No title... No title... No title... No title...
image advertisement
image advertisement
Một số giải pháp góp phần tăng cường công tác quản lý, bảo vệ nguồn tài nguyên nước ở Việt Nam trước những yêu cầu mới
Lượt xem: 117
anh tin bai

MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ, BẢO VỆ NGUỒN TÀI NGUYÊN NƯỚC Ở VIỆT NAM TRƯỚC NHỮNG YÊU CẦU MỚI

                 TS. Nguyễn Minh Đức - Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội Sơn la

Nước là tài nguyên thiên nhiên quý giá, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường. Vấn đề bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên nước là vấn đề rất cấp thiết hiện nay của thế giới nói chung mỗi quốc gia nói riêng.

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII đã xác định: “Xây dựng chiến lược an ninh nguồn nước quốc gia. Hoàn thiện chính sách, pháp luật, nhất là cơ chế tài chính về khai thác, sử dụng tài nguyên nước ...bảo đảm nghiêm ngặt an ninh nguồn nước, nhất là nguồn nước sạch cho sinh hoạt”1

Trong dự thảo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV cũng chỉ rõ: “Đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản, nâng cao chất lượng quản lý quy hoạch, quản lý và sử dụng tài nguyên quốc gia, bảo vệ môi trường. Chú trọng đầu tư các công trình phòng chống thiên tai, đảm bảo an ninh nguồn nước, ...”2.

Trong những năm gần đây, công tác quản lý, bảo vệ nguồn tài nguyên nước phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của nước ta theo hướng hợp lý, hiệu quả và bền vững đã được triển khai thực hiện. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, vẫn còn những mặt hạn chế, nhất là việc khai thác và sử dụng các nguồn nước mặt và nước ngầm quá mức; ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt, chưa kịp thời ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu.... Thực tế đang đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ trong việc quản lý, bảo vệ và sử dụng nguồn tài nguyên nước trên phạm vi cả nước nói chung và từng địa phương nói riêng, đáp ứng nhu cầu của sản xuất và đời sống trong điều kiện phát triển mới của đất nước.

1. Một vài nét khái quát về nguồn tài nguyên nước ở Việt Nam hiện nay

Nước trên hành tinh phát sinh từ 3 nguồn: từ bên trong lòng đất, từ các thiên thạch đưa lại và từ lớp trên của khí quyển Trái Đất. Khối lượng nước chủ yếu trên Trái Đất (nước mặn, nước ngọt, hơi nước) đều bắt nguồn từ lòng đất (lớp vỏ giữa) trong quá trình phân hóa các lớp đá ở nhiệt độ cao. Theo sự tính toán thì khối lượng nước ở trạng thái tự do phủ lên Trái Đất là 1,4 tỉ km3, nhưng lượng nước ngọt có thể sử dụng được chiếm không đầy 1% toàn bộ khối lượng của thủy quyển. Nhưng nhờ quá trình khổng lồ là sự tuần hoàn nước mà trữ lượng nước ngọt được phục hồi liên tục trong hẹ thống sông hồ trên trái đất. Tài nguyên nước của một quốc gia bao gồm: (1) Nước mặt; (2) Nước ngầm; (3) Nước biển và Đại dương; (4) Nước băng tuyết và sông băng; (5) Hơi nước trong khí quyển.

Với vị trí địa lý nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa, Việt Nam được đánh giá là có nguồn tài nguyên nước ngọt khá phong phú cả về nguồn nước mặt trong các hệ thống sông, hồ, lượng mưa và nguồn nước dưới lòng đất. Theo số liệu từ Bộ Tài Nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường): Việt Nam có 3.450 sông, suối có chiều dài từ 10 km trở lên, trong đó có 697 sông, suối, kênh, rạch thuộc nguồn nước liên tỉnh; 173 sông suối, kênh, rạch thuộc nguồn nước liên quốc gia và 38 hồ, đầm phá liên tỉnh. Tổng lượng dòng chảy hàng năm đạt khoảng 844,4 tỷ m3; trong đó tập trung chủ yếu ở lưu vực sông Cửu Long. Tuy nhiên, lượng nước sinh ra ở phần lãnh thổ Việt Nam chỉ chiếm khoảng 310 - 315 tỷ m3/năm, chủ yếu thuộc các lưu vực sông Hồng - sông Thái Bình, sông Đồng Nai, sông Cả, sông Mã, sông Vũ Gia - Thu Bồn.

Ngoài hệ thống sông, để đáp ứng yêu cầu tích trữ, điều tiết dòng chảy phục vụ cấp nước, thủy điện, chống lũ lụt; Việt Nam còn có các Hồ chứa nước. Theo Cục Quản lý tài nguyên nước (Bộ Tài nguyên và Môi trường), cả nước có trên 2.900 hồ chứa thủy điện, thủy lợi đã vận hành, đang xây dựng hoặc đã có quy hoạch xây dựng với tổng dung tích trên 65 tỷ m3. Trong đó, khoảng 2.100 hồ đang vận hành (tổng dung tích hơn 34 tỷ m3) khoảng 240 hồ đang xây dựng (tổng dung tích hơn 28 tỷ m3), trên 510 hồ đã có quy hoạch (tổng dung tích gần 4 tỷ m3). Trong số các hồ nêu trên, có khoảng 800 hồ thủy điện, tổng dung tích trên 56 tỷ m3 (gồm 59 hồ đang vận hành; 231 hồ đang xây dựng; hơn 500 hồ đã có quy hoạch xây dựng) và hơn 2.100 hồ chứa thủy lợi, tổng dung tích hơn 9 tỷ m3 (phần lớn là hồ chứa nhỏ, đã xây dựng xong, đang vận hành).

Việt Nam cũng có lợi thế bổ sung nguồn nước, khi nằm trong số các quốc gia có lượng mưa lớn trên thế giới với lượng mưa trung bình năm khoảng 1.940 - 1.960 mm (tương đương tổng lượng nước khoảng 640 tỷ m3/năm). Tuy nhiên, lượng mưa của Việt Nam phân bố rất không đều theo không gian và thời gian, tập trung chủ yếu trong mùa mưa vào tháng 4 và 5 tháng (chiếm 75 - 85% tổng lượng mưa năm); lượng mưa trong mùa khô chỉ chiếm khoảng 15 - 25%.

Cùng với nguồn nước mặt đó là nguồn nước ngầm dồi dào, trữ lượng khoảng 189,3 triệu m3/ngày, đêm, tiềm năng có thể khai thác trung bình khoảng 61,2 triệu m3/ngày, đêm, tập trung ở khu vực đồng bằng Bắc bộ, Nam bộ và khu vực Tây Nguyên; lượng mưa trung bình năm khoảng 1.940 - 1.960 mm (tương đương 640 tỷ m3/năm), nằm trong số quốc gia có lượng mưa lớn trên thế giới.

Tuy nhiên, nguồn nước mặt của Việt Nam phụ thuộc nhiều vào nguồn nước ngoại sinh, hàng năm, các sông, suối xuyên biên giới chuyển vào nước ta khoảng 520 tỷ m3, chiếm khoảng 63% tổng lượng nước mặt của cả nước, trong khi “Nguồn nước nội sinh của Việt Nam chỉ đạt 4.200 m3/người/năm, thấp hơn so với trung bình của Đông Nam Á (4.900 m3/người/năm)3.

2. Thực trạng và những vấn đề đặt ra trong việc quản lý, bảo vệ nguồn tài nguyên nước ở ta hiện nay

2.1. Thực trạng việc quản lý, bảo vệ nguồn tài nguyên nước ở ta hiện nay

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, các nhu cầu về khai thác tài nguyên thiên nhiên, sử dụng năng lượng ngày càng tăng. Sự phát triển kinh tế xã hội với sự xuất hiện hàng loạt các nhà máy xí nghiệp, các công trình xây dựng, … đã và đang tác động mạnh mẽ đến hệ sinh thái, môi trường xung quanh cũng như điều kiện sống của mọi tầng lớp dân cư. Tài nguyên nước có xu thế cạn kiệt dần, tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng. Chính vì vậy, vấn đề quản lý và bảo vệ nguồn tài nguyên nước đã và đang trở thành một nhiệm vụ cấp bách của cả nước nói chung và từng địa phương nói riêng trước những yêu cầu phát triển mới hiện nay.

Đến nay, cả nước đã có 50 tỉnh, thành phố đã phê duyệt công bố danh mục hồ, ao, đầm, phá không được san lấp trên địa bàn; 49 tỉnh, thành phố đã công bố danh mục nguồn nước cần phải lập hành lang bảo vệ; 38 tỉnh, thành phố đã phê duyệt danh mục nguồn nước nội tỉnh. Ngoài ra, có 26 tỉnh, thành phố thực hiện phê duyệt, công bố danh mục và bản đồ phân vùng hạn chế khai thác nước dưới đất trên địa bàn theo quy định; 33 tỉnh, thành phố (đạt tỷ lệ 52,4%) đã thực hiện việc phê duyệt vùng bảo hộ vệ sinh lấy nước sinh hoạt. Trong năm 2023, các Sở Nông nghiệp và Môi trường đã tham mưu UBND các tỉnh, thành phố cấp 1.928 giấy phép tài nguyên nước các loại... Các tỉnh, thành phố cũng đang tập trung thực hiện công tác giám sát việc vận hành các hồ chứa theo quy trình vận hành liên hồ; tổ chức thực hiện điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất và chủ động cấp nước sinh hoạt tại các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước. Công tác quản lý nguồn tài nguyên nước của cả nước nói chung và từng địa phương nói riêng dần dần đi vào nền nếp, tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước: “Bình quân nguồn thu từ thuế tài nguyên nước của cả nước trong giai đoạn 2021 - 2024 vào khoảng 7,5 nghìn tỷ đồng/năm; từ tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước khoảng 1,5 nghìn tỷ đồng/năm4.

anh tin bai
Lòng hồ Thủy điện Sơn La - Một trong những nguồn nước quan trọng của tỉnh Sơn La. Ảnh: Tuấn Đạt

2.2. Những yêu cầu mới đặt ra trong việc quản lý, bảo vệ nguồn tài nguyên nước ở nước ta hiện nay

Một là, nhận thức của một bộ phận người dân và doanh nghiệp về bảo vệ và sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên nước còn hạn chế; dẫn đến việc khai thác các nguồn nước mặt và nước ngầm quá mức, không theo quy hoạch, các hoạt động xả thải làm ô nhiễm nguồn nước thường xuyên xảy ra.

Hai là, sự gia tăng dân số và phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp làm gia tăng nhu cầu sử dụng nước, trong khi nguồn cung nước ngày càng hạn chế. Nguồn nước của Việt Nam đang đối mặt với vấn đề về ô nhiễm, khan hiếm, cạn kiệt cả về mức độ và quy mô, nhất là tại các vùng đô thị, khu công nghiệp, đe dọa trực tiếp đến an ninh nguồn nước và sự phát triển bền vững của quốc gia.

Ba là, các hoạt động gây ra ô nhiễm ngay từ đầu nguồn nước cũng thường xuyên xảy ra nhưng thiếu sự quản lý như: việc xả thải từ chăn nuôi, chế biến nông sản chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt chuẩn, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ cỏ trong nông nghiệp, việc xả rác ở các khu dân cư và các điểm du lịch ... rất khó khắc phục trong một thời gian ngắn.

Bốn là, thiếu và chưa đồng bộ trong quy hoạch khai thác, quản lí nguồn nước mặt và nước ngầm dẫn đến những tác động tiêu cực như: ô nhiễm nguồn nước, suy giảm chất lượng nước, thậm chí là cạn kiệt nguồn tài nguyên nước. Khả năng tiếp cận nguồn nước sạch, an toàn cho sản xuất, sinh hoạt của người dân còn nhiều hạn chế; đặc biệt với địa bàn có điều kiện địa lý, điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.

Năm là, việc quản lý, vận hành nhiều công trình thủy lợi còn bất cập, chưa đáp ứng đầy đủ nước cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp, đặc biệt trong mùa khô. Kinh phí đầu tư cho nâng cấp, sửa chữa, bảo trì công trình còn hạn chế. Chưa có cơ chế cho phép điều phối linh hoạt từ những điểm có nguồn nước vượt nhu cầu sử dụng, sang những nơi thiếu nước nhất là về mùa khô.

Sáu là, việc ứng dụng công nghệ mới trong quản lý cấp phép, quản lý chất lượng nước, giám sát việc sử dụng và bảo vệ nguồn nước của nhiều địa phương còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp và người dân.

Bảy là, thiên tai, bão lũ, hạn hán, ngập úng, xâm nhập mặn, nước biển dâng ngày một gia tăng khiến tác động của BĐKH đến tài nguyên nước ngày càng nghiêm trọng, ảnh hưởng nặng nề đến sản xuất nông nghiệp, có thể dẫn tới xung đột về nguồn nước ở nhiều khu vực nông thôn.

Tám là, nguồn lực đầu tư cho quản lý, bảo vệ tài nguyên nước chưa đáp ứng được yêu cầu. Mặt khác, hệ thống luật pháp về tài nguyên và quản lý nguồn nước thiếu đồng bộ dẫn đến mâu thuẫn, tranh chấp sử dụng nước ngày càng căng thẳng.

Chín là, nguồn nước ngoại lai chiếm trên 60% tổng tài nguyên nước mặt, đặc biệt là ở 2 lưu vực sông lớn nhất Việt Nam là sông Cửu Long và sông Hồng. Nằm ở hạ lưu các con sông, Việt Nam không thể chủ động trong việc bảo vệ, khai thác và sử dụng nguồn nước này, nhất là khi các quốc gia thượng nguồn ngày càng khai thác triệt để nguồn nước để sản xuất điện. Bên cạnh đó, các vấn đề liên quan đến biến đổi khí hậu làm nước biển dâng, xâm nhập mặn, rừng đầu nguồn bị suy giảm cũng gây ra những tác động không hề nhỏ tới nguồn tài nguyên nước của nước ta trước mắt cũng như lâu dài.

3. Một số giải pháp góp phần tăng cường công tác quản lý và bảo vệ nguồn tài nguyên nước ở nước ta trước những yêu cầu mới

Một là, phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của tài nguyên nước đối với sản xuất và đời sống cho cán bộ và nhân dân để chủ động trong công tác bảo vệ, quản lý và sử dụng các nguồn nước trên địa bàn cả nước nói chung và từng địa phương nói riêng. Các cấp ủy Đảng và Chính quyền phải xã định việc bảo vệ tài nguyên nước là nhiệm vụ cấp bách, nó không chỉ đáp ứng các yêu cầu trước mắt mà còn tạo nền tảng vững chắc cho sự nghiệp bảo vệ Tài nguyên và môi trường trong tương lai lâu dài. Triển khai các chiến dịch truyền thông nhằm nâng cao ý thức sử dụng nước hiệu quả, tiết kiệm và bảo vệ tài nguyên nước; đồng thời hướng dẫn người dân và doanh nghiệp sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả.

Hai là, tiếp tục triển khai thực hiện đầy đủ Luật Tài nguyên nước, Luật Bảo vệ môi trường cùng các luật, pháp lệnh, quy định liên quan tới khai thác, bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên và môi trường nước bao gồm cả nước mặt và nước dưới đất. Nâng cao hiệu quả, tiết kiệm dùng nước trong tất cả các ngành sản xuất và sinh hoạt bằng các biện pháp khoa học, công nghệ và phương thức quản lý tiên tiến. Điều này đặt nhiệm vụ quản lý tài nguyên nước phải thay đổi, phù hợp với thời kỳ mới. Tài nguyên nước phải được quản lý theo hướng tổng hợp, phát triển bền vững trên cơ sở sử dụng nước tiết kiệm, phân phối chia sẻ tài nguyên nước, bảo vệ và phát triển tài nguyên nước đi đôi với đảm bảo hiệu quả và sự bền vững môi trường, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Ba là, trong sản xuất nông nghiệp, cần thực hiện các biện pháp tưới tiết kiệm nước; giảm tổn thất nước bằng cách tiếp tục kiên cố hóa hệ thống kênh mương, nâng cấp công trình đầu mối, nâng cao hiệu quả quản lý; chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, ưu tiên phát triển các cây con có nhu cầu sử dụng nước thấp, hiệu quả kinh tế cao; tích cực phòng chống ô nhiễm nước; sử dụng các hóa chất nông nghiệp theo đúng các quy định và hướng dẫn kỹ thuật.

Bốn là. trong công nghiệp, nhất là trong công nghiệp chế biến và sơ chế nông sản, cần nâng cao hiệu quả sử dụng nước; tái sử dụng nước; xây dựng và hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải; tích cực phòng chống ô nhiễm nước; thực hiện nghiêm túc các luật pháp, quy định về quản lý nước thải, rác thải.

Năm là, trong sinh hoạt và các hoạt động du lịch, dịch vụ, cần thực hiện các mục tiêu cấp nước cho đô thị và nông thôn đã được xác định trong các quyết định của Nhà nước; sử dụng nước một cách tiết kiệm nhất; cải tiến thiết bị sử dụng nước; tích cực phòng chống ô nhiễm nguồn nước, nhất là trong các khu, điểm du lịch ở thượng lưu các con sông, đầu các nguồn nơi sinh thủy của các con suối ở các tỉnh miền núi nước ta.

Sáu là, Phải tăng cường hơn nữa công tác quản lý hệ thống hồ đập thủy lợi và thủy điện. Tiến hành công tác khảo sát, đánh giá tình trạng an toàn hồ đập để đảm bảo mục tiêu cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, chống hạn, cung cấp nguồn nước cho hệ thống các công trình thủy điện; giảm thiểu và phòng tránh tối đa các tác động môi trường tự nhiên và xã hội của các hồ, đập, đặc biệt là của các hồ đập lớn.

Bảy là, gắn liền việc quản lý tài nguyên nước mặt và nước dưới đất với quản lý các tài nguyên thiên nhiên khác như: đất, rừng, khoáng sản, năng lượng trong các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên các lưu vực sông, suối theo hướng bền vững. Tiếp tục thực hiện Chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc; áp dụng đồng bộ các biện pháp quản lý và bảo vệ rừng để tạo nguồn sinh thủy bền vững và ổn định cho hệ thống hồ đập và các công trình thủy điện trên địa bàn tỉnh miền núi và biên giới nước ta.

Tám là, tăng cường công tác nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ mới trong điều tra, thăm dò, khai thác, sử dụng và bảo vệ nước ngầm, áp dụng các phương thức mới, như sử dụng hành lang thu nước, giếng tia, bổ sung nhân tạo để tăng cường khai thác các nguồn nước; cấm tuyệt đối việc xây dựng các công trình chôn lấp chất thải trên phạm vi nguồn; bảo vệ và phát triển các công trình có khả năng làm tăng nguồn nước ngầm. Cần đầu tư xây dựng hệ thống quan trắc tự động, ứng dụng phần mềm giám sát liên tục, đồng thời tích hợp công nghệ điều phối nước và cảnh báo sớm nhằm giảm thiểu rủi ro do ô nhiễm và khai thác quá mức. Khai thác, sử dụng công nghệ GIS (viễn thám) để giám sát việc khai thác và sử dụng tài nguyên nước.

Chín là, phải chủ động kế hoạch sử dụng nước trên sông xuyên biên giới trên cơ sở giám sát, hợp tác với các quốc gia có chung nguồn nước trong việc chia sẻ thông tin, số liệu quan trắc, vận hành khai thác nguồn nước. Tiếp tục hợp tác với các quốc gia thượng nguồn trong việc chia sẻ thông tin, số liệu quan trắc khí tượng thủy văn, tài nguyên nước, số liệu vận hành KTSD nước; thiết lập các cơ chế giải quyết tranh chấp, xung đột tài nguyên nước liên quốc gia đảm bảo nguyên tắc công bằng, hài hoà lợi ích của các quốc gia, phù hợp với các Điều ước quốc tế. Đồng thời phải chủ động trong việc hợp tác chống biến đổi khí hậu để hạn chế thấp nhất những thiệt hại do nước biển dâng, xâm nhập mặn gắn với việc quản lý và bảo vệ các nguồn sinh thủy ở các khu vực rừng đầu nguồn nằm trong lưu vực của hệ thống sông suối chảy về Việt Nam.

* * *

Tóm lại, tài nguyên nước là thành phần chủ yếu của môi trường sống, quyết định sự thành công trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của mỗi quốc gia và của từng địa phương. Hiện nay nguồn tài nguyên thiên nhiên quý hiếm và quan trọng này đang phải đối mặt với nguy cơ ô nhiễm và cạn kiệt. Trong giai đoạn tới, cả nước nói chung và từng địa phương nói riêng cần tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp để tăng cường công tác quản lý nguồn tài nguyên nước theo hướng tổng hợp, bền vững, tiết kiệm và hiệu quả. Nhiệm vụ bảo vệ và phát triển tài nguyên nước phải đi đôi với vụ bảo vệ môi trường và các nguồn tài nguyên khác, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo hướng hiệu quả, bền vững trong kỷ nguyên vươn mình của cả dân tộc./.

Chú thích:                                                                                                                         

1. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, tập 1, NXB CTQQGST, trang153.

2. Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, NXB CTQQGST, trang 30.

3. Tạp chí Môi trường điện tử - Viện Chiến lược, chính sách Nông nghiệp và Môi trường - Bộ Nông nghiệp và Môi trường (đăng ngày 03/10/2025).

4. Chuyên mục Môi trường - Báo Nhân dân điện tử (đăng ngày 03/10/2025).


                                               

TS. Nguyễn Minh Đức
Thông tin doanh nghiệp
  • Một số nội dung quan trọng tại Đại hội lần thứ XIV của Đảng
  • Hội nghị Khởi động Dự án phát triển sinh kế, du lịch xanh từ dịch vụ môi trường rừng tại xã Ngọc Chiến
  • Một số giải pháp góp phần tăng cường văn hóa tự phê bình và phê bình trong Đảng trước tình hình mới
  • Phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ: Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước
  • Giao ban giữa Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh với các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ
  • Liên hiệp Hội Sơn La tổ chức Họp Ban Chấp hành mở rộng, tổng kết công tác năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026
  • 10 Sự kiện tiêu biểu của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam năm 2025
  • Ban hành Nghị quyết mới của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước
  • Thư mời viết bài cộng tác Bản tin số 59 - 2026
  • 10 kết quả nổi bật trên các lĩnh vực tỉnh Sơn La năm 2025
  • Ngành Nông nghiệp và Môi trường Sơn La thúc đẩy Phong trào “Bình dân học vụ số”
  • Hội thảo tư vấn “Nông nghiệp hữu cơ – Triển vọng và thách thức đối với tỉnh Sơn La”
  • Hiệp hội Du lịch tỉnh Sơn La tổ chức Đại hội lần thứ III, nhiệm kỳ 2025-2030
  • vấn đề đang được quan tâm về bảng giá đất 2026 các tỉnh
  • Sơn La là Trưởng nhóm liên kết, hợp tác phát triển du lịch giữa các tỉnh Tây Bắc mở rộng và TP. Hồ Chí Minh năm 2026
  • Giải thưởng VinFuture 2025 trị giá 3 triệu USD thuộc về 4 nhà khoa học của Mỹ
  • Một số giải pháp góp phần tăng cường công tác quản lý, bảo vệ nguồn tài nguyên nước ở Việt Nam trước những yêu cầu mới
  • Lễ tổng kết và trao giải Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên nhi đồng tỉnh lần thứ 7 năm 2025
  • Bản tin Trí thức với Khoa học và Công nghệ số 58/2025
  • Câu chuyện phân loại tại nguồn và xử lý rác thải rắn sinh hoạt
Tiêu điểm
Xem & Nghe
Sinh viên biến vỏ tỏi thành dự án khởi nghiệp
  • Sinh viên biến vỏ tỏi thành dự án khởi nghiệp
  • Lễ trao Giải thưởng VinFuture 2025
  • Tôn vinh trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam
1 2 3 
Bình chọn
Làm thế nào bạn tìm thấy trang web này?
  • Bình chọn Xem kết quả
    Thống kê truy cập
    • Đang online: 27
    • Hôm nay: 847
    • Trong tuần: 32 740
    • Tất cả: 16551690
    Đăng nhập
     
    image banner
     TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ NỘI BỘ CỦA LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT TỈNH SƠN LA
    Địa chỉ: Số 20 Đường Hoàng Quốc Việt, Phường Chiềng Cơi, Tỉnh Sơn La
    Điện thoại: 02123.858.268/ 02123.755.068             Fax:02123.755.068            Email: lienhiephoisonla@gmail.com
    Ghi rõ nguồn "Susta.vn" hoặc "Liên hiệp hội Sơn La" khi phát hành lại thông tin từ website này