No title... No title... No title... No title...
image advertisement
image advertisement
Xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước
Lượt xem: 104

Xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước

Trong công cuộc đổi mới, Đảng ta đã có những quan điểm mới đối với trí thức mà Đại hội XI của Đảng vừa qua đã tiếp tục khẳng định và phát triển phù hợp với giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay.

Một là, trí thức là những người lao động trí óc - lực lượng lao động sáng tạo đặc biệt quan trọng.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa X của Đảng (2008) về xây dựng đội ngũ trí thức nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước xác định rõ: "Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội" và nhấn mạnh: "Trí thức Việt Nam là lực lượng lao động sáng tạo đặc biệt quan trọng trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước..."(1).

Quan điểm trên thực chất là định nghĩa về trí thức, nhấn mạnh đến góc độ phân công lao động xã hội của tầng lớp này. Qua đó, một mặt, cho thấy sự đặc thù cần quan tâm về lao động của trí thức; mặt khác, chỉ ra tầm quan trọng của lao động ấy trong hệ thống lao động xã hội nói chung. Đúng như trước đây, V.I.Lênin đã từng khái quát rằng: trí thức là "tầng lớp xã hội đặc biệt" (2). 

Người lao động nào trong quá trình làm việc cũng hao phí hai loại năng lượng: cơ bắp và thần kinh trung ương - não bộ, tủy sống... Người lao động sản xuất vật chất chủ yếu hao phí năng lượng cơ bắp, còn người lao động sản xuất tinh thần chủ yếu hao phí năng lượng tinh thần trung ương vì vận động tư duy cao. Do vậy, có thêm khái niệm của phân công lao động xã hội là: lao động chân tay và lao động trí óc. Ngày nay, trong điều kiện của cách mạng khoa học và công nghệ, xu hướng trí tuệ hóa lao động (trên tất cả các lĩnh vực) là một tất yếu. Vì thế, lao động của cá nhân, cũng như trên phạm vi xã hội, tỷ lệ hao phí năng lượng cơ bắp giảm, đòi hỏi trí lực nhiều hơn. Lao động trí óc và lao động chân tay xích lại gần nhau. 

Tính đặc thù và tầm quan trọng của trí thức được Đại hội XI của Đảng đặt trong khái niệm “nguồn nhân lực chất lượng cao”. Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao mà trí thức là bộ phận đặc trưng, được coi là một trong ba đột phá chiến lược phát triển đất nước. Văn kiện Đại hội ghi rõ: “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. Đặc biệt coi trọng phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia, quản trị doanh nghiệp giỏi, lao động lành nghề và cán bộ khoa học, công nghệ đầu đàn” (3).

Hai là, đội ngũ trí thức nước ta đóng góp to lớn và ngày càng tăng trên các lĩnh vực của công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Đây là quan điểm về vai trò của trí thức. C.Mác và Ph.Ăngghen khi đánh giá vai trò của trí thức, cho rằng, hoạt động của trí thức là sáng tạo tri thức khoa học. Các thành tựu có được ở các thời đại, trong đó có chủ nghĩa tư bản, là công lao của nhân dân lao động nói chung và những người trí thức nói riêng. Loài người luôn kính trọng và biết ơn những người trí thức chân chính đã để lại những phát kiến khoa học có giá trị. Còn Bác Hồ và Đảng ta khái quát một cách giản dị, rằng: Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc(4).
Nghị quyết Trung ương 7 khóa X của Đảng đã chỉ rõ: "Trong mọi thời đại, tri thức luôn là nền tảng tiến bộ xã hội, đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức. Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia trong chiến lược phát triển". Vì thế, để thực hiện “mục tiêu sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 đòi hỏi phải lựa chọn con đường phát triển rút ngắn, phát huy đến mức cao nhất mọi nguồn lực, tiềm năng trí tuệ của dân tộc, đặc biệt là năng lực sáng tạo của đội ngũ trí thức"(5). Trong công cuộc đổi mới, trí thức nước ta, cùng với các giai cấp và tầng lớp xã hội khác, với tư cách là người làm chủ xã hội, đã được chú trọng đào tạo, tăng nhanh về số lượng, nâng lên về chất lượng; góp phần trực tiếp cùng toàn dân đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, từng bước xóa đói, giảm nghèo, phát triển đất nước, nâng cao chất lượng cuộc sống. Đội ngũ trí thức đã đóng góp tích cực vào quá trình xây dựng những luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, góp phần làm sáng tỏ con đường phát triển của đất nước và giải đáp những vấn đề mới phát sinh trong sự nghiệp đổi mới; trực tiếp đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí và bồi dưỡng nhân tài; sáng tạo những công trình có giá trị về tư tưởng và nghệ thuật, nhiều sản phẩm chất lượng cao; từng bước nâng cao trình độ khoa học và công nghệ của đất nước, vươn lên tiếp cận với trình độ của khu vực và thế giới...

Ở Đại hội XI của Đảng, khi kiểm điểm 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội X, trong bối cảnh có nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn, Đảng ta cho rằng, toàn Đảng, toàn dân, trong đó có đội ngũ trí thức, đã nỗ lực phấn đấu đạt được những thành tựu quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu đề ta. Đồng thời, Đảng cũng ghi nhận thành tựu ở một số lĩnh vực mà trí thức là lực lượng nòng cốt: “Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ được đẩy mạnh, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội. Quản lý khoa học, công nghệ có đổi mới, thực hiện cơ chế tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp khoa học, công nghệ”(6)... Về vai trò của trí thức, Đại hội chỉ rõ: “Coi trọng vai trò tư vấn, phản biện, giám định xã hội của các cơ quan nghiên cứu khoa học trong việc hoạch định đường lối chính sách của Đảng, nhà nước và các dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội”(7).

Ba là, đội ngũ trí thức nước ta là một bộ phận trong khối liên minh với giai cấp công nhân với giai cấp nông dân, nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, động lực chủ yếu để phát triển đất nước.

Quan điểm này là sự vận dụng và phát triển lý luận Mác-Lênin về giai cấp và liên minh giai cấp, tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc, thực chất là xác định vị trí của đội ngũ trí thức trong cơ cấu giai cấp và cơ cấu xã hội Việt Nam.

Điều đáng lưu ý là, có thời kỳ, do nhiều lý do, trong đó có sai lầm "đốt cháy giai đoạn" phát triển mà nhiều nước xã hội chủ nghĩa trước đây, trong đó có Việt Nam, đã dùng biện pháp hành chính đơn giản hóa cơ cấu kinh tế và dẫn đến đơn giản hóa cơ cấu giai cấp-xã hội, đồng thời có phần coi nhẹ trí thức, mà chỉ nói nhiều đến liên minh công-nông.

Đến Đại hội VII của Đảng (1991), các văn kiện của Đảng ta đã khẳng định rõ khái niệm: "Liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức" là một đòi hỏi khách quan của thực tiễn. "Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội" (năm 1991) còn nhấn mạnh rằng, sự liên minh này là “nền tảng” để "xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa”(8).

Lúc ấy, chúng ta chưa sử dụng khái niệm “nhà nước pháp quyền”. Do vậy, Đại hội XI, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), trên cơ sở khẳng định quan điểm trên, đã bổ sung và làm nổi bật, đầy đủ hơn về bản chất Nhà nước ta cùng tầm quan trọng của liên minh công - nông-trí thức. “Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”(9).

Thực chất xây dựng liên minh công-nông-trí thức, cũng như tập hợp được toàn thể dân tộc là hình thành động lực quan trọng nhất của phát triển xã hội, tạo nên được sức mạnh tổng hợp, động viên được tối đa các nguồn lực (sức người, sức của) trong mọi tầng lớp nhân dân. Vì vậy, trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng ta xác định rõ: "Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội"(10). 

Khi nhìn lại 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội X, Đại hội XI đã đánh giá và biểu dương: "Khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng tiếp tục được mở rộng và tăng cường trên cơ sở thống nhất về mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”(11).

Bốn là, động viên, phát huy những mặt tích cực, ưu điểm và đồng thời sớm khắc phục các điểm hạn chế, yếu kém của trí thức nước ta để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.Trí thức nước ta xuất thân từ nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội, nhất là từ công nhân và nông dân. Phần lớn họ trưởng thành trong xã hội mới, được hình thành từ nhiều nguồn đào tạo ở trong và ngoài nước, với nhiều thế hệ nối tiếp nhau, trong đó kể cả bộ phận trí thức người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Đội ngũ trí thức nước ta luôn gắn bó với sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Với khả năng sáng tạo, trí thức nước ta đang rất cần những điều kiện tốt để hiện thực hóa các ý tưởng sáng tạo trong hoạt động chuyên môn của mình. 

Tuy nhiên, trước yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, đội ngũ trí thức nước ta còn bộc lộ nhiều hạn chế và yếu kém. Số lượng và chất lượng chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển đất nước. Cơ cấu đội ngũ trí thức có những mặt bất hợp lý về ngành nghề, độ tuổi, giới tính... Trí thức tinh hoa và hiền tài còn ít, chuyên gia đầu ngành còn thiếu nghiêm trọng, đội ngũ kế cận hẫng hụt; chưa có nhiều tập thể khoa học mạnh, có uy tín ở khu vực và quốc tế. Nhìn chung, hoạt động nghiên cứu khoa học chưa xuất phát và gắn bó mật thiết với thực tiễn sản xuất, kinh doanh và đời sống.

Đảng ta còn thẳng thắn chỉ rõ, một bộ phận trí thức kể cả người có trình độ học vấn cao, còn thiếu tự tin, e ngại, sợ bị quy kết về quan điểm, né tránh những vấn đề có liên quan đến chính trị. Một số giảm sút đạo đức nghề nghiệp, thiếu ý thức trách nhiệm và lòng tự trọng, có biểu hiện chạy theo bằng cấp, thiếu trung thực và tinh thần hợp tác. Một số trí thức không thường xuyên học hỏi, tìm tòi, trau dồi chuyên môn nghiệp vụ, thiếu chí khí và hoài bão. Nhiều trí thức trẻ có tâm trạng thiếu phấn khởi, chạy theo lợi ích trước mắt, thiếu ý chí phấn đấu vươn lên về chuyên môn (12)...  

Kế thừa và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến lược con người, trong công cuộc đổi mới, Đảng ta rất chú trọng đến nhân tố con người. Đại hội XI nêu rõ: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển”. Cho nên, để phát huy mặt mạnh, hạn chế mặt yếu kém của con người Việt Nam, trong đó có người trí thức, sự nghiệp giáo dục và đào tạo được coi là động lực phát triển đất nước, là quốc sách hàng đầu và đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển. Đại hội xác định: “Chăm lo xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân; có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi; sống có văn hóa, tình nghĩa; có tinh thần quốc tế chân chính”. Cụ thể hơn, đối với trí thức, Đảng ta yêu cầu: “Đào tạo, bồi dưỡng, phát huy mọi tiềm năng và sức sáng tạo của đội ngũ trí thức để tạo nguồn nhân lực trí tuệ và nhân tài cho đất nước”. Và riêng bậc giáo dục trực tiếp đào tạo ra trí thức (bậc đại học) thì phải: “Thực hiện đồng bộ các giải pháp để nâng cao chất lược giáo dục đại học, bảo đảm cơ chế tự chủ gắn với nâng cao trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo” (13).

Năm là, xây dựng trí thức nước ta là trách nhiệm chung của toàn xã hội, của cả hệ thống chính trị, trong đó trách nhiệm của Đảng và Nhà nước giữ vai trò quyết định, đồng thời đòi hỏi sự nỗ lực vươn lên của người trí thức.

Thực tế những năm đổi mới, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách để đội ngũ trí thức phát triển nhanh về số lượng và nâng lên về chất lượng, phát huy vai trò trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, đặc biệt là các nghị quyết chuyên đề về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa và văn nghệ, chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài... để tạo động lực thúc đẩy sự sáng tạo, cống hiến của đội ngũ trí thức. Nhà nước đã thực hiện các chính sách xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống đào tạo, nghiên cứu; đổi mới cơ chế quản lý, tăng cường đầu tư cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa và văn nghệ; các chính sách sử dụng và tạo môi trường phát huy vai trò của trí thức; chính sách đãi ngộ, tôn vinh trí thức, lập các giải thưởng quốc gia, phong tặng các chức danh khoa học và các danh hiệu cao quý; thu hút trí thức người Việt Nam ở nước ngoài...

Tuy vậy, công tác trí thức của Đảng và Nhà nước vẫn còn nhiều hạn chế, khuyết điểm. Nghị quyết Trung ương 7 khóa X thẳng thắn nhận định: đến nay vẫn chưa có chiến lược tổng thể về đội ngũ trí thức. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội chưa thể hiện đầy đủ quan điểm lấy khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo làm "quốc sách hàng đầu", chưa gắn với các giải pháp phát huy vai trò đội ngũ trí thức trên nhiều lĩnh vực. Nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác trí thức chậm đi vào cuộc sống; có nơi, có lúc thực hiện thiếu nghiêm túc. Một số chủ trương, chính sách không sát với thực tế; có chủ trương, chính sách đúng đắn nhưng thiếu những chế tài đủ mạnh đảm bảo cho việc thực hiện có kết quả. Nhìn chung, các chính sách đối với trí thức còn thiếu đồng bộ, còn nặng tính hành chính và dấu ấn của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, chậm đổi mới...

Sáu là, thực hành dân chủ, tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng; tạo môi trường và điều kiện thuận lợi; đánh giá đúng và đãi ngộ xứng đáng công lao của trí thức; trọng dụng nhân tài... 

Đó là những quan điểm mang tính giải pháp cơ bản nhất để xây dựng đội ngũ trí thức mà nhiều văn kiện của Đảng và Nhà nước ta đã nêu ra trong công cuộc đổi mới. 
Để thực hiện được quan điểm này, phải có một loạt những giải pháp cụ thể, trước hết cần đổi mới công tác cán bộ của Đảng và Nhà nước; quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý trong việc tiến cử và sử dụng cán bộ là trí thức; khắc phục tình trạng hành chính hóa, thiếu công khai, minh bạch trong các khâu tuyển dụng, bố trí, đánh giá và bổ nhiệm cán bộ quản lý; xây dựng và thực hiện cơ chế tạo điều kiện để trí thức phát triển bằng chính phẩm chất, tài năng và những kết quả cống hiến của mình cho đất nước...
Những quan điểm cũng như những giải pháp cơ bản đối với trí thức trong công cuộc đổi mới nêu trên đã được Đại hội XI của Đảng tiếp tục khẳng định, cô đọng: “Xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo. Trọng dụng trí thức trên cơ sở đánh giá đúng phẩm chất, năng lực và kết quả cống hiến. Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đãi ngộ xứng đáng những cống hiến của trí thức. Có chính sách đặc biệt đối với nhân tài của đất nước”(14)./.

Chú thích:
(1), (5), (12), ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị BCHTW lần thứ bảy khóa X, Nxb. CTQG, H, 2008, tr.81-82, 81, 85-86.
(2) V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. TB, M, 1979, t.8, tr.300.
(3), (6), (7), (9), (11), (14) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG, H, 2011, tr.130, 154, 242, 85, 158, 241-242.
(4) Đảng Lao động Việt Nam: Chính sách của Đảng Lao động Việt Nam đối với trí thức, Nxb. ST, H, 1958, tr.8.
(8) ĐCSVN: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Nxb. ST, H, 1991, tr.9.(10) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. CTQG, H, 2001, tr.86.
(13) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy BCHTW khóa X, Nxb. CTQG, H, 2008, tr.76-77, 80, 131.

Theo Tạp chí của Ban Tuyên giáo Trung ương

Thông tin doanh nghiệp
  • 7 trường hợp người sử dụng đất không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Bộ trưởng Bộ Công Thương nêu 3 chính sách khuyến khích phát triển điện mặt trời mái nhà
  • Công nghệ mô phỏng số DKS - giải pháp cho đào tạo nghề
  • Kết quả xếp hạng chỉ số đổi mới sáng tạo cấp đḷa phương năm 2023: Hà Nội dẫn đầu cả nước
  • Chỉ số Papi tỉnh Sơn La năm 2023 trong cả nước và vùng TD&MNPB
  • Chỉ số PAPI Sơn La đứng thứ 30/63 tỉnh, thành phố trong cả nước
  • Hạn chế thấp nhất trình trạng ô nhiễm nguồn nước
  • 10 mô hình doanh thu phổ biến nhất của khởi nghiệp
  • Bác Hồ luôn nhớ về xứ Huế
  • Khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo là động lực quan trọng phát triển nhanh và bền vững
  • Nhà sáng chế chiếc máy vì môi trường
  • Việt Nam là 1 trong 7 quốc gia thu nhập trung bình đạt được nhiều tiến bộ về đổi mới sáng tạo
  • “Hạnh phúc cho mọi người” nhân Ngày Quốc tế Hạnh phúc 20-3-2024
  • Hội thảo tư vấn Giải pháp nâng cao chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm trong các nhà hàng, khách sạn
  • AI cảnh báo thế hệ lừa đảo tài chính mới
  • Khối thi đua các Tổ chức Hội tỉnh Sơn La Tổng kết công tác thi đua khen thưởng năm 2023
  • ONE DX - Giải pháp chuyển đổi số cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
  • Xây dựng 04 luật sửa đổi về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2024
  • Chế độ xã hội chủ nghĩa đem lại sự giải phóng hoàn toàn cho người phụ nữ
  • Robot xếp bao tự động CDA RBGB - Một hướng đi cho ngành cơ khí chế tạo ​
Tiêu điểm
Xem & Nghe
  • Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng phát biểu tại Lễ trao giải Vinfuture 2023
  • Những Tỉnh Thành Nào Sẽ Bị Sáp Nhập?
  • Sổ Hộ Khẩu, Sổ Tạm Trú Sẽ Hết Giá Trị Sử Dụng Sau Ngày 31/12/2022 | TVPL
1 
Bình chọn
Làm thế nào bạn tìm thấy trang web này?
  • Bình chọn Xem kết quả
    Thống kê truy cập
    • Đang online: 22
    • Hôm nay: 361
    • Trong tuần: 22 508
    • Tất cả: 13972098
    Đăng nhập
     
    image banner
     TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ NỘI BỘ CỦA LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT TỈNH SƠN LA
    Địa chỉ: 56A Đường Lò Văn Giá, Tổ 3, Phường Chiềng Lề, Thành phố Sơn La, Tỉnh Sơn La
    Điện thoại: 02123.858.268/ 02123.755.068             Fax:02123.755.068            Email: lienhiephoisonla@gmail.com
    Ghi rõ nguồn "Susta.vn" hoặc "Liên hiệp hội Sơn La" khi phát hành lại thông tin từ website này