kỳ 1993-1999 đã góp phần quan trọng tạo nền tảng để Liên hiệp
các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam bước sang một giai đoạn phát triển mới với
quy mô tổ chức rộng hơn, lĩnh vực hoạt động đa dạng hơn và yêu cầu cao hơn về
chất lượng tập hợp, phát huy trí tuệ đội ngũ trí thức.
Bước phát triển mới trong tập hợp và phát huy
trí tuệ đội ngũ trí thức
Nhìn lại các kỳ Đại hội đầu tiên của Liên hiệp
các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam có thể thấy một mạch phát triển liên tục.
Đại hội I năm 1983 đặt nền móng cho “mái nhà chung” của đội ngũ trí thức khoa học
và kỹ thuật. Đại hội II năm 1988 củng cố tổ chức và mở rộng hoạt động trong những
năm đầu Đổi mới. Đến Đại hội III năm 1993, yêu cầu tập hợp trí thức được nâng
lên một bước mới: không chỉ mở rộng số lượng, mà phải ngày càng phát huy hiệu
quả nguồn lực trí tuệ đã được quy tụ.
Tinh thần ấy được thể hiện qua nhiều dấu mốc: hệ
thống hội tiếp tục mở rộng; cơ chế huy động chuyên gia tham gia các vấn đề lớn
dần được hình thành; hoạt động nghiên cứu, tư vấn, phổ biến kiến thức và chuyển
giao khoa học, công nghệ ngày càng gắn với thực tiễn; mạng lưới địa phương và
các tổ chức khoa học, công nghệ trực thuộc tiếp tục phát triển.
Đại hội III vì thế có thể được xem là một dấu mốc
quan trọng trên hành trình chuyển từ “tập hợp lực lượng” sang “tổ chức và phát
huy nguồn lực trí tuệ” một cách ngày càng hiệu quả hơn. Đó cũng là nền tảng để
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tiếp tục hoàn thiện phương thức
hoạt động, khẳng định vai trò là mái nhà chung của đội ngũ trí thức khoa học và
công nghệ và đóng góp ngày càng thiết thực vào sự nghiệp xây dựng, phát triển
và bảo vệ Tổ quốc.
Ba thập niên đã trôi qua kể từ Đại hội III, nhưng
những giá trị được đặt ra tại kỳ Đại hội này vẫn có ý nghĩa lâu dài: đoàn kết rộng
rãi đội ngũ trí thức, kết nối các nguồn lực khoa học, tạo môi trường để trí thức
cống hiến và đưa tri thức phục vụ thực tiễn. Đó là một trong những mạch xuyên
suốt trong chặng đường hơn bốn thập kỷ xây dựng và phát triển của Liên hiệp các
Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.