Nghiên cứu → Giáo dục - Đào tạo

Vấn đề hệ thống chỉ tiêu thống kê


 VẤN ĐỀ HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ

                                            CVCC  Phan Đức Ngữ
 
I. Khái quát chung
Có lẽ vì thời gian để các địa phương tham gia ý kiến về Luật Thống  kê sửa đổi hơi gấp, nên Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh không tổ chức Hội nghị lấy ý kiến của các sở ban ngành, đoàn thể và các hội, mà đặt bài cho một số đơn vị và cá nhân. Tôi có may mắn cũng được mới tham gia.
Tài liệu nghiên cứu gồm có: Dự thảo Luật Sửa đổi Luật thống kê năm 2015,  kèm theo danh mục chỉ tiêu thống kê quốc gia sửa đổi (dung lượng 17 trang); Phụ lục I về  danh mục chỉ tiêu thống kê quốc gia sửa đổi chi tiết, lý do sửa đổi, đơn vị đề xuất (51 trang); Phụ lục II về danh mục chỉ tiêu thống kê quốc gia phản ánh chính sách, pháp luật trong thời gian gần đây và phân công thực hiện (37 trang); Tờ trình tóm tắt của Chính Phủ (8 trang) và Báo cáo tiếp thu, giải trình của Chính Phủ (24 trang). Với dung lượng tài liệu như vậy, thời gian nghiên cứu và tham gia chỉ có 1 ngày, quả là một thách thức không nhỏ.
Dự thảo Luật Thống kê sửa đổi lần này sửa đổi 3 điều của Luật Thống kê số 89/2015/QH13:
1. Sửa đổi, bổ sung khoản 6 Điều 17:
“6. Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với bộ, ngành và địa phương:
a) Trình Chính phủ ban hành nội dung chỉ tiêu thống kê thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và quy trình biên soạn chỉ tiêu Tổng sản phẩm trong nước, chỉ tiêu Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; hướng dẫn, kiểm tra tình hình và báo cáo kết quả thực hiện hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia.
b) Định kỳ 05 năm rà soát về việc đánh giá lại quy mô Tổng sản phẩm trong nước báo cáo Chính phủ, trình Quốc hội”.
2. Sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 2 Điều 48:
“d) Người đứng đầu cơ quan thống kê cấp tỉnh công bố thông tin thống kê thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã. Đối với thông tin thống kê của chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh là phân tổ của chỉ tiêu thống kê quốc gia phải thống nhất với cơ quan thống kê Trung ương trước khi công bố”.
3. Sửa đổi và ban hành mới  Phụ lục - Danh mục chỉ tiêu thống kê quốc gia thay thế Phụ lục - Danh mục chỉ tiêu thống kê quốc gia của Luật Thống kê số 89/2015/QH13.
Nội dung sửa đổi: Giữ nguyên 129 chỉ tiêu (bao gồm nhóm chỉ tiêu), sửa tên 46 chỉ tiêu, bổ sung 47 chỉ tiêu và bãi bỏ 11 chỉ tiêu
II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHỦ YẾU THAM GIA
A. Về nội dung Luật thống kê sửa đổi
Luật Sửa đổi bổ sung lần này tập trung sửa đổi phụ lục danh mục chỉ tiêu thống kê quốc gia. Nhưng tôi thấy nội dung Luật cũng có một số vấn đề về thực hiện chỉ tiêu thống kê quốc gia.
Trong thực tế chúng ta có 3 hệ thống chỉ tiêu thống kê:
            (1). Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia (được quy định trong  Luật Thống kê )
(2). Hệ thống chỉ tiêu cấp bộ ngành, Tổng cục Thống kê (Tôi tra cứu không thấy  quyết định của Thủ tướng chính phủ, mà chỉ thấy Thông tư của các bộ chuyên ngành, Tổng cục Thống kê)
(3). Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp địa phương (tỉnh, huyện, xã) do Thủ tướng  Chính phủ quyết định.
 Hệ thống thực hiện thống kê và xuất bản số liệu thống kê: Thống kê và công bố số liệu thống kê quốc gia (cả nước) do Tổng cục Thống kê. Số liệu chuyên ngành do các bộ. Số liệu cấp tỉnh do Cục Thống kê tỉnh. (Riêng số liệu GRDP cấp tỉnh do Tổng cục Thống kê thẩm định và công bố).
Ngoài ra còn có  hệ thống chỉ tiêu kinh tế xã hội 5 năm của nhiệm kỳ đại hội đảng các cấp (quan trọng nhất là chỉ tiêu của đại hội đảng toàn quốc và đại hội đảng bộ cấp tỉnh). Hệ thống chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội 5 năm và hàng năm trong nghị quyết của Quốc hội, hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện và cơ sở.
 Tình hình chỉ tiêu thống kê giữa các hệ thống có một số vấn đề bất cập, rất đáng quan tâm:
- Có chỉ tiêu thuộc chương trình quốc gia đã thực hiện hơn 10 năm, như chỉ tiêu xã nông thôn mới, nhưng không có trong hệ thống thống kê nào, lần này mới dự kiến bổ sung. Hệ thống thống kê quốc gia không có thống kê thu nhập dân cư bình quân đầu người hằng năm, còn ngành thống kê lại có. Hệ thống chỉ tiêu quốc gia và ngành thống kê có chỉ tiêu về giáo dục, còn Hệ thống chỉ tiêu phát triển hàng năm và 5 năm của cả nước và phần lớn các tỉnh cả hệ thống Đảng và Nhà nước (Quốc hội, HĐND các cấp) lại không có. Những tỉnh có chỉ tiêu về giáo dục thì chủ yếu là chỉ tiêu về trường đạt chuẩn quốc gia, trong khi chỉ tiêu này không có trong danh mục thống kê quốc gia và trong danh mục thống kê  cấp tỉnh.
- Có những chỉ tiêu chuyên ngành có sự  chên lệch lớn  với chỉ tiêu thống kê của ngành thống kê. Ví dụ, chỉ tiêu tỷ lệ hộ nghèo đa chiều năm 2020, theo số liệu thẩm định và công bố của Bộ LĐTB&XH thì có hơn 15 tỉnh chênh lệch trên dưới 10%, Tỉnh Lai Châu chênh lệch gần 14,5%, của Sơn La trên 12 %. Mức chênh lệch như vậy là rất lớn.
-  Có chỉ tiêu xếp nhóm thống kê khác nhau. Chỉ tiêu nước sạch, nước hợp vệ sinh, cả hệ thống Đảng và Quốc hội, HĐND các cấp đưa vào nhóm chỉ tiêu môi trường, còn hệ thống quốc gia và ngành thống kê để ở mục mức sống dân cư. Còn lẫn lộn giữa nước sạch từ nguồn tập trung và nước sạch do các hộ tự xử lý bằng máy lọc nước gia đình...
- Có chỉ tiêu được hiểu và sử dụng khác nhau. Ví dụ, chỉ tiêu lao động được đào tạo. Trong danh mục thống kê quốc gia không ghi rõ nội hàm. Còn trong danh mục thống kê của ngành thống kê có giải thích lao động được đào tạo gồm đạo tạo có bằng cấp chứng chỉ và lao động tự  học nghề hoặc được truyền nghệ, có thời gian làm việc 3 năm trở lên tương đương trình độ tay nghề lao động kỹ thuật bậc 1, nhưng thống kê thực tế là là tỷ lệ lao động có có bằng cấp chứng chỉ. Thống kê của Bộ Lao động Thương binh và xã hội, và các hệ thống khác là  tỷ lệ đào tạo nói chung, trong đó có tỷ lệ lao động đào tạo có bằng cấp chứng chỉ và tỷ lệ không bằng cấp chứng chỉ. Cấp tỉnh thì  có tỉnh để chung, có tỉnh tách tỷ lệ lao động có bằng cấp chứng chỉ. Hay chỉ tiêu xuất khẩu theo hệ thống thống kê quốc gia và ngành thống kê và Bộ Công thương là kim ngạch xuất khẩu  (USD), còn địa phương có tỉnh lại dùng chỉ tiêu giá trị hàng hóa tham gia xuất khẩu quy ra USD. Hay chỉ tiêu thống kê doanh nghiệp, Tổng cục Thống kê số doanh nghiệp thực tế hoạt động đến 31/12/hằng năm, còn nhiều tỉnh (cấp ủy, chính quyền) sử dụng số liệu số doanh nghiệp đăng ký lũy kế đến cuối năm. Vì vậy, số liệu doanh nghiệp của địa phương và số liệu doanh nghiệp trong Sách trắng Doanh nghiệp Việt Nam được Tổng cục Thống kê phát hành hàng năm có sự chênh lệch rất lớn.
- Số liệu thống kê có ba mức độ (ước, sơ bộ và chính thức). Nhưng chỉ có hệ thống ngành thống kê là rõ ràng. Còn các hệ thống khác khi có số liệu chính thức thì chưa có sự đính chính rõ ràng, mà văn bản vẫn là số liệu ước hoặc sơ bộ.
Vì vậy, Luật cần có điều khoản theo hướng:
- Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia là chỉ tiêu cấp I. Chỉ tiêu của các hệ thống khác cụ thể hóa thành phân tổ cấp thấp hơn (chỉ đến 2, cấp 3). Chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội hằng năm và 5 năm của hệ thống nhà nước (Quốc hội, HĐND địa phương), là lựa chọn trong khung hệ thống chỉ tiêu cấp I quốc gia và phân tổ chỉ tiêu của hệ thống  ngành thống kê và bộ chuyên ngành. Trường hợp địa phương thực sự cần chỉ tiêu đặc thù thì mới đưa vào.
- Báo cáo kinh tế xã hội của các cấp (hằng năm và 5 năm) dùng số liệu ước hoặc sơ bộ, khi có số liệu chính thức thì đính chính bản điện tử và công khai trên cổng thông tin điện tử.
- Khi có sự mâu thuẫn về số liệu thống kê giữa ngành thống kê, bộ chuyên ngành và địa phương thì thống nhất sử dụng số liệu của ngành thống kê.
- Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia được đưa vào Luật. Sửa đổi, bổ sung một vài chỉ tiêu cũng phải đưa ra Quốc hội sửa đổi, ban hành luật sửa đổi bổ sung thì phức tạp quá.
Hệ thống chỉ tiêu phụ lục nằm trong Điều 2, gồm 20 mục, gần 200 tiểu mục và gần 2000 mã số chỉ tiêu. Nếu sửa đổi, bổ sung một số chỉ tiêu thì chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ. Hơn nữa, sửa đổi bổ sung chỉ tiêu, nhưng là chỉ tiêu thứ cấp thì không cần sửa Luật, mà để ở văn bản dưới luật. Ví dụ, GDP, tốc độ tăng trưởng GDP, cơ cấu GDP (gồm cơ cấu lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, cơ cấu  khu vực kinh tế (các thành phần kinh tế) và các ngành kinh tế chủ yếu). Lĩnh vực công nghiệp có ngành công nghiệp chế biến chế tạo, ngành công nghệ thông tin, bây giờ nâng lên thành ngành kinh tế số. Bắt đầu từ nhiệm kỳ 2021-2025, trong hệ thống chỉ tiêu phát triển kinh tế-xã hội, cả Đảng và Quốc hội bổ sung chỉ tiêu tỷ trọng công nghiệp chế tạo, chế biến và chỉ tiêu tỷ trọng kinh tế số trong GDP. Nhưng hai chỉ tiêu này là chỉ tiêu thứ cấp, không phải chỉ tiêu cấp I.
 Vì vậy, Luật nên quy định theo hướng sửa đổi, bổ sung đến mức độ nào mới đưa ra Quốc hội, còn lại giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội hay Chính phủ. Hoặc phụ lục chỉ ghi những mục lớn, còn các lớp chỉ tiêu có mã số thì giao cho Chính phủ quy định, để khi sửa đổi, bổ sung  thì thủ tục tiến hành cho đỡ phức tạp.
2.  Xây dựng cơ sở dữ liệu số và kết nối thống nhất
Số liệu thống kê quốc gia (Tổng cục Thống kê), thống kê bộ ngành, và thống kê tỉnh, thành phố hiện nay đang phân tán, nhiều tỉnh chưa xây dựng CSDL thống kê điện tử, nên rất khó khai thác, sử dụng...
Đề nghị có điều khoản quy định số liệu thống kê từ cấp tỉnh trở lên đều được số hóa, được kết nối với cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thống kê (gso.gov.vn)
3. Độ tin cậy của số liệu thống kê
Quốc tế đánh giá hiệu quả thống kê (khai thác sử dụng số liệu thống kê để phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội) của Việt Nam đạt 66 điểm/100, còn tiêu chuẩn, phương pháp, kỹ năng thống kê mới đạt 35 điểm/100. Không ít trường hợp, dư luận cũng băn khoăn về độ tin cậy của số liệu thống kê.
Hiện nay, chúng ta đã có điều kiện tốt hơn để áp dụng tiêu chuẩn và các phương pháp thống kê của thế giới. Giữa số liệu ước tính, sơ bộ và chính thức cần có giới hạn trần chênh lệch. Cần có hình thức kiểm tra, giám sát của Quốc hội về số liệu thống kê. Thậm chí có hình thức kiểm toán số liệu thống kê. Đề nghị Luật cần quy định rõ hơn về nội dung này.
 B.  Danh mục chỉ tiêu thống kê quốc gia
1.  Xác định cấp của chỉ tiêu thống kê. Danh mục chỉ tiêu thống kê quốc gia cần được xác định là chỉ tiêu cấp 1. Còn chỉ tiêu thống kê của các hệ thống khác là chỉ tiêu thứ phát, cấp 2, cấp 3. Luật thống kê chỉ sửa đổi bổ sung các chỉ tiêu cấp I.
- Trong thuyết minh sửa đổi bổ sung lần này, có 1 số chỉ tiêu bổ sung theo chỉ tiêu mới của Đại hội Đảng lần thứ XIII, và Nghị quyết Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2021-2025. Đó là chỉ tiêu tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo và tỷ trọng của kinh tế số trong GDP. Nhưng thực ra, hai chỉ tiêu này thuộc phân tổ của chỉ tiêu cấp I là cơ cấu GDP, có phải chỉ tiêu cấp I hay không cần được xem thêm. Vì trong cơ cấu GDP có lĩnh vực công nghiệp. Trong công nghiệp lại có ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Ngành công nghệ thông tin và truyền thông thì vừa nằm ở  ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, vừa nằm ở ngành truyền thông của lĩnh vực dịch vụ, bây giờ sàng lọc, tổng hợp thành ngành kinh tế số, nhưng vẫn thuộc phân tổ của lĩnh vực công nghiệp, trong lĩnh vực công nghiệp có công nghiệp ICT.
- Thuyết minh cũng viện dẫn theo nhiều nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng và văn bản của bộ chuyên ngành. Cần được xem xét thêm những chỉ tiêu phát sinh từ những văn bản dưới luật này có phải là chỉ tiêu cấp I không, hay là phân tổ thuộc chỉ tiêu cấp I. Nếu không cần thận, có chỉ tiêu phát sinh là phải sửa luật thì rất phức tạp.
2. Phạm vi chỉ tiêu thống kê quốc gia
Trong hệ thống thống danh mục chỉ tiêu thống kê của Tổng cục Thống kê có nhiều chỉ tiêu thống kê chung toàn quốc, như tài khoản quốc gia, công nghiệp, vốn đầu tư, thương mại, du lịch. Nhưng cũng nhiều chỉ tiêu lại vừa thống kê cả nước vừa thống kê đến vùng và đến tỉnh, như các chỉ tiêu về dân số, lao động, nông nghiệp, doanh nghiệp, bưu chính viễn thông, vận tải, giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, mức sống, tỷ lệ hộ nghèo Đề nghị Luật cần quy định chặt ché hơn về vấn đề này. Nên xác định những loại chỉ tiêu cấp I nào thống kê và công bố toàn quốc, những loại chỉ tiêu nào thống kê và công bố đến vùng, đến tỉnh.
3. Sản phẩm, tài sản vật chất và trí tuệ
Hệ thống chỉ tiêu quốc gia mới thiên về các sản phẩm, tài sản vật chất, chưa chú ý đúng mức đến sản phẩm, tài sản trí tuệ. Trong 212 chỉ tiêu, chí có 02 chỉ tiêu tài sản trí tuệ là sáng chế và  di sản văn hóa cấp quốc gia. Đề nghị có nguyên tắc, rà soát, bổ sung chỉ tiêu về sản phẩm, tài sản trí tuệ. Các nước phát triển đã tính toán được  giá trị tài sản trí tuệ, nhiều nước đã chiếm 50-80% tài sản quốc gia.   Nước đa nên có chỉ tiêu tỷ trọng đóng góp trong GDP của tài sản trí tuệ, tỷ lệ tài sản trí tuệ trong tổng tài sản quốc gia. Về chỉ tiêu chuyên ngành, ví dụ, đã có chỉ tiêu thống kê sáng chế thì nên có chỉ tiêu công bố quốc tế, các ấn phẩm sách, báo chí, phim ảnh, các nhãn hiệu nỏi tiếng, chỉ dẫn địa lý. Đã có chỉ tiêu thống kê huy chương thể thao quốc tế thì cũng nên có chỉ tiêu huy chương  quốc tế trên các lĩnh vực khác, như  thi học sinh giỏi quốc tế, thi sáng tạo KHCN...
4. Nên có chỉ tiêu thống kê (theo ngành) của nhóm nhân lực trình độ cao, được phong tặng danh hiệu cao, được giải thưởng cao
Một trong 3 khâu đột phá để phát triển đất nước  đã được ghi vào văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII cũng như Nghị quyết của Quốc hội và Nghị quyết Chính phủ là đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Vì vậy, nên bổ sung  nhóm chỉ tiêu:
- Chỉ tiêu thống kê tỷ lệ lao động đào tạo các trình độ (sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đâị học, trên đại học)
- Chỉ tiêu thống kê TS, PGS, GS, nhà giáo ưu tú, nhà giáo nhân dân, thầy thuốc ưu tú, thầy thuốc nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, nghệ sĩ nhân dân. Số người được Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng nhà nước về KHCN, Văn học nghệ thuật
----------------
 
 

Số lần đọc : 235   Cập nhật lần cuối: 21/10/2021

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 11669256

Số người Onlne: 16