Nghiên cứu → Giáo dục - Đào tạo

Vấn đề tiêu chí thu nhập trong xây dựng Nông thôn mới


 

 

 

Vấn đề tiêu chí thu nhập trong xây dựng Nông thôn mới
 
Tiêu chí thu nhập xã Nông thôn mới (NTM) là tiêu chí quan trọng hàng đầu, nhưng cũng là tiêu chí khó đạt nhất trong 19 tiêu chí xã NTM. Qua 10 năm (2010-2020) xây dựng NTM, có 13  tiêu chí về quy hoạch, cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội, kinh tế và tổ chức sản xuất, hệ thống chính trị đều đạt cao, từ 80%-100%, còn 6 tiêu chí đạt dưới 70% là đường giao thông nông thôn, trường học, cơ sở vật chất văn hóa, tỷ lệ hộ nghèo, thu nhập, môi trường. 
Thu nhập ở đây là thu nhập bình quân đầu người/năm của xã thuộc khu vực nông thôn, từ trẻ em đến người già, trong độ tuổi và ngoài độ tuổi lao động. Bao gồm người thường trú trên địa bàn xã là nông dân, công nhân, thương mại, dịch vụ, nghề tự do, cán bộ, công chức, viên chức, công an, bộ đội. Còn nguồn thu nhập của dân cư toàn xã bao gồm từ nghề nông và các ngành nghề khác, lương, tiền hưu, trợ cấp xã hội, quà tặng, nguồn ngoài xã (Người của xã đi làm ăn nơi khác, đi xuất khẩu lao động... ) gửi về. Như vậy, muốn biết thu nhập bình quân đầu người/năm của xã thì phải được thu thập, thống kê, tính toán theo hướng dẫn của ngành thống kê và được ngành thống kê địa phương thẩm định. Mức độ chính xác phụ thuộc vào sự tự giác khai báo của từng hộ gia đình, kết hợp với khảo sát, thống kê của cán bộ nghiệp vụ, phụ thuộc vào sự trung thực khách quan, sự tác tác động của bệnh thành tích từ phía cấp có thẩm quyền.
Mức độ phát triển kinh tế xã hội cũng như thu nhập chung và thu nhập khu vực nông thôn của từng vùng khác nhau. Xã NTM là xã có thu nhập cao hơn thu nhập chung của khu vực nông thôn của vùng. Tiêu chí thu nhập của xã NTM của từng vùng đã ba lần thay đổi.

Một bản thuộc Xã Chiềng Ban, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La

 

Bảng 1. Tiêu chí thu nhập xã NTM  qua các giai đoạn

Tiêu chí Thu nhập
(Tiêu chí số 10)
Chỉ tiêu chung
Chỉ tiêu theo vùng
TD
MN
PB
ĐB sông Hồng
Bắc Trung Bộ
Duyên hải Nam T. Bộ
Tây Nguyên
Đông Nam bộ
ĐB sông Cửu Long
I. Giai đoạn 2010-2015
TN so với mức bình quân chung của vùng
1,4
lần
1,2
lần
lần
lần
1,4
lần
lần
lần
1,3
lần
II. Giai đoạn 2016-2020
Năm 2020 (Tr.đ)
45
36
50
36
41
41
59
≥50
III. Giai đoạn 2021-2025 (Tr.đ)
2021
≥ 46
≥37
≥ 51
≥ 37
≥ 42
≥ 42
≥ 61
≥ 51
2022
≥ 49
≥ 40
≥ 55
≥ 40
≥ 45
≥ 45
≥ 65
≥ 55
2023
≥ 53
≥ 43
≥ 59
≥ 43
≥ 48
≥ 48
≥ 69
 ≥ 59
2024
≥ 56
≥ 46
≥ 63
≥ 46
≥ 51
≥ 51
≥ 74
≥ 63
2025
≥ 60
≥ 49
≥ 67
≥ 49
≥ 54
≥ 54
≥ 79
≥ 67
            Nguồn: Quyết định số 491/2009/QĐ-TTg, số 180/2016/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về Bộ tiêu chí quốc gia về NTM giai đoạn 2010-2015 và giai đoạn 2016-2020. Dự thảo của Ban Chỉ đạo quốc gia, Bộ NN&PTNT về Bộ tiêu chí xã NTM giai đoạn 2021-2025.
          Giai đoạn đầu 2010-2015, cách định ra tiêu chí thu nhập xã NTM là tương đối phù hợp. Nhưng sau đó, sự thay đổi (Gấp số lần so với mức bình quân của vùng) với sắc thái rất đáng chú ý. Giảm chung cả nước và ở các vùng phát triển, tăng ở các vùng kém phát triển hơn.

Bảng 2. Sự thay đổi hệ số tiêu chí xã NTM của các vùng

Tiêu chí Thu nhập
(Tiêu chí số 10)
Chỉ tiêu chung
Chỉ tiêu theo vùng
TD
MN
PB
ĐB sông Hồng
Bắc Trung Bộ
Duyên hải Nam T. Bộ
Tây Nguyên
Đông Nam bộ
ĐBsông Cửu Long
Hệ số mức tăng (Số lần) so với thu nhập bình quân khu vực nông thôn của từng vùng
2010-2015
1,4
 
1,2
 
1,5
 
1,4
 
1,4
 
1,3
 
1,5
 
1,3
 
2016-2020
1,1
1,33
1,05
1,1
1,2
1,20
1,05
1,45
Dự kiến 2021-2025
Tiêu chí 2021/thu nhập thực tế 2020
1,09
1,37
1,04
1,15
1,20
1,20
1,30
1,20
Tiêu chí 2025/thu
nhập tực tế 2020
1,42
1,81
1,36
1,50
1,60
1,64
1,50
1,56
            Nguồn: Tổng cục thống kê (gso.gov.vn) và Tiêu chí nông thôn mới.
Cách định ra tiêu chí thu nhập(Theo hệ số) của xã NTM trong giai đoạn đầu (2010-2015), là tương đối phù hợp. Nhưng hạn chế của cách tính theo hệ số là phụ thuộc vào thu nhập bình quân của khu vực nông thôn từng vùng thường có độ trễ. Giai đoạn 2015-2020, tiêu chí thu nhập được thay đổi, đặt ra cho năm cuối (2020), các tính tự tính ngược lại cho các năm với các mức khác nhau, tuy là cùng một vùng, nên ảnh hưởng không nhỏ đến tỷ lệ xã đạt chuẩn NTM của từng năm. Giai đoạn 2021-2025, Trung ương trực tiếp quy định mức cụ thể cho từng năm là hợp lý. Vấn đề là, thu nhập bình quân của cả nước (Cả hai giai đoạn) chỉ gấp 1,06 lần mức thu nhập cùng năm của khu vực nông thôn. Các vùng khác từ 1,04 -1,3 lần, cao nhất là vùng TD&MNPB gấp gần 1,4 lần. Nhiều tỉnh trong vùng như Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Hà Giang gấp 1,8-2 lần. Giai đoạn 2015-2020 đã qua. Vấn đề đặt ra là nên nghiên cứu xác định tiêu chí thu nhập xã NTM giai đoạn 2021-2025 sát hơn theo mức thu nhập khu vực nông thôn của từng vùng.
Tình hình thay đổi hệ số tiêu chí thu nhập từng vùng như trên là một trong những nguyên nhân làm cho tỷ lệ xã đạt chuẩn NTM giữa các vùng càng thêm sâu sắc. Đến hết năm 2020, tỷ lệ xã NTM vùng Đồng bằng sông Hồng là 95,1%, vùng Đông Nam bộ 79%, vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung 69%, Vùng Đồng bằng sông Cửu Long 56,8%, Vùng Tây Nguyên 45,4%, vùng TD&MNPB 36,4%. So với mặt bằng chung cả nước và vùng TD&MNPB thì kết quả xây dựng NTM của Sơn La còn khiêm tốn. Tỷ lệ xã NTM mới đạt 26%, trong khi vùng là 36,4%, cả nước là 61,8%, đứng thứ 10 trong vùng và thứ 59 cả nước.
Mục tiêu cả nước phấn đấu đến 2025 đạt 80% xã NTM, trong đó có ít nhất 30% xã NTM nâng cao, 10% xã NTM kiểu mẫu. Các vùng : Đồng bằng sông Hồng 99%, Đông Nam bộ 95%, Bắc Trung bộ 87%, Duyên hải Nam trung bộ, Đồng bằng sông Cửu long 80%, Tây Nguyên 68%, TD&MNPB 60%. Nếu tiêu chí thu nhập  xã NTM giai đoạn 2021-2025 được hoàn thiện sát hơn theo mức thu nhập khu vực nông thôn của từng vùng, thì khả năng kết quả trên ít nhiều sẽ thay đổi.
 
2. Tiêu chí  thu nhập xã NTM nâng cao, xã NTM kiểu mẫu
Tiêu chí Thu nhập
(Tiêu chí số 10)
Chỉ tiêu chung
Chỉ tiêu theo vùng
TD
MN
PB
ĐB sông Hồng
Bắc Trung Bộ
Duyên hải Nam T. Bộ
Tây Nguyên
Đông Nam bộ
ĐB sông Cửu Long
I. Giai đoạn 2010-2015: Chưa có.
II. Giai đoạn 2016-2020
1. Xã NTM nâng cao
Gấp ≥ 1,2 lần tiêu chí thu nhập tại thời điểm công nhận xã NTM
2. Xã NTM kiểu mẫu
Gấp ≥ 1,5 lần tiêu chí thu nhập tại thời điểm công nhận xã NTM
III. Giai đoạn 2021-2025 (Tr.đ)
 1. Xã NTM nâng cao (Tr.đ)                 
2021
≥ 55
≥ 44
≥ 61
44
≥ 50
≥ 50
≥ 73
≥ 61
2022
≥ 59
≥ 48
≥ 66
≥ 48
≥ 54
≥ 54
≥ 78
≥ 66
2023
≥ 64
≥ 52
≥ 71
≥ 52
≥ 58
≥ 58
≥ 83
≥ 71
2024
≥ 68
≥ 55
≥ 76
≥ 55
≥ 61
≥ 61
≥ 89
≥ 76
2025
≥ 72
≥ 59
≥ 80
≥ 59
≥ 65
≥ 65
≥ 95
≥ 80
2. Xã NTM kiểu mẫu
Các tỉnh quy định phổ biến gấp 1,5 lần so với thời điểm công nhận xã NTM
Nguồn:Công văn số 521/VPCP-NN ngày 15/01/2018 của Văn phòng Chính phủ về việc ban hành nội dung trọng tâm xây dựng xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, điều kiện, tiêu chí xét, công nhận xã nông thôn mới kiểu mu giai đoạn 2018-2020, định hướng chỉ đạo xây dựng tiêu chí huyện nông thôn mới kiểu mẫu. Công văn 1445/BNN-VPĐP ngày 08/2/2018 của Bộ NN&PTNT hướng dẫn xây dựng và công nhận xã NTM nâng cao. Quyết định số Số: 691/QĐ-TTg ngày 05 tháng 6 năm 2018 về tiêu chí xã NTM kiểu mẫu
Xã NTM nâng cao và xã NTM kiểu mẫu là ý tưởng, sáng kiến xuất phát từ thực tiễn xây dựng NTM của các địa phương trong giai đoạn 2015-2020. Giai đoạn này, các địa phương vận dụng cụ thể hóa chỉ tiêu thu nhập xã NTM năm cuối (2020) gấp trên dưới 2 lần năm đầu (2016). Trong khi thu nhập xã NTM nâng cao (NTMNC)  theo vận dụng của các địa phương chỉ gấp 1,2 lần, xã NTM kiểu mẫu (NTMKM) gấp 1,5 lần, lại so với thời điểm xã đạt chuẩn NTM. Đúng ra là so với năm đánh giá, chứ không phải năm công nhận xã NTM. Nên đã xảy ra “sự cố” các trường hợp xã đạt chuẩn NTM năm trước, đến thời điểm năm 2020, thu nhập xã NTMNC lại không bằng xã NTM bình thường. Có tỉnh đã phát hiện ra và đã chủ động điều chỉnh. Ví dụ, Tỉnh Sơn La điều chỉnh, thu nhập xã NTMNC gấp 2 lần thu nhập của xã NTM năm 2015. So với năm 2016, gấp 1,7 lần, năm 2017 gấp 1,5 lần.
Theo phương án Ban Chỉ đạo Quốc gia đang lấy ý kiến cho giai đoạn 2021-2025, thu nhập xã NTMNC được tính cụ thể theo từng năm cho từng vùng. Tính ra thu nhập của xã NTMNC cũng gấp trên dưới 1,2 lần thu nhập của xã NTM như cũ. Định ra hệ số chung gấp 1,2 lần cho tất cả các vùng như cũ đơn giản hơn, vấn đề là so với thời điểm đánh giá, chứ không so với năm công nhận xã NTM.
Còn xã NTMKM thì giai đoạn 2016-2020 Trung ương trực tiếp quy định hệ số chung gấp 1,5 lần, giai đoạn mới đã giao cho các địa phương tự quy định và nhiều tỉnh đã có quy định. Theo đó, thu nhập của xã NTMKM cũng gấp ≥ 1,5 lần xã NTM. Vấn đề là các tỉnh lại vẫn so với thời điểm công nhận xã NTM. Cho nên “sự cố” vẫn có thể xảy ra với giai đoạn mới. Nên định ra chỉ tiêu định lượng cụ thể, hợp lý cho từng năm, hoặc theo hệ số chung thấp hơn (Khoảng 1,35 lần), nhưng so với thời điểm đánh giá là hợp lý hơn, tránh được “sự cố”.
Cả nước hiện nay có gần 200 xã NTM nâng cao và Kiểu mẫu, chiếm 4%. Mục tiêu đến năm 2025, cả nước đạt ít nhất 30% xã NTM nâng cao, 10% xã NTM kiểu mẫu. Vùng TD&MNPB hiện đã có 29 xã NTM nâng cao và kiểu mẫu, chiếm 3,5%. Mục tiêu đến 2025, về chỉ tiêu xã NTM nâng cao và kiểu mẫu, có 3 tỉnh (Bắc Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn) cơ bản bằng mức tối thiểu chung của cả nước. Phần lớn các tỉnh từ 15% đến dưới 30%. Tỉnh Điện Biên dưới 5%, có 5 tỉnh chưa xác định chỉ tiêu cụ thể là Thái Nguyên, Lào Cai, Lai Châu, Hòa Bình, Hà Giang. Tỉnh Sơn La đặt ra chỉ tiêu phấn đấu tăng thêm 34 xã NTM, 20 xã NTM nâng cao, 3-5 Xã NTM kiểu mẫu.
Để thực hiện thực chất mục tiêu xã NTM nâng cao, kiểu mẫu thì tiêu chí thu nhập cần được so với năm đánh giá, chứ không phải là năm công nhận xã NTM./.

 

                                                                                      Phan Đức Ngữ
 
 
 

Số lần đọc : 182   Cập nhật lần cuối: 12/04/2021

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 10923708

Số người Onlne: 51