Công nghệ sinh học – Cú hích lớn cho nông nghiệp Sơn La
Từ một vùng đất nông nghiệp manh mún, tự cung tự cấp, Sơn La đang từng bước vươn mình trở thành trung tâm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở vùng Tây Bắc. Ở đó, công nghệ sinh học không chỉ thay đổi tập quán canh tác mà còn tạo nên một cuộc cách mạng thực sự, làm nên những “mùa vàng bội thu”, giúp hàng ngàn hộ nông dân thoát nghèo một cách bền vững.
Vùng nhãn Sông Mã
Từ nông nghiệp tự phát đến sản xuất hàng hóa công nghệ cao
Sơn La là một tỉnh miền núi có địa hình bị chia cắt mạnh, độ dốc lớn, giao thông khó khăn và khí hậu khắc nghiệt, thường xuyên chịu ảnh hưởng của rét đậm, hạn hán hoặc mưa đá. Trong suốt nhiều thập kỷ, sản xuất nông nghiệp tại địa phương chủ yếu mang tính tự cung tự cấp, dựa vào kinh nghiệm truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số. Các loại cây trồng phổ biến trước đây là ngô, sắn, lúa nương, với tập quán canh tác manh mún, phân tán và lạc hậu, đầu tư vật tư nông nghiệp thấp, hầu như không áp dụng kỹ thuật tiên tiến. Giống cây trồng chủ yếu là giống địa phương, năng suất thấp, dễ nhiễm sâu bệnh, chất lượng không đồng đều.
Do thiếu liên kết giữa sản xuất – chế biến – tiêu thụ sản phẩm, cộng với hạ tầng yếu và trình độ kỹ thuật hạn chế, khiến ngành nông nghiệp Sơn La từng một thời rơi vào thế bấp bênh: thu nhập thấp, chuỗi giá trị không hình thành, đời sống người dân còn nhiều khó khăn.
Với quyết tâm chuyển đổi mô hình tăng trưởng, tỉnh đã mạnh dạn vận động người dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đặc biệt là trồng cây ăn quả trên đất dốc, gắn với ứng dụng công nghệ sinh học trong nhân giống, bảo vệ thực vật và chế biến sau thu hoạch. Đây là bước ngoặt quan trọng trong hành trình tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững.
Chính sự kết hợp giữa chủ trương đúng đắn, tầm nhìn chiến lược của lãnh đạo tỉnh với khoa học công nghệ - đặc biệt là công nghệ sinh học, đã mở ra một hướng đi mới cho nông nghiệp Sơn La: từ sản xuất nhỏ lẻ sang hàng hóa, từ cây lương thực ngắn ngày sang cây ăn quả dài ngày có giá trị kinh tế cao; từ tự phát sang bài bản, chuyên nghiệp và từng bước bền vững. Hơn mười năm trở lại đây, trên địa bàn tỉnh đã hình thành các vùng sản xuất tập trung gắn với quy hoạch vùng nguyên liệu và thị trường tiêu thụ, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng cho nông sản.
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Sơn La, đến đầu năm 2025, toàn tỉnh có hơn 85.000 ha cây ăn quả, trong đó diện tích cho thu hoạch đạt khoảng 67.000 ha, sản lượng ước đạt trên 510.000 tấn. Các loại cây ăn quả chủ lực gồm xoài với hơn 19.800 ha, nhãn khoảng 6.500 ha và mận hậu trên 5.000 ha. Đáng chú ý, phần lớn diện tích này được áp dụng kỹ thuật nhân giống và chăm sóc bằng công nghệ sinh học. Tỉnh cũng đã xây dựng được hơn 205 mã số vùng trồng, với hơn 3.150 ha cây ăn quả đủ điều kiện xuất khẩu chính ngạch sang các thị trường như Trung Quốc, Úc, Nhật Bản, và EU. Riêng trong 4 tháng đầu năm 2024, Sơn La đã xuất khẩu hơn 32.000 tấn xoài, thu về gần 31,7 triệu USD.
Tại huyện Mai Sơn - một trong những vùng trồng xoài trọng điểm của tỉnh - việc ứng dụng giống xoài Đài Loan kết hợp kỹ thuật chăm sóc sinh học và hệ thống tưới nhỏ giọt đã giúp năng suất đạt tới 10 - 12 tấn/ha/năm. Nhờ đó, thu nhập bình quân từ xoài đạt trên 200 triệu đồng/ha, cao gấp nhiều lần so với trồng ngô, sắn trước kia.
Một trong những điểm sáng của nông nghiệp công nghệ cao tại Sơn La là HTX Nông nghiệp Mai Sơn, nơi mà người nông dân không chỉ “giỏi làm” mà còn “giỏi học”. Họ tiếp cận nhanh với công nghệ vi sinh, thiên địch và các chế phẩm sinh học để phòng trừ sâu bệnh thay thế cho thuốc hóa học. Nhờ đó, sản phẩm xoài và nhãn của HTX đạt chuẩn VietGAP, GlobalGAP, đủ điều kiện xuất khẩu.
Bên cạnh đó, DOVECO Sơn La - Trung tâm Chế biến rau quả là tổ hợp nhà máy chế biến nông sản hiện đại trực thuộc Công ty CP Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao - là một trong những doanh nghiệp hàng đầu của cả nước trong lĩnh vực sản xuất, chế biến và xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp đặc biệt là rau quả. Hiện có vùng nguyên liệu rộng hơn 1.436 ha, sản lượng hàng năm đạt trên 15.000 tấn rau quả, được chế biến và xuất khẩu sang thị trường châu Âu .
Công ty Phúc Sinh Sơn La đầu tư dây chuyền sản xuất trà Cascara từ vỏ cà phê với công suất 1 tấn/ngày, hướng tới tiêu thụ tại Italy và Pháp, mở ra hướng đi mới cho phát triển giá trị của cây cà phê bản địa.
Đáng chú ý, các HTX tại xã Phiêng Khoài (Yên Châu), tiêu biểu như HTX Nông sản Noọng Piêu, chuyên canh mận ứng dụng công nghệ cao trên diện tích 30,5 ha. HTX triển khai kỹ thuật tỉa cành, điều tiết trái, tưới tự động và đã xuất khẩu 10 tấn mận Ruby sang các nước EU như Anh, Pháp, Đức và Cộng hòa Séc với mức giá từ 70.000-120.000 đ/kg. Sản phẩm mận Ruby của HTX đạt OCOP 4 sao năm 2024.
Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có nhiều HTX điển hình khác như HTX Thành Cường (Chiềng Hặc) áp dụng chuẩn VietGAP cho nhãn và dâu tây; HTX Ngọc Lan (xã Hát Lót) chuyên canh xoài, bưởi da xanh với 60 ha, trong đó 8,2 ha áp dụng tưới nhỏ giọt và công nghệ tưới tiết kiệm; các HTX này cũng đã xây dựng mã QR truy xuất nguồn gốc, nâng cao giá trị và thương hiệu nông sản Sơn La.
Không chỉ trong lĩnh vực trồng trọt, công nghệ sinh học còn được ứng dụng hiệu quả trong chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản tại Sơn La. Một trong những mô hình tiêu biểu là dự án nuôi cá tầm bằng công nghệ sinh sản nhân tạo tại khu vực hồ thủy điện Sơn La. Từ một địa phương không có truyền thống nuôi loài cá nước lạnh, Sơn La đã từng bước làm chủ toàn bộ quy trình sản xuất giống, ươm nuôi và xuất bán cá tầm thương phẩm, nhờ sự hỗ trợ kỹ thuật từ các viện nghiên cứu và doanh nghiệp đầu tư công nghệ cao.
Việc ứng dụng công nghệ sinh học không chỉ giúp chủ động nguồn con giống chất lượng cao, phù hợp với điều kiện thủy văn đặc thù của lòng hồ thủy điện, mà còn kiểm soát tốt dịch bệnh, rút ngắn thời gian nuôi, tăng tỷ lệ sống và nâng cao giá trị kinh tế. Sản phẩm cá tầm Sơn La hiện đã có mặt trên thị trường Hà Nội và các tỉnh lân cận, được đánh giá cao về chất lượng thịt, mở ra hướng phát triển mới cho thủy sản vùng cao.
Cú hích từ quy hoạch và đầu tư bài bản
Hiện nay, toàn tỉnh đã công nhận 7 vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, gồm chè, cà phê, nhãn, na, xoài, mận và bò sữa. Mục tiêu đến năm 2025, Sơn La sẽ có ít nhất 20 vùng sản xuất công nghệ cao, từng bước hình thành Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao cấp vùng.
Bên cạnh đó, tỉnh cũng đã thành lập 4 trung tâm nghiên cứu và chuyển giao KH&CN, huy động nguồn vốn xã hội hóa để đầu tư hạ tầng, giống cây trồng, phân bón sinh học, công nghệ tưới tiết kiệm và tự động hóa sản xuất.
Những cơ chế mở - như hỗ trợ cấp mã số vùng trồng, đào tạo cán bộ kỹ thuật, tổ chức hội chợ, liên kết doanh nghiệp…- đã góp phần tạo dựng mối liên kết bền chặt giữa “bốn nhà”: Nhà nước - nhà khoa học - nhà doanh nghiệp - nhà nông.
Định hướng của tỉnh Sơn La trong giai đoạn tới là tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học trong chọn tạo giống, phát triển cây dược liệu bản địa, xây dựng thương hiệu nông sản, và chuyển đổi số trong quản lý nông nghiệp. Đồng thời, tỉnh sẽ tập trung vào các chuỗi giá trị có khả năng cạnh tranh cao như xoài, cà phê, bò sữa, chè hữu cơ, đưa nông nghiệp Sơn La “xanh hơn - cao hơn - xa hơn”.
Việc hình thành nền nông nghiệp sinh học bền vững, sạch, truy xuất được nguồn gốc, không chỉ là yêu cầu của thị trường mà còn là trách nhiệm với môi trường và thế hệ mai sau.
Từ một vùng đất núi non trùng điệp, quanh năm gió Lào khô cháy và mưa rừng dữ dội, Sơn La đã dần lột xác nhờ cách tiếp cận mới: ứng dụng công nghệ sinh học làm nền tảng cho tái cơ cấu nông nghiệp. Cuộc chuyển mình diễn ra một cách lặng lẽ nhưng vững chắc trong từng nông hộ, từng hợp tác xã, từng thửa đất - nơi người dân đã quen dần với những khái niệm tưởng chừng xa lạ như “tưới nhỏ giọt điều khiển từ xa”, “vi sinh đối kháng”, “giống nuôi cấy mô” hay “mã số vùng trồng quốc tế”.
Sơn La hôm nay không chỉ là tỉnh có diện tích cây ăn quả lớn nhất miền Bắc, mà còn đang vươn lên thành một trung tâm nông nghiệp công nghệ cao cấp vùng, nơi mà khoa học và thực tiễn sản xuất đã tìm được tiếng nói chung. Nơi mà “nhà khoa học” không chỉ làm việc trong phòng thí nghiệm mà còn đồng hành cùng “nhà nông” giữa những đồi xoài, triền cà phê, cánh đồng cỏ nuôi bò sữa.
Hơn cả một câu chuyện kinh tế, đó còn là hành trình đi tìm sự cân bằng giữa tăng trưởng và bền vững, giữa lợi nhuận và đạo lý môi sinh, giữa truyền thống canh tác và cách mạng công nghệ. Và phía sau những con số ấn tượng về sản lượng, kim ngạch xuất khẩu hay diện tích được số hóa, là một sự thật giản dị nhưng sâu sắc: người nông dân Sơn La đang thay đổi chính mình - từ người “gieo hạt” thành người “gieo hy vọng”, người kiến tạo tương lai cho một vùng đất.
Con đường phía trước vẫn còn nhiều thử thách: biến đổi khí hậu; thị trường toàn cầu nhiều biến động; yêu cầu khắt khe về truy xuất nguồn gốc và an toàn thực phẩm. Nhưng với nền tảng đã có, với chính sách nhất quán và sự nhập cuộc đầy trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, Sơn La hoàn toàn có thể tin vào một tương lai trên hành trình hiện đại hóa nông nghiệp.
Cuộc cách mạng công nghệ sinh học ở Sơn La không khởi đầu bằng tiếng súng, mà bằng tiếng máy bơm nhỏ giọt, tiếng ong bay giữa vườn cây sạch sâu bệnh, và ánh mắt rạng rỡ của người nông dân khi ký được hợp đồng xuất khẩu đầu tiên. Một cuộc cách mạng không ồn ào, nhưng sâu sắc, thiết thực và bền bỉ.
Và chính cuộc cách mạng âm thầm ấy đang dần viết nên chân dung mới cho nông nghiệp miền núi Tây Bắc, một nền nông nghiệp xanh hơn - cao hơn - xa hơn, bắt đầu từ những hạt giống sinh học hôm nay và hướng đến một hệ sinh thái nông nghiệp bền vững cho mai sau./.
Nguyễn Vũ Điền
Tài liệu tham khảo: Sở NN&PTNT Sơn La, Tổng cục Thống kê, Báo Nông nghiệp Việt Nam, Báo Sơn La, Báo Nhân Dân, và các báo cáo chuyên đề năm 2024–2025.
Ảnh+Logo: T.T.Đ