Một số giải pháp góp phần tăng cường văn hóa tự phê bình và phê bình trong Đảng trước tình hình mới
Một số giải pháp góp phần tăng cường văn hóa tự phê bình và phê bình trong Đảng trước tình hình mới
TS. Nguyễn Minh Đức - Chuyên viên cao cấp, Phó chủ tịch
Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Sơn La
Mở đầu
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến lĩnh vực văn hóa, Người cho rằng văn hóa đứng ngang hàng với các lĩnh vực hoạt động khác của xã hội: “Trong công cuộc kiến thiết nước nhà có bốn vấn đề cùng phải chú ý đến, cùng phải coi trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa”. Điều đó thể hiện văn hóa có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực cho sự phát triển và đặc biệt trong công tác xây dựng Đảng thì văn hóa còn là một trong những yếu tố cốt lõi để xây dựng Đảng luôn trong sạch, vững mạnh.
Để Đảng luôn là một tổ chức chính trị - xã hội đoàn kết, thống nhất, trong sạch thì vấn đề xây dựng và nhân rộng văn hóa phê bình và tự phê bình luôn phải được đặt lên hàng đầu, đó cũng là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong bất kỳ một Đảng bộ, chi bộ nào. Đây là một truyền thống tốt đẹp, có ý nghĩa chính trị, giúp Đảng sửa chữa, khắc phục những yếu kém, đồng thời nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng.
Trong bối cảnh đất nước đang đối mặt với nhiều thách thức, từ việc đổi mới tư duy lãnh đạo đến việc củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, việc tăng cường văn hóa phê bình và tự phê bình trong Đảng trở thành một yêu cầu cấp thiết. Chỉ khi nào mỗi đảng viên thực sự nhận thức nghiêm túc trong việc tự phê bình và tiếp nhận phê bình một cách cầu thị thì công tác xây dựng Đảng mới có thể đạt hiệu quả cao. Thực tiễn này càng trở nên quan trọng trong bối cảnh Đảng đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới, tập trung vào việc xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, cũng như kiên quyết chống lại những biểu hiện của sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng.
Bài viết này tác giả xin đi sâu phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác phê bình và tự phê bình trong Đảng; phân tích thực trạng và đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường văn hóa phê bình và tự phê bình trong Đảng, từ đó góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trước tình hình mới.
1. Cơ sở lý luận về văn hóa phê bình và tự phê bình trong Đảng
1.1. Tính cấp thiết của việc tăng cường văn hóa phê bình và tự phê bình trong Đảng
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Phê bình và tự phê bình là một trong những phương tiện quan trọng để giúp đỡ nhau tiến bộ, giữ gìn và phát huy sự trong sạch của Đảng”; vì thế, phê bình và tự phê bình luôn là một trong những phương thức quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, không chỉ giúp duy trì sự trong sạch của tổ chức Đảng mà còn tạo ra một môi trường làm việc minh bạch, dân chủ. Trong bối cảnh đất nước đang đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là những vấn đề về suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ đảng viên, việc tăng cường văn hóa phê bình và tự phê bình trở thành nhiệm vụ cấp bách.
Trước hết, việc thực hiện phê bình và tự phê bình có ý nghĩa rất quan trọng trong việc duy trì sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Khi các đảng viên có thể thẳng thắn nhìn nhận và góp ý với nhau về những mặt tích cực, hạn chế để giúp nhau sửa đổi những khuyết điểm, phát huy ưu điểm trong công tác và cả trong đời sống, tổ chức Đảng sẽ tránh được tình trạng trì trệ, lãng phí nguồn nhân lực. Ngoài ra, phê bình và tự phê bình còn giúp cải thiện chất lượng công tác lãnh đạo của Đảng, thúc đẩy sự sáng tạo và đổi mới trong các phương pháp lãnh đạo, quản lý, giúp Đảng ngày càng vững mạnh và hoàn thiện hơn.
Bên cạnh đó, việc tăng cường văn hóa phê bình và tự phê bình còn giúp xây dựng một nền tảng vững chắc trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Đặc biệt, trong những năm gần đây, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng đã đạt được những kết quả quan trọng, song để bảo đảm hiệu quả lâu dài, cần phải có một văn hóa phê bình mạnh mẽ. Sự tự giác phê bình và thái độ cầu thị của mỗi đảng viên sẽ giúp phát hiện kịp thời các sai sót, khuyết thiếu, từ đó có biện pháp khắc phục một cách nhanh chóng và hiệu quả.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng như hiện nay và đặc biệt là sự tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 thì Đảng Cộng sản Việt Nam càng cần phải đổi mới, nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng, đẩy mạnh hơn nữa công tác phê bình và tự phê bình, coi đó là quyền lợi và cũng là trách nhiệm gắn với từng cán bộ, đảng viên, có như vậy thì chúng ta mới thực hiện được những mục tiêu đã đặt ra, góp phần giữ vững nền tảng tư tưởng.
1.2. Vai trò và ý nghĩa của việc xây dựng văn hóa phê bình và tự phê bình trong Đảng
Việc xây dựng văn hóa phê bình và tự phê bình có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển bền vững của Đảng Cộng sản Việt Nam, đây không chỉ là một “cái gương” để tự soi rọi, nhìn nhận và cải thiện công tác lãnh đạo, mà còn là yếu tố nền tảng trong việc giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất chặt chẽ của Đảng, văn hóa phê bình và tự phê bình là cơ sở cho mỗi đảng viên tự nhận diện lại bản thân, từ đó phát hiện những gì còn yếu kém, chưa làm tốt, mà nói rộng hơn là sai phạm trong quá trình công tác sẽ có thể khắc phục kịp thời, mạnh dạn sửa chữa, để tránh để hậu quả đáng tiếc xảy ra.
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định việc xây dựng Đảng phải bắt đầu từ công tác tự chỉnh đốn, tự phê bình, tự soi rọi và đổi mới phương thức lãnh đạo, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Đây là cách để Đảng không chỉ tự làm gương trong xã hội mà còn đề ra những chủ trương, đường lối phù hợp và sát thực tế hơn, một trong những vai trò nổi bật của việc xây dựng văn hóa phê bình và tự phê bình là duy trì sự trong sạch của Đảng, đồng thời góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.
Thực tiễn cho thấy, khi Đảng thực hiện nghiêm túc phê bình và tự phê bình thì những yếu kém, khuyết điểm sẽ được phát hiện và xử lý kịp thời, việc phê bình và tự phê bình không chỉ được thực hiện trong các kỳ sinh hoạt Đảng mà còn được lồng ghép vào mọi hoạt động, giúp phát hiện nhiều sai sót, vi phạm, từ đó có các biện pháp khắc phục, sửa chữa nhanh chóng và hiệu quả hơn, tạo được niềm tin của Nhân dân với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
Văn hóa phê bình và tự phê bình không chỉ đóng vai trò trong việc duy trì sự trong sạch của Đảng mà còn có tác dụng nâng cao phẩm chất đạo đức và tư tưởng của mỗi đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói rằng phê bình và tự phê bình là một trong những phương tiện quan trọng để giúp đỡ nhau tiến bộ, giữ gìn và phát huy sự trong sạch của Đảng, điều đó cho thấy khi đảng viên biết tự phê bình, tích cực sửa đổi thì họ sẽ ngày càng hoàn thiện hơn trong công việc và trong tư cách người đảng viên.
Ngoài ra, văn hóa phê bình và tự phê bình còn tạo ra một môi trường làm việc dân chủ, chia sẻ, khuyến khích sự sáng tạo, đổi mới trong Đảng, các cán bộ, đảng viên sẽ không e ngại, nể nang mà mạnh dạn bày tỏ ý kiến cá nhân của mình, góp ý mang tính chất xây dựng để tổ chức Đảng ngày càng trở nên vững mạnh hơn, điều này cũng thể hiện sự linh hoạt và khả năng thích ứng của Đảng trong việc đối phó với những thách thức mới.
2. Thực trạng văn hóa phê bình và tự phê bình trong Đảng trước tình hình mới
2.1. Những kết quả đạt được
Việc triển khai văn hóa phê bình và tự phê bình trong Đảng đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần nâng cao chất lượng công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Các kết quả này thể hiện rõ trong việc cải thiện nhận thức, nâng cao năng lực lãnh đạo của các cấp ủy, đồng thời giúp phát hiện và khắc phục kịp thời các yếu kém, khuyết điểm trong công tác của các đảng viên.
Thứ nhất, các cấp ủy, tổ chức Đảng đã thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát, làm rõ trách nhiệm của từng đảng viên trong các lĩnh vực công tác. Trong những năm qua, các kỳ sinh hoạt đảng đã được tổ chức nghiêm túc, với sự tham gia của tất cả các đảng viên, tạo ra một không khí dân chủ, công khai trong việc thảo luận và phê bình, điều đó không chỉ giúp các đảng viên nhận thức rõ hơn về trách nhiệm của mình đối với Đảng và nhân dân.
Thứ hai, qua việc thực hiện văn hóa phê bình và tự phê bình, nhiều trường hợp đảng viên vi phạm đã được phát hiện sớm, từ đó có những biện pháp xử lý kịp thời, đơn cử là trong công tác phòng, chống tham nhũng, nhiều cán bộ, đảng viên đã tự giác nhận những thiếu sót của mình trong quản lý, thậm chí nhiều cán bộ đã mạnh dạn xin nghỉ, xin từ chức, giúp ngăn chặn và xử lý các vụ việc tham nhũng, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí tiêu cực trong Đảng.
Thứ ba, các tổ chức cơ sở Đảng, các chi bộ ở địa phương, nhất là những Đảng bộ đã thực hiện việc phê bình và tự phê bình một cách nghiêm túc, góp phần củng cố mối quan hệ giữa Đảng và Nhân dân. Khi các đảng viên thể hiện sự trong sạch, minh bạch và dám phê bình những sai sót của mình, thì họ đã tạo niềm tin đối với quần chúng nhân dân, điều này không chỉ củng cố uy tín của Đảng mà còn tăng cường sức mạnh đoàn kết, xây dựng một khối thống nhất ý chí của toàn dân tộc.
Thứ tư, văn hóa phê bình và tự phê bình đã giúp nâng cao phẩm chất đạo đức của các đảng viên,việc tự phê bình không chỉ là để nhận lỗi mà còn là cách để mỗi đảng viên tự tu dưỡng, rèn luyện, nhìn nhận lại những việc mình làm chưa tốt, để tự điều chỉnh hành vi và tư tưởng, từ đó nâng cao đạo đức cách mạng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, giữ vững phẩm chất người đảng viên cộng sản.
2.2. Những hạn chế, tồn tại
Ngoài những kết quả đạt được thì vẫn còn nhiều mặt hạn chế, tồn tại mà cần được khắc phục trong thời gian tới:
Một là, nhiều nơi vẫn còn gặp khó khăn trong việc triển khai văn hóa phê bình và tự phê bình, đặc biệt là trong việc xử lý các sai phạm. Một số đảng viên vẫn còn né tránh, nể nang hoặc ngại phê bình vì lo ngại tác động đến mối quan hệ cá nhân hoặc không đủ dũng cảm để nhận và sửa chữa khuyết điểm của mình, khiến sai phạm càng trở nên nghiêm trọng.
Hai là, tình trạng “dĩ hòa vi quý” vẫn còn diễn ra, cấp dưới không dám phê bình cấp trên; lợi dụng tự phê bình và phê bình để trù dập nhau, gây mất đoàn kết nội bộ. Đó là những biểu hiện suy thoái nếu không phát hiện, chấn chỉnh kịp thời thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tổ chức đảng, chất lượng cán bộ, đảng viên.
Ba là, công tác tự phê bình và phê bình chủ yếu được thực hiện vào dịp kiểm điểm cuối năm, chưa trở thành việc thường xuyên; các tổ chức chính trị - xã hội tham gia góp ý cho các cấp ủy còn hạn chế; một số đảng viên thì ít phát biểu ý kiến trong sinh hoạt chi bộ, chưa tự giác nhìn nhận, việc phát biểu ý kiến chỉ tập trung vào đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, đảng viên lớn tuổi, còn một số đảng viên trẻ rất ít phát biểu trong các kỳ sinh hoạt chi bộ.
Bốn là, nhiều cán bộ, đảng viên chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng văn hóa phê bình và tự phê bình, còn tư tưởng coi đó là hình thức, để sinh hoạt cho xong, qua loa, hời hợt, đôi khi khi nhận góp ý của đồng chí, đồng nghiệp thì bày tỏ thái độ không cầu thị, hợp tác, làm ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của chi bộ.
Năm là, có trường hợp lạm dụng chức vụ, quyền hạn để cản trở, trù dập người đấu tranh phê bình, góp ý trái với ý kiến mình, khiến cho nhiều đảng viên không dám chỉ ra sai sót của họ. Hiện tượng bao che cho nhau, “ô dù, vây cánh”, đoàn kết một chiều cũng làm suy yếu sức chiến đấu của các tổ chức Đảng.
Sáu là, ý thức tổ chức kỷ luật kém đã gây tổn hại đến sự thống nhất trong Đảng, một số tổ chức đảng ở cơ sở không chấp hành nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ trong xem xét, xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm, các thành viên chưa phát huy hết tinh thần trách nhiệm trong việc phê bình, chưa tập trung phân tích, làm rõ nội dung, tính chất, mức độ và nguyên nhân dẫn đến vi phạm của cán bộ, đảng viên nên đề xuất hình thức kỷ luật chưa tương xứng với lỗi vi phạm.
2.3. Nguyên nhân của hạn chế, tồn tại
Thứ nhất, nhận thức của đảng viên đối với văn hóa phê bình và tự phê bình chưa được đầy đủ, vì nhận thức chưa đầy đủ nên các đảng viên chưa dũng cảm, mạnh dạn trong việc thừa nhận khuyết điểm và dẫn tới ngần ngại phê bình sai sót của đồng chí mình, việc đó làm cho công tác thực hiện phê bình và tự phê bình gặp nhiều khó khăn.
Thứ hai, công tác xây dựng văn hóa phê bình và tự phê bình trong Đảng còn chịu ảnh hưởng từ các yếu tố bên ngoài, như môi trường xã hội, chính trị và văn hóa dân sự. Trong một xã hội cởi mở, nơi mà các ý kiến và quan điểm cá nhân được tôn trọng, đảng viên sẽ có động lực hơn để phê bình và tự phê bình. Ngược lại, trong môi trường xã hội mà sự phân biệt và bất đồng được kìm nén, đảng viên có thể cảm thấy khó khăn trong việc thảo luận thẳng thắn và chỉ ra thiếu sót.
Thứ ba, sự ảnh hưởng của thông tin và truyền thông đại chúng cũng có tác động đáng kể. Trong bối cảnh hiện nay, khi mà cuộc cách mạng công nghệ thông tin đang bùng nổ mạnh mẽ thì thông tin được truyền tải qua nhiều kênh như báo chí, mạng xã hội, truyền hình… đảng viên sẽ bị ảnh hưởng bởi các thông tin này trong quá trình phê bình và tự phê bình. Việc truyền thông về những thành tựu và khuyết điểm của Đảng cần được thực hiện một cách minh bạch và có trách nhiệm để không làm suy giảm niềm tin của đảng viên vào công tác phê bình.
Thứ tư, mối quan hệ giữa các cấp lãnh đạo và cấp dưới cũng là yếu tố quyết định đến văn hóa phê bình và tự phê bình. Nếu các cấp lãnh đạo Đảng thực sự nghiêm túc trong việc xây dựng văn hóa phê bình và tự phê bình, họ sẽ làm gương trong việc thừa nhận và sửa chữa khuyết điểm, tạo ra một môi trường để đảng viên có thể dễ dàng thực hiện phê bình. Mặt khác, nếu lãnh đạo thiếu gương mẫu, đảng viên sẽ ngần ngại, không muốn tự phê bình hoặc phê bình đồng chí mình vì sợ gặp phải sự phản đối hoặc chịu thiệt thòi.
Thứ năm, sự lãnh đạo của các tổ chức Đảng trong việc hướng dẫn và tổ chức hoạt động phê bình và tự phê bình cũng rất quan trọng. Các tổ chức này cần có vai trò hướng dẫn, hỗ trợ đảng viên trong quá trình thực hiện, đảm bảo rằng hoạt động này diễn ra trong môi trường dân chủ và không có sự áp đặt.
Cuối cùng, các mối quan hệ xã hội và sự nhận thức trách nhiệm của đảng viên với cộng đồng cũng là một yếu tố tác động đến văn hóa phê bình và tự phê bình. Khi đảng viên hiểu rõ về vai trò của mình trong cộng đồng và nhận thức được tầm quan trọng của việc duy trì hình ảnh trong sạch, gương mẫu của Đảng, họ sẽ chủ động hơn trong việc tự phê bình và phê bình, nhằm bảo vệ uy tín của Đảng và hoàn thiện bản thân.
3. Đề xuất một số giải pháp tăng cường văn hóa phê bình và tự phê bình trong Đảng trước tình hình mới
Một là, xây dựng và hoàn thiện cơ chế thực hiện phê bình và tự phê bình, việc xây dựng và hoàn thiện một cơ chế thực hiện phê bình và tự phê bình phải rõ ràng, công khai và cụ thể là yếu tố then chốt. Cơ chế này không chỉ đảm bảo tính chính thức trong quy trình thực hiện phê bình mà còn góp phần quan trọng vào việc xây dựng môi trường làm việc dân chủ, cởi mở và trung thực trong Đảng.
Hai là, gắn kết giữa phê bình và tự phê bình với công tác xây dựng Đảng. Việc phê bình không chỉ giúp làm rõ sai sót của các cá nhân, mà còn là một công cụ hữu hiệu để củng cố, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, từ đó góp phần xây dựng Đảng vững mạnh cả về đạo đức lẫn năng lực lãnh đạo.
Ba là, phát huy vai trò gương mẫu của người đứng đầu. Người đứng đầu ở các cấp trong Đảng phải luôn thể hiện tinh thần tự phê bình, thừa nhận khuyết điểm và làm gương cho cấp dưới trong việc thực hiện văn hóa phê bình. Cấp lãnh đạo nếu gương mẫu và dũng cảm trong việc phê bình và tự phê bình sẽ tạo động lực mạnh mẽ cho đảng viên.
Bốn là, thực hiện giám sát và phản biện hiệu quả. Việc phê bình và tự phê bình cần được thực hiện thường xuyên và có hệ thống, không chỉ dừng lại ở những buổi sinh hoạt Đảng mà cần thực hiện nghiêm công tác giám sát, phản biện để đảm bảo rằng mọi nhận xét và ý kiến được tiếp nhận và xử lý nghiêm túc, kịp thời.
Năm là, kết hợp chặt chẽ giữa việc phê bình và biểu dương, khen thưởng. Việc thực hiện phê bình phải đi đôi với việc khuyến khích, tôn vinh những đảng viên có thành tích tốt, làm gương mẫu trong công tác, đồng thời kịp thời phát hiện và khắc phục các yếu kém, phê bình với những cá nhân sai sót, khuyết thiếu nhưng với cá nhân hoàn thành tốt nhiệm vụ thì cần khen thưởng, nêu gương kịp thời, mới động viên, khuyến khích như vậy thì đảng viên mới có động lực để tự giác phê và tự phê.
Sáu là, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục về văn hóa phê bình và tự phê bình. Việc tuyên truyền không chỉ giúp đảng viên hiểu rõ về tầm quan trọng của phê bình và tự phê bình mà còn tạo ra một phong trào, một khí thế thi đua trong toàn Đảng. Tuyên truyền về những tấm gương điển hình, những câu chuyện thành công trong việc thực hiện văn hóa phê bình sẽ góp phần tạo động lực, khích lệ mỗi cá nhân tự nỗ lực, phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện và nhận thức rõ hơn về trách nhiệm của mình, tự giác hơn trong việc tham gia vào quá trình này.
Bảy là, nâng cao tính công khai và minh bạch trong cơ chế thực hiện phê bình. Để tạo ra sự tin tưởng và khuyến khích sự tham gia của tất cả các đảng viên, cơ chế phê bình và tự phê bình cần phải công khai và minh bạch. Mỗi đảng viên đều có quyền và nghĩa vụ tham gia vào quá trình này, và kết quả phê bình cần được công khai trong nội bộ Đảng, điều này sẽ tạo ra một môi trường không có sự che đậy, mà thay vào đó là sự tôn trọng và cầu thị, giúp mọi người hiểu rõ vấn đề và hướng đến sửa chữa, đổi mới. Việc công khai kết quả phê bình cũng sẽ thúc đẩy trách nhiệm giải trình trong Đảng, đảm bảo rằng những sai phạm hoặc thiếu sót được chỉ ra và khắc phục một cách hiệu quả.
Tám là, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng về văn hóa phê bình và tự phê bình. Đây không chỉ là một nhiệm vụ của công tác xây dựng Đảng mà còn là yếu tố then chốt giúp hình thành một môi trường sinh hoạt Đảng trong sạch, vững mạnh. Thực hiện văn hóa phê bình và tự phê bình không chỉ đơn thuần là việc đưa ra các nhận xét, góp ý mà còn bao gồm việc phát triển những kỹ năng giao tiếp và phản hồi một cách mang tính xây dựng, vì vậy, việc đào tạo và bồi dưỡng các kỹ năng này là vô cùng quan trọng trước những yêu cầu mới.
Kết luận
Văn hóa phê bình và tự phê bình trong Đảng là một yếu tố quan trọng giúp duy trì sự trong sạch, vững mạnh của Đảng. Đặc biệt, khi xã hội ngày càng phát triển và có nhiều thay đổi, việc phát huy văn hóa phê bình và tự phê bình trở thành một yêu cầu cấp thiết đối với công tác xây dựng Đảng. Qua phân tích, có thể nhận thấy rằng văn hóa này không chỉ là một công cụ giúp mỗi đảng viên tự hoàn thiện bản thân, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ Đảng khỏi những yếu tố tiêu cực, củng cố niềm tin của nhân dân và giữ vững uy tín của Đảng.
Trước bối cảnh Đảng và Nhà nước ta luôn đặt mục tiêu hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng lên hàng đầu thì công tác xây dựng Đảng càng phải đối mặt với nhiều vấn đề mới, trong đó có việc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và bảo vệ những giá trị đạo đức của Đảng. Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả cao, cần phải xây dựng và hoàn thiện các cơ chế thực hiện phê bình và tự phê bình, để từ đó nâng cao hiệu quả công tác xây dựng Đảng. Việc phát triển và củng cố văn hóa phê bình và tự phê bình trong Đảng là nhiệm vụ không thể thiếu trong công cuộc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Chính vì vậy cần tập trung triển khai một cách thiết thực và đồng bộ các giải pháp trên đây để góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên và bảo vệ những giá trị nền tảng của Đảng trước tình hình mới.
Tài liệu tham khảo
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011.
3. Hoa Lê: Văn hóa phê bình, bài đăng Tạp chí Cộng sản, ngày 24/10/2023.
4. Vương Trần: Xây dựng văn hóa Đảng trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bài đăng trên báo Lao động, ngày 27/8/2024.
5. TS. Nguyễn Tri Thức: Thực hành tự phê bình và phê bình chính là việc «vì Đảng, vì dân tộc, vì giai cấp, vì chủ nghĩa cộng sản», bài đăng Tạp chí Cộng sản, ngày 13/8/2024.
6. TS. Nguyễn Thành Trung: Xây dựng nền nếp văn hóa phê bình tích cực, bài đăng báo Quân đội nhân dân, ngày 01/9/2024.