Nghiên cứu → Đa chiều

Vấn đề thứ hạng phát triển của các tỉnh


 

 

 

Vấn đề thứ hạng phát triển của các tỉnh
 
                                                                                       CVCC Phan Đức Ngữ
 
Từ nhiệm kỳ đại hội 2010-2015, nhất là từ nhiệm kỳ 2016-2020, nhiều tỉnh/thành phố (gọi chung là tỉnh) đã đặt ra mục tiêu về thứ hạng phát triển trong vùng và trong cả nước, tức là tỉnh phấn đấu trở thành tỉnh thuộc tốp Dẫn đầu, hay tốp phát triển Khá, tốp Trung bình khá  hay tốpTrung bình... Đến nhiệm kỳ 2020-2025 thì mục tiêu thứ hạng phát triển đã trở thành phổ biến đối với cấp tỉnh. Trong cuộc đua cạnh tranh phát triển, hệ quy chiếu đánh giá nội bộ không đủ để đánh giá mức độ phát triển của địa phương. Có khi so với bản thân (giai đoạn sau so với giai đoạn trước hay so với chỉ tiêu đạt ra) thì thăng tiến, nhưng khi so với mặt bằng chung thì lại tụt hậu, khoảng cách bị doãng ra hơn. Việc các địa phương dùng thêm hệ quy chiếu thứ hai về thứ hạng phát triển là cần thiết, đáng được khuyến khích.  
          Vấn đề là, tiêu chí và phương pháp đánh giá, xếp hạng phát triển, các tỉnh hiểu thế nào thì tự đặt ra, tự tính toán và tự công nhận. Đặt ra cho sát đã khó, việc đánh giá, xếp hạng cho chuẩn càng khó hơn. Trong báo cáo chính trị đại hội đảng bộ nhiệm kỳ 2020-2025, phần tổng kết giai đoạn 2015-2020, các tỉnh chủ yếu là đánh giá mức độ hoàn thành các chỉ tiêu, còn mục tiêu thứ hạng rất ít tỉnh đánh giá, có tỉnh đánh giá nhưng lại không rõ ràng, chưa thuyết phục. Thiết nghĩ, trong khi cơ quan chức năng và tổ chức có thẩm quyền chưa hướng dẫn, thì một nghiên cứu có tính chất tư vấn, góp phần gợi mở để các tỉnh tham khảo cũng là cần thiết.
         I. Mức độ phổ biến về mục tiêu thứ hạng phát triển của các tỉnh
         Nhiệm kỳ2020-2025, các tỉnh không đặt ra hay không tiếp tục đặt ra thứ hạng phát triển là số ít, khoảng 16 tỉnh/thành phố, chiếm 25%; còn số tỉnh đặt ra lại phổ biến hơn, khoảng 47 tỉnh, chiếm 75%. Dưới đây là tổng hợp chưa đầy đủ các tỉnh đặt ra thứ hạng phát triển trong chủ đề hoặc trong mục tiêu tổng quát của báo cáo chính trị và nghị quyết của đại hội đảng bộ tỉnh/thành phố nhiềm kỳ 2020-2025.
TT
Vùng/Tỉnh
Mục tiêu thứ hạng phát triển
I.
Vùng Đồng bằng sông Hồng
1
TP Hà Nội
Đến năm 2025, là Thủ đô có sức cạnh tranh cao trong nước và khu vực. Đến năm 2030, có sức cạnh tranh quốc tế. Đến 2045, là thành phố kết nối toàn cầu.
2
Vĩnh Phúc.
 Đến 2025, có thu nhập bình quân đầu người thuộc tốp cao nhất cả nước. Đến 2030, cơ bản đủ điều kiện trở thành TP trực thuộc Trung ương.
3
Bắc Ninh
Đến 2025, cơ bản đủ điều kiện trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.
4
Quảng Ninh
Đến 2030, trở thành tỉnh dịch vụ, công nghiệp hiện đại, là một trong những trung tâm phát triển năng động, toàn diện của phía Bắc.
5
Hải Dương
Đến 2025, là tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại, năm 2030 tạo nền tảng để Hải Dương sớm trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.
6
TP Hải Phòng
 Đến 2030, trở thành thành phố công nghiệp phát triển hiện đại, văn minh, bền vững tầm cỡ khu vực Đông Nam Á.
7
Thái Bình
Đến 2025, là tỉnh phát triển khá, đến năm 2030 theo kịp nhóm dẫn đầu và đến năm 2045 là tỉnh phát triển trong khu vực đồng bằng sông Hồng.
8
Nam Định
Đến 2030, là tỉnh phát triển khá của cả nước.
9
Hà Nam
Đến 2025, đạt mức phát triển khá của vùng đồng bằng Bắc Bộ.
10
Ninh Bình
Đến 2030, trở thành tỉnh khá trong khu vực đồng bằng sông Hồng.
II
Vùng Trung du & miền núi phía Bắc.
11
Bắc Giang
Đến 2025, thuộc tốp dẫn đầu cả nước.
12
Thái Nguyên
Đến năm 2030, trở thành trung tâm kinh tế công nghiệp hiện đại của vùng TD&MNPB và vùng Thủ đô Hà Nội, trở thành TP trực thuộc Trung ương.
13
Lào Cai
Đến năm 2025, là tỉnh phát triển của vùng và tỉnh khá của cả nước. Đến 2045 là tỉnh phát triển của cả nước.
14
Hòa Bình
 Đến 2025, là tỉnh trung bình của cả nước; đến năm 2030 trở thành tỉnh phát triển, thuộc nhóm dẫn đầu trong vùng; đến năm 2045 trở thành tỉnh phát triển của cả nước. 
15
Yên Bái
Đến 2025, là tỉnh khá trong vùng; đến 2030 nằm trong nhóm các tỉnh phát triển của vùng. 
16
Tuyên Quang
 Đến 2025 là tỉnh phát triển khá trong vùng.
17
Lai Châu
 Đến 2030 trở thành tỉnh phát triển trong vùng, 2045 trở thành tỉnh phát triển trung bình của cả nước.
III
Vùng Bắc trung bộ và Duyên hải miền Trung
18
Thanh Hóa
 Đến 2025, thuộc nhóm dẫn đầu cả nước, đến 2030 người dân có mức sống cao hơn bình quân cả nước.  
19
Nghệ an
Đến 2025, là tỉnh khá của miền Bắc, năm 2030 tỉnh khá của cả nước,
20
Hà tĩnh
Đến 2030, trở thành tỉnh phát triển khá của cả nước.
21
Quảng Bình
Đến năm 2025, trở thành tỉnh phát triển khá trong khu vực Bắc Trung Bộ.
22
Quảng trị
Đến 2025, trở thành tỉnh có trình độ phát triển trung bình cao và đến năm 2030 thuộc nhóm tỉnh khá của cả nước.
23
Thừa Thiên - Huế
Đến 2025, trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.
24
Đà Nẵng
Đến 2025. là trung tâm kinh tế xã hội lớn của cả nước.
25
Quảng Nam
 Đến 2030, là tỉnh phát triển khá của cả nước.
26
Quãng Ngãi
 Đến 2025, là tỉnh phát triển khá của vùng miền Trung, đến 2030 tỉnh phát triển khá, có thu nhập bình quân đầu người tối thiểu bằng mức bình quân cả nước.
27
Bình Định
Đến 2025, trở thành tỉnh phát triển thuộc nhóm dẫn đầu khu vực miền Trung.
28
Khánh Hòa
Đến năm 2030, trở thành đô thị trực thuộc Trung ương. Đến năm 2045 thu nhập bình quân của người dân thuộc nhóm các tỉnh, thành phố cao nhất cả nước.
29
Ninh thuận
 Đến 2025, là tỉnh khá của khu vực; 2030 là tỉnh có thu nhập thuộc nhóm trung bình cao của cả nước; 2045 là tỉnh có thu nhập cao của cả nước.
IV.
Vùng Tây Nguyên
30
 Lâm đồng
 Đến 2025, là tỉnh phát triển khá của cả nước; 2030 tự cân đối ngân sách và có điều tiết nộp về ngân sách trung ương. Năm 2045, trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.
31
Gia Lai
 Đến 2030, trở thành vùng động lực của khu vực Tây Nguyên. 
32
Đắc Lắc
Đến năm 2025 đạt mức trung bình và đến năm 2030, đạt mức trung bình khá của cả nước
33
Đắc Nông
Đến 2025, trở thành tỉnh trung bình khá và đến 2030 tỉnh phát triển khá của vùng Tây Nguyên.
V.
Vùng Đông Nam Bộ
34
Bà Rịa - Vũng Tàu.
Đến 2025, tiếp tục là tỉnh đứng trong tốp đầu cả nước về GRDP bình quân đầu người.
35
Bình Phước
Đến năm 2025, trở thành tỉnh công nghiệp, thuộc nhóm các tỉnh có quy mô kinh tế khá trong khu vực kinh tế trọng điểm Đông Nam Bộ.
36
Bình Dương
Đến 2030, trở thành trung tâm công nghiệp hiện đại, đến 2045 trở thành đô thị thông minh của vùng và cả nước.
37
Đồng Nai
Năm 2025, và thuộc nhóm đầu các tỉnh phát triển.
38
Tây Ninh
Đến năm 2025, trở thành tỉnh khá trong vùng Đông Nam Bộ và đến năm 2030 là tỉnh khá trong cả nước,
39
TP
Hồ Chí Minh
Đến 2025, là đô thị thông minh, giữ vững vai trò đầu tàu kinh tế, động lực tăng trưởng của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước. Đến năm 2030, là trung tâm về kinh tế, tài chính, thương mại, khoa học - công nghệ và văn hóa của khu vực Đông Nam Á. Đến năm 2045, trở thành trung tâm về kinh tế, tài chính của Châu Á.
VI.
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long
40
Tỉnh Long An
 Đến 2025, giữ vững vị trí dẫn đầu vùng đồng bằng sông Cửu Long, đến 2030 tỉnh phát triển khá của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
41
Bến Tre
Trở thành tỉnh phát triển khá của khu vực đồng bằng sông Cửu Long vào năm 2025 và của cả nước vào năm 2030.
42
Trà Vinh
Đến năm 2025, trở thành một trong những tỉnh trọng điểm phát triển kinh tế biển của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, là tỉnh phát triển trong nhóm đầu của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long trước năm 2030.
43
An Giang
Đến 2025, kinh tế thuộc nhóm đầu khu vực đồng bằng sông Cửu Long và đạt mức trung bình cả nước; đến năm 2030 đạt trên mức trung bình cả nước.
44
Kiên Giang
Duy trì là một trong những tỉnh phát triển dẫn đầu của vùng đồng bằng sông Cửu Long và trở thành tỉnh phát triển khá của cả nước vào năm 2030.
45
TP Cần thơ
Phát triển thành phố sớm trở thành trung tâm động lực vùng đồng bằng sông Cửu Long
46
Sóc Trăng.
Đến 2030, thu nhập bình quân đầu người bằng bình quân khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
47
Hậu Giang
Đến 2025, Chỉ số cải cách hành chính và Chỉ số sẵn sàng cho  chính quyền điện tử trong nhóm 30 tỉnh dẫn đầu.
 
II. Các nhóm mục tiêu thứ hạng phát triển và tiêu chí đánh giá
 1. Thứ hạng phát triển khu vực và toàn cầu
Có hai thành phố đề ra mục tiêu thứ hạng toàn cầu (kết nối toàn cầu) là TP Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Quốc tế có tiêu chí và hàng năm có đánh giá xếp hạng về thành phố kết nối toàn cầu. Hiện tại, quốc tế xếp Hà Nội có mức độ kết nối trung bình, TP Hồ Chí Minh có mức kết nối lớn. Theo tiêu chí và xếp hạng quốc tế thì mục tiêu đến 2025 của Hà Nội chí ít là chuyển từ mức độ kết nối quốc tế trung bình lên mức lớn, còn TP Hồ Chí Minh chuyển từ mức lớn lên mức rất lớn và việc đánh giá, xếp hạng chủ yếu phải dựa vào quốc tế. Còn mục tiêu như trong bảng tổng hợp thì chắc phải cần thêm tiêu chí quốc tế khác.
Thành phố Đà Nẵng được quốc tế xếp hạng có mức kết nối toàn cầu nhỏ, nhưng thành phố đặt ra mục tiêu thứ hạng trong nước, không đặt ra mục tiêu khu vực và quốc tế.
Còn thành phố Hải Phòng đặt ra mục tiêu thứ hạng phát triển trong khu vực Đông Nam Á , nhưng tiêu chí khu vực chưa rõ, nên cần được nghiên cứu.
2.  Mục tiêu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.
Đến năm 2025 có 01 tỉnh là Thừa thiên-Huế. Đến năm 2030 có 5 tỉnh là Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Thái Nguyên, Khánh Hòa. Đến 2045 có 01 tỉnh là Lâm Đồng.
Tỉnh nào đặt ra mục tiêu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương thì việc đánh giá không khó, chỉ khó là ở việc thực hiện. Nhà nước đã có văn bản quy phạm quy định về tiêu chí từng cấp đô thị và thẩm quyền công nhận. (Nghị quyết s/1210/2016/UBTVQH13 ngày 25/5/2016 của UBNV QH về phân loại đô thị). Ví dụ, đô thị loại I (đô thị trực thuộc Trung ương) phải bảo đảm tự cân đối ngân sách, có thu nhập bình quân đầu người tối thiểu gấp 1,75 lần bình quân cả nước. (Việc đánh giá tiêu chí thu nhập có rích rắc một chút, sẽ được đề cập ở phần chung tiếp theo). Nói chung, đánh giá các tiêu chí không cần so sánh với các tỉnh trong cả nước. Vấn đề là tỉnh phải được Nhà nước đưa vào danh mục quy hoạch lên thành phố lại I, và được đầu tư xây dựng, hoàn thiện các hạng mục đạt tiêu chí theo quy định. Khi đánh giá thì cấp tỉnh có cơ quan chuyên môn, có hồ sơ cụ thể, cơ quan trung ương thẩm định và trình cấp có thẩm quyền. Tỉnh có thể lên thành phố trực thuộc Trung ương theo đúng lộ trình,hoặc sớm hơn, hoặc kéo dài hơn.
3. Mục tiêu trở thành thành phố thông minh
Đến năm 2025 là thành phố Hồ Chí Minh. Đến 2045 thêm 01 tỉnh là Bình Dương. Nước ta đã có bộ tiêu chí đô thị thông minh phiên bản 01 áp dụng cho đến năm 2025. Đại thể gồm:Môi trường thông minh, đời sống thông minh, nền kinh tế thông minh, di chuyển thông minh, chính quyền/quản trị thông minh và cư dân thông minh. Đến năm 2045, bộ tiêu chí chắc sẽ tiếp tục được hoàn thiện và nâng cao. Việc đánh giá là do địa phương, và thẩm định, công nhận là do cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương.
4. Mục tiêu thứ hạng về thu nhập
Có khá nhiều tỉnh đặt thứ hạng về thu nhập bình quân đầu người. Như Thanh Hóa, Vĩnh Phúc, Bà Rịa -Vũng Tàu, Khánh Hòa, Ninh thuận, Quảng Ngãi, Sóc Trăng...Tỉnh nào đặt ra mục tiêu riêng về thứ hạng thu nhập thì việc đánh giá, xếp hạng tương đối đơn giản. Vấn đề là thu nhập bình quân đầu người là GRDP/người hay thu nhập dân cư/người (TNDC/người) thì các địa phương đang có cách hiểu khác nhau. Cần phân biệt hai chỉ tiêu này, vì chỉ tiêu GRDP/người là chỉ tiêu giá trị sản phẩm xã hội/người, còn TNDC/người là thu nhập thực tế của dân cư (chỉ bằng 40-80% GRDP/người tùy từng tỉnh). Thế giới xếp hạng phát triển của các quốc gia là theo GDP/người (quy ra USD danh nghĩa). Còn đối với cấp địa phương thì xếp hạng theo GRDP/người là chưa sát, vì hai chỉ tiêu này không đồng biến về tăng hay giảm, cao hay thấp, có khi GRDP/người cao, nhưng TNDC/người lại thấp. Ví dụ về tỉnh Sơn La, trong giai đoạn 2017-2020, thứ hạng theo GRDP/người đứng thứ 7 trong vùng TD&MNPB và thứ 48-49 trong cả nước, nhưng theo TNDC/người lại có thứ hạng thấp hơn nhiều, đứng thứ 12-13 trong vùng và thứ 61-62 trong cả nước. Hệ thống thống kê đều có hai chỉ tiêu GRDP/người và TNDC/người. Tỉnh nào đặt ra thứ hạng về GRDP thì tính theo GRDP/người, còn đặt ra thứ hạng về thu nhập thì tính TNDC/người. Hoặc là tính thứ bậc trung bình của hai chỉ tiêu. Ví dụ, thứ hạng về GRDP/người là 4, thứ hạng về TNDC/người là 10, thì thứ hạng chung là 7.
5. Mục tiêu thứ hạng phát triển chung. Đa số các tỉnh đặt ra mục tiêu về thứ hạng phát triển chung. Việc đánh giá xếp hạng phức tạp hơn.
5.1. Nhóm chỉ tiêu kinh tế
          (1) Quy mô nền kinh tế (GRDP) phản ánh tiềm lực nền kinh tế. Thế giới xếp hạng các nước theo quy mô GDP. Các tỉnh xếp hạng theo quy mô GRDP.
          (2) GRDP/người (Sản phẩm xã hội trên địa bàn/người). GRDP/ngườiphản ánh mức độ phát triển cao hay thấp, giàu hay nghèo của nền kinh tế của tỉnh.
(3) Thu ngân sách. Thu ngân sách trên địa bàn (không tính phần cân đối của Trung ương)cũng phản ánh tiềm lực kinh tế, mức độ giàu, nghèo của nền kinh tế. Trong cùng một vùng, có khi tỉnh thu ngân sách cao, nhưng cũng nhận cân đối của Trung ương cao. Cần xếp hạng cả giá trị tuyệt đối và tỷ lệ tự cân đối của từng tỉnh mới toàn diện và khách quan. Thứ hạng của hai cách biểu hiện này của chỉ tiêu thu ngân sách có thể đồng biến hay nghịch biến.
5.2. Nhóm chỉ tiêu mức sống
          (1) Thu nhập dân cư bình quân đầu người.
(2).Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều. Cần lưu ý,chỉ tiêu này có hai nguồn số liệu. Nguồn của tỉnh được Bộ LĐ-TB&XH thẩm định và công bố. Nguồn của Tổng cục thống kê, điều tra bằng phương pháp quốc tế, thường trễ hơn. Tùy cả nước, từng vùng và từng tỉnh, tỷ lệ hộ nghèo giữa hai nguồn này có sự khác biệt nhiều hay ít, nhưng thứ hạng thì cơ bản như nhau. Chỉ những tỉnh có sự cách biệt lớn thì thứ hạng trong vùng, trong cả nước có thể ít nhiều khác nhau giữa hai nguồn số liệu.
5.3. Nhóm chỉ tiêu học vấn và đào tạo
(1) Trình độ học vấn trung bình của dân cư: Đây là chỉ tiêu đại diện nhất, nhưng ngành thống kê không thống kê hàng năm về chỉ tiêu này. Có thể sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đi học PTTH. (Tỷ lệ đi học TH, THCS của các địa phương cơ bản ngang nhau, mức chênh lệch thấp. Nhưng tỷ lệ học sinh đi học THPT có sự phân hóa lớn). Thứ hạng về tỷ lệ học sinh đi học THPT cơ bản phản ánh  được thứ hạng trình độ học vấn. 
(2) Tỷ lệ lao động được đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ. 
          Các tỉnh có số liệu hàng năm về tỷ lệ lao động qua đào đạo, trong đó có tỷ lệ có bằng cấp, chứng chỉ. Tổng cục Thống kê cũng thống kê riêng tỷ lệ lao động có bằng cấp chứng chỉ hàng năm đến cấp tỉnh, tuy trễ một năm, nhưng thứ hạng vẫn có thể sử dụng cho năm hiện tại. Cần chú ý là, số liệu của của nhiều tỉnh chênh lệch (thường là cao hơn) số liệu của Tổng cục Thống kê. Có sử dụng số liệu chung của Tổng cục Thống kê thì việc xếp hạng mới bảo đảm khách quan.
          5.4. Nhóm chỉ tiêu về sức khỏe và tuổi thọ
( 1) Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng;
(2) Tuổi thọ bình quân của dân cư.
Hai chỉ tiêu đã được Tổng cục Thống kê thống kê đến cấp tỉnh. (Chỉ tiêu số giường bệnh và số bác sĩ/vạn dân là hai chỉ tiêu trung gian, nên chỉ là tham khảo).
III. Phương pháp đánh giá, xếp hạng
          1. Đánh giá xếp hạng một tỉnh thông qua đánh giá xếp hạng  từ cao xuống thấp của tất cả các tỉnh trong vùng và trong cả nước
-Xếp hạng theo 01 tiêu chí. Theo các mức phấn đấu các tỉnh đặt ra, có thể xếp thành 5 nhóm/tốp  tỉnh: (1) Tốp dẫn đầu; (2) Tốp khá; (3) Tốp trung bình cao; (4) Tốp Trung bình; (5) Tốp dưới Trung bình. (Không có tỉnh nào đặt mục tiêu thứ hạng dưới trung bình hay  thấp). Dễ xếp hạng nhất là tốp dẫn đầu chiếm khoảng 8% số tỉnh, vùng ít nhất cũng lấy  tròn đủ 1 tỉnh; 4 tốp còn lại mỗi tốp chiếm 22% số tỉnh (của cả nước hay của vùng).
- Xếp hạng từ 2 tiêu chí trở lên. Để biết tỉnh mình rơi vào nhóm nào thì phải xếp hạng từng chỉ tiêu từ cao xuống thấp (từ 1 đến n - n là số tỉnh của cả nước hay vùng). Lấy tổng thứ hạng của tất cả các chỉ tiêu chia cho số chỉ tiêu thì được thứ hạng bình quân của tỉnh. Trường hợp thứ hạng chung của 02 tỉnh ngang nhau thì có thể để hai tỉnh cùng chung một hạng, hoặc căn cứ vào thứ hạng chỉ tiêu thành phần quan trọng nhất để xếp hạng cao thấp. Ví dụ, lĩnh vực kinh tế, khi hai tỉnh cùng có thứ hạng ngang nhau, thì tỉnh nào có thứ hạng GRDP/người cao hơn thì có thứ hạng chung cao hơn).
2. Xếp hạng các chỉ tiêu bằng cách so sánh với giá trị trung bình của vùng hay cả nước
Để tính thứ hạng cụ thể của một tỉnh trong vùng hay trong cả nước về thu nhập hay một tiêu chí nào đó, muốn chính xác thì phải tính hết từng tỉnh, điều đó khá công phu, mất nhiều thời gian. Giản tiện hơn là so sánh với giá trị trung bình của cả nước, của vùng (tùy theo phạm vi mục tiêu thứ hạng của từng tỉnh để so sánh).
Trước hết, tính giá trị trung bình tiêu chí cần so sánh của cả nước hay từng vùng. Tiếp theo, có thể xếp theo 5 nhóm/tốp: (1) Tốp dẫn đầu từ 1,5 lần mức trung bình trở lên; (2) Tốp khá từ 1,3 lần đến dưới 1,5 lần. (3) Tốp trung bình cao từ 1,1 đến dưới 1,3 lần. (4) Tốp Trung bình từ 0,9 đến dưới 1,1 lần. (5) Tốp dưới trung bình từ  dưới  0,9.  (Nên định ra khung  Tốp 4 và Tốp 5  như vậy, vì xác suất giá trị tiêu chí nào đó của một tỉnh rất ít khi đúng bằng giá trị  trung bình của vùng hay cả nước).
 

Tài liệu tham khảo chính

(1) Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, XII.
(2) Báo cáo chính trị và Nghị quyết Đại hội nhiệm kỳ 2011-2015, 2016-2020, dự thảo báo cáo chính trị nhiệm kỳ 2021-2025 của đảng bộ các tỉnh, thành phố.
(3) Chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam 2011-2020.
(4). Chương trình mục tiêu phát triển cấp toàn cầu, cấp quốc gia và cấp tỉnh của Việt Nam đến 2030.
(5) Số liệu Kinh tế - xã hội trên mạng của Tổng cục Thống kê.
(6) ThS. Nguyễn Thị Lan Anh. Phát triển kinh tế nhanh, bền vững gắn với phát triển bao trùm ở Việt Nam. tcquanlynhanuoc, học viện chính trị quốc gia, 2019. 
 
 
 

 

 

 

Số lần đọc : 164   Cập nhật lần cuối: 20/07/2021

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 11229771

Số người Onlne: 44

Thông tin doanh nghiệp