Nghiên cứu → Đa chiều

Vì sao người Việt ít bằng sáng chế


 

 

 

Nhân đợt tham gia ý kiến về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ
 
VÌ SAO NGƯỜI VIỆT ÍT BẰNG SÁNG CHẾ
 
 
Hai sản phẩm nghiên cứu Khoa học và phát triển Công nghệ cơ bản và đặc trưng nhất của một quốc gia gồm: (1) Bài báo khoa học công bố trên các tạp chí Khoa học có uy tín, nhất là các tạp chí quốc tế ISI/Scopus. (2) Bằng sáng chế/Giải pháp hữu ích (Được bảo hộ trong nước và ở nước ngoài). Vị thế và sự đóng góp về KH&CN của quốc gia phụ thuộc chủ yếu vào số lượng và chất lượng của hai sản phẩm này.
 
1. Khái quát bằng sáng chế của người Việt Nam trong mặt bằng chung của thế giới và khu vực
Sáng chế của Việt Nam thường gộp chung sáng chế đăng ký tại Việt Nam của cả người Việt Nam và người nước ngoài, lên tới mấy ngàn bằng/năm. Nhưng khi bóc tách riêng sáng chế “thuần Việt” và so sánh với khu vực và thế giới thì bức tranh hoàn toàn khác.
 
 

Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh đã tổ chức Hội thảo tư vấn tham gia ý kiến vào Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ (Ngày 12/10/2021). Ảnh Susta.vn

 
Đến nay, toàn cầu, lũy kế có trên 70 triệu bằng sáng chế, số đang có hiệu lực  có khoảng trên 14 triệu bằng. Nhiều nhất là Mỹ chiếm 22%; Trung Quốc 16%; Nhật Bản 14 %, Ba nước chiếm trên 50% số bằng đang có hiệu lực. Tình hình đang có xu hướng thay đổi. Mấy năm gần đây, hàng năm thế giới có khoảng 3,5 triệu đơn và 1,5 bằng. Trong đó Khu vực Châu Á đã chiếm 65%, Bắc Mỹ 20%, Châu Âu 11%, các khu vực khác 4%. Đơn và bằng quốc tế IPC cũng có tình hình tương tự… Năm 2020, cả thế giới, có khoảng 275 ngàn đơn và khoảng 150 ngàn bằng IPC. Châu Á chiếm trên 52%, các châu lục khác 48%. Riêng 4 nước Trung quốc dẫn đầu, tiếp theo là Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, chiếm 72%, gần 200 nước còn lại chỉ chiếm khoảng 28%.
Bằng sáng chế của nước ta trong thời kỳ đổi mới cũng từng bước tăng trưởng, nhưng so với mặt bằng chung của khu vực và thế giới thì còn rất khiêm tốn. Trong vòng 40 năm (1980-2020) mới có 27.342 bằng độc quyền sáng chế (SC) và 2.550 bằng Giải pháp hữu ích (GPHI), bình quân mỗi năm có 684 bằng SC, 64 bằng GPHI. Xu hướng tăng trưởng tốt, năm 2020 có 4.319 bằng SC, 278 bằng GPHI, xếp thứ 87 trong số 131 nước xếp hạng thế giới, và thứ 5 khu vực Asean. Nhưng chủ yếu của người nước ngoài đăng ký tại nước ta, còn của người Việt rất ít, chỉ có 1.359 bằng SC, 1.871 bằng GPHI. Người Việt chỉ chiếm gần 5% bằng SC, còn 95% của người nước ngoài; Bằng GPHI thì 70% của người Việt, 30% của người nước ngoài. Riêng năm 2020, người Việt có 139 bằng SC, chỉ chiếm 3,2%, còn gần 97% là của người nước ngoài. GPHI khá hơn, có 201 bằng, chiếm 73%, còn lại 27% là của người nước ngoài. Đơn và bằng của người Việt, chủ yếu là ở TP Hà Nội và TP Hồ chí Minh, chiếm 50%, còn các tỉnh khác 50%. Trong 20 năm qua, nhiều tỉnh chỉ có 1-2 bằng , còn gần 15 tỉnh không có bằng nào. Bằng quốc tế của người Việt càng ít hơn. Suốt 40 năm chỉ có 26 bằng. Trong khi đó, riêng trong khu vực Asean, Singapor gần 6 ngàn bằng, Malaixia trên 2.000 bằng, Thái Lan hơn 500 bằng, Philipin hơn 399 bằng, Inđônêia gần 200 bằng... Riêng năm 2020, đăng ký 1278 đơn quốc tế, Malaixia đăng ký 255 đơn...
Việt Nam về dân số đứng thứ 15 thế giới thế giới và đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á (sau Indonesia và Philipines). Năm 2020, bài báo quốc tế đứng thứ 61 thế giới (Gồm 131 nước xếp hạng) và thứ 5 khu vực, nhưng chủ yếu là đồng tác giả với nước ngoài. Bằng sáng chế đứng thứ 87 thế giới, và cũng thứ 5 khu vực, nhưng 90% là của người nước ngoài (Đăng ký tại nước ta). Cả nước có trên 97 triệu dân, gần 3 triệu trí thức KH&CN, 2,8 vạn TS, 1.700 GS, gần 11 ngàn PGS, gần 800.000 Doanh nghiệp, 500 Doanh nghiệp KH&CN, trên 1.500 tổ chức KH&CN, 224 trường đại học và  236 trường cao đẳng. Nhưng tổng số bằng SC trong 40 năm qua cũng như số đơn và số bằng hàng năm hiện nay mỗi năm chỉ bằng một phần nhỏ của môt Công ty, một tập đoàn hay một trường đại học lớn ở nước ngoài. Ví dụ, Samsung (Hàn Quốc)  với 76.638 bằng, tiếp theo là IBM (Mỹ) với 37.304 bằng, Canon (Nhật Bản) với 35.724 bằng, đứng thứ 4 là GE (Mỹ) với 30.010 bằng sáng chế và thứ 5 là Microsoft (Mỹ) với 29.824 bằng. Trường Đại học Thanh Hoa (Trung quốc) trong 15 năm (1985-2010), đã được cấp 11.000 bằng. Năm 2020, toàn thế giới, bình quân cứ 2.250 người có 1 đơn và 5.250 người có 1 bằng sáng chế. Người nước ngoài đăng ký ở nước họ và người nước ngoài đăng ký ở nước ta, chủ yếu là bằng SC, chiếm trên dưới 90%, còn GPHI khoảng 10%. Còn người Việt Nam thì ngược lại, chủ yếu là bằng GPHI chiếm gần 60%, bằng SC chiếm 40% (Giải pháp được cấp Bằng SC đòi hỏi cả tính mới, tính sáng tạo và khả năng sản xuất công nghiệp, còn bằng GPHI chỉ yêu cầu tính mới, khả năng sản xuất công nghiệp, không yêu cầu trình độ sáng tạo như Bằng SC). Như vậy, năng suất sáng chế và trình độ sáng tạo của người Việt ta còn rất khiêm tốn.
 
2. Thử tìm hiểu nguyên nhân
-Sáng tạo kỹ thuật và thực thi SHTT đang là vấn đề mới của Việt Nam.
 Lịch sử dạy và học cũng như thi cử của nước ta trong hơn một ngàn năm (Trước thế kỷ 20) là Nho học, chủ yếu là văn chương, luận bàn trị quốc, còn các môn khoa học, nhất là khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ đến thế kỷ 20, khi chịu ảnh hưởng của Tây học, mới được đưa vào. Các nước phát triển đã có luật và thực thi bảo hộ quyền SHTT, trong đó có quyền sáng chế, đã hàng mấy trăm năm nay. Việt nam đến năm 1982 mới có văn bản quy phạm về bảo hộ sáng chế giống cây trông, sau đó, mấy năm mới bảo hộ sáng chế trong các lĩnh vực khác, đến năm 1984 mới có một số sáng chế đầu tiên. Đến năm 2005, mới có luật SHTT, còn trước đó để chung trong luật dân sự. Đến nay, đơn và bằng sáng chế từng bước tăng lên, nhưng chủ yếu là dưới dạng GPHI, ít sáng hế độc quyền. Còn ở các nước, chủ yếu là sáng chế độc quyền, ít GPHI. Chứng tỏ, trình độ sáng tạo kỹ thuật của người Việt Nam còn thấp hơn nhiều trình độ chung của thế giới. Người Việt có khả năng bắt chước, cải tiến nhưng tự mình sáng tạo công nghệ có bản quyền thì đang ít. Các doanh nghiệp quan tâm nhiều đến lách luật, lách cơ chế, chính sách để được hưởng các nguồn lực ưu đãi và địa tô chênh lệch, chuộng công nghệ nhập ngoại hơn là công nghệ trong nước. Ở nhiều nước từ lâu đã cạnh tranh phát triển bằng sáng chế độc quyền, bằng tài sản trí tuệ. Ở các nước phát triển, giá trị tài sản trí tuệ đã chiếm 50-80% giá trị tài sản quốc gia. Còn ở ta đến những năm 90 của thế kỷ 20, vẫn chưa định giá tài sản trí tuệ của doanh nghiệp. Đến nay, vẫn chưa tính toán thống kê được giá trị và cơ cấu tài sản trí tuệ trong nền kinh tế quốc dân.
 
 

Đoàn đại biểu quốc hội tỉnh tổ chức lấy ý kiến về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ (Ngày 13/10/2021) 

 
Sản phẩm sáng tạo kỹ thuật của người Việt đã ít, nhưng đăng ký quyền SHTT lại càng ít hơn. Đăng ký và thực thi quyền SHTT về bản quyền tác giả trong lĩnh vực văn học nghệ thuật khá rõ nét, có các trung tâm bảo vệ tương đối hiệu quả, bản thân các tác giả cũng quan tâm đấu tranh chống vi phạm. Còn trong lĩnh vực KH&CN thì lại khác. Nạn đạo văn phát triển tràn lan, nhiều nơi xuất hiện chợ trời truyền thống và chợ trời trên mạng mua bán luận văn tốt nghiệp cử nhân, thạc sĩ, luận án tiến sĩ, bài báo khoa học trong nước và quốc tế... Nạn đạo văn có thể nói là nghiêm trọng, nhưng phản ứng của xã hội và của tác giả lại yếu ớt và cơ quan quản lý nhà nước cũng chưa có biện pháp xử lý khả thi. Trong lĩnh vực sáng chế cũng có tình trạng tương tự. Khi nghiên cứu ra được hoặc khai thác, cải tiến của người khác thì tranh thủ sản xuất, thương mại hóa sản phẩm để bán trên thị trường, không quan tâm đến đăng ký sáng chế hay kiểu dáng công nghiệp. Mọi người ai cũng vừa là bên bị xâm phạm vừa là bên xâm phạm quyền SHTT, tất cả đều vừa bức xúc vừa vui vẻ. Theo thống kê của cục SHTT, đến nay, đến cả doanh nghiệp, trên 70% doanh nghiệp đăng ký nhãn hiệu, trên 50% đăng ký kiểu dáng công nghiệp, còn đăng ký sáng chế chưa đến 10%. Ở các nước, các doanh nghiệp lớn, nhất là các tập đoàn, sở hữu hàng ngàn, hàng vạn sáng chế độc quyền, còn Doanh nghiệp Việt Nam nhiều lắm cũng mấy chục sáng chế. Các Trường đại học lớn, các tổ chức KH&CN lớn cũng sở hữu hàng ngàn sáng chế, còn ở nước ta, nhiều lắm cũng mới ở hàng chục, hàng trăm. Một phận vì nhận thức coi trọng tài sản vật chất hơn tài sản trí tuệ. Một phần vì không tự tin, khi thấy tỷ lệ đăng thành công thấp (Khoảng 15% đăng ký thành công sáng chế độc quyền, 30% đang ký thành công GPHI), một phần ngại thủ tục phức tạp.
- Luật pháp, cơ chế chính sách còn nhiều mặt bất cập
Nước ta mới có Luật SHTT độc lập từ năm 2005 (Trước đó là một phần của bộ Luật dân sự), nhưng lại sửa đổi, bổ sung nhiều lần (2009, 2019), nay (2021-2022) tiếp tục sửa đổi bổ sung để hội nhập, thống nhất về SHTT với các công ước quốc tế mà ta đã tham gia ký kết. Việc vi phạm quyền SHTT tương đối phổ biến, từ đạo văn các công trình nghiên cứu đến vi phạm quyền sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, nhưng việc xử phạt hành chính và giải quyết tại tòa án còn rất hạn chế.
Từ năm 2015 đến 2020, bình quân hàng năm riêng ngân sách nhà nước đầu tư trên 10 ngàn tỷ đồng cho tăng cường tiềm lực KH&CN và 12 ngàn tỷ đồng cho nghiên cứu trên 2.500 đề tài đặt hàng các cấp. Kết quả nghiên cứu thuộc sở hữu nhà nước, phía chủ trì và chủ nhiệm đề tài không quan tâm nhiều đến việc đăng ký sáng chế hay chuyển giao ứng dụng hậu đề tài. Việc quy định và thực thi kiểm soát sản phẩm không chặt chẽ, cùng với cơ chế nhà nước sỡ hữu và trực tiếp quản lý sản phẩm nghiên cứu nên hầu như các đề tài, dự án KHCN đặt hàng không tạo ra được có sang chế nào.
 Thủ tục đăng ký sáng chế còn kéo dài (Sáng chế độc quyền 42 tháng, GPHI 36 tháng), trong thực tế thường kéo dài 4-5 năm hoặc hơn. Như vậy, chúng ta ít đơn, ít bằng, nhưng thủ tục lài kéo dài hơn nhiều nước. Như Mỹ thông thường 18 tháng, phức tạp thì 28 tháng. Châu âu thông thường 12 tháng, phức tạp thì 24 tháng. Nhật Bản 3 năm. Trung quốc 2 năm. Các nước khác trong khu vực thường là 3 năm, ưu tiên thì 1-2 năm. Hồ sơ thủ tục phức tạp, lại chưa được các cơ quan chức năng ở địa phương hướng dẫn, tư vấn, giúp đỡ thuận lợi. Chi phí cũng khá tốn kém (Koảng trên dưới 20 triệu/hồ sơ, bao gồm phí, thuê tư vấn, đi lại, ăn ở và một số chi phí khác). Mức này là cao đối với cá nhân, nhưng chưa được nhà nước hỗ trợ. Trong khi đề tài nghiên cứu lại được nhà nước đầu tư tương đối lớn (Bình quân trên dưới 1 tỷ đồng/đề tài).
Các bộ chuyên ngành cũng có văn bản quy phạm pháp luật công nhận tiến bộ kỹ thuật theo ngành với số lượng phát sinh hàng năm tương đối lớn. Tiến bộ kỹ thuật được bộ chuyên ngành công nhận mới được chính thức chuyển giao hợp pháp trong ngành, được hưởng quyền lợi như sáng chế. Tổ chức và cá nhân có tiến bộ kỹ thuật được công nhận được quảng cáo, công bố, ứng dụng và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất theo quy định của pháp luật; được khiếu nại, tố cáo về các hành vi vi phạm về quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật. Giải pháp được cấp bằng độc quyền sang chế có khi cũng gặp vướng mắc trong việc chuyển giao áp dụng. Ví dụ, “Giải pháp cấy lúa hiệu ứng hàng biên” của vợ chống kỹ sư Chu Văn Tiệp được cấp bằng độc quyên sáng chế, được giải Nhì tại Hội thi sáng tạo kỹ thuật toàn quốc, được giới thiệu tại hội chỡ KHCN Việt Nam. Nhưng triển khai chuyển giao rất vất vả, các địa phương chưa ủng hộ nhiều, vì chưa được bộ NN&PTNN đặc cách công nhận Tiến bộ kỹ thuật của ngành.
3. Một số khuyến nghị
Luật SHTT đã hai lần sửa đổi, hiện nay đang được lấy ý kiến để tiếp tục sửa đổi, bổ sung lần thứ ba để hội nhập, thống nhất với các hiệp định quốc tế mà nước ta đã ký kết, đồng thời giải quyết các vướng mắc phát sinh. Về sáng chế, có một số vấn đề liên quan cần được quan tâm xem xét đưa vào luật. Đó là:
1. Tăng cường công tác truyền thông để nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của các chủ thể sáng chế và chủ thể sáng chế tiềm năng. Đồng thời làm tốt công tác quản lý SHTT, chống ăn cắp bản quyền, tạo môi trường thuận lợi cho sáng chế xuất hiện. Tiếp tục duy trì và tăng cường xử phát hành chính, đồng thời giải quyết tại tòa các vi phạm quyền sáng chế (Việc bỏ xử phạt hành chính, chỉ giải quyết tại tòa án đối với vi phạm SHTT về sáng chế và kiểu dáng công nghiệp như dự thảo Luật là chưa phù hợp với thực tiễn ở nước ta hiện nay).
2. Tăng cường công tác tư vấn, hướng dẫn đăng ký sáng chế, định giá sáng chế Đẩy mạnh CCHC, ứng dụng CNTT, tiếp tục rút ngắn thời gian thẩm định đơn và cấp bằng sáng chế theo chuẩn chung của các nước tiên tiến. Những sáng chế được định giá, cho phép thế chấp vay vốn và góp vốn để khỏi nghiệp sáng tạo.
3. Hoàn thiện cơ chế chính sách theo hướng khuyến khích hơn đối với sáng chế. Hộ trợ kinh phí đăng ký đơn và duy trì bằng sáng chế cho đến khi sáng chế được khai thác, thương mại hóa. Miễn hoặc giảm sâu việc đánh thuế đối với giá trị tài sản SHTT, nhất là sáng chế so với tài sản vật chất (Hữu hình).
4. Xếp hạng đẳng cấp các trường đại học, tổ chức KH&CN vừa theo chỉ số công bố khoa học, vừa theo bằng sáng chế. Đưa chỉ số sáng chế vào xếp hạng các doanh nghiệp, các doanh nghiệp KH&CN, các tập đoàn công nghiệp, tập đoàn kinh tế...
5. Nâng cao chất lượng các nhiệm vụ KH&CN đặt hàng sử dụng ngân sách nhà nước, xác định rõ hơn sản phẩm đầu ra là bài báo khoa học và đăng ký sáng chế. Quy định cụ thể, chặt chẽ hơn về trách nhiệm của cơ quan chủ trì và chủ nhiệm đề tài, dự án khoa học đối với công bố khoa học và đăng ký sáng chế. Nhà nước là chủ sở hữu sản phẩm các nhiệm vụ KH&CN đặt hàng, còn việc sử dụng để đang ký sáng chế, chuyển giao ứng dụng giao cho các đơn vị chủ trì và cả các đơn vị khác có năng lực và có như cầu.
6. Các bộ chuyên ngành liên quan đến lĩnh vực KH&CN của sáng chế đặc cách công nhận sáng chế được cấp bằng bảo bộ là tiến bộ kỹ thuật để chuyển giao áp dụng trong ngành. 
7. Nâng cao chất lượng các giải pháp dự thi và Giải thưởng của Hội thi sáng tạo kỹ thuật các cấp, Cuộc thi sáng tạo TTNNĐ các cấp và các hội thi KH&CN khác, các sáng kiến cấp cơ sở và cấp tỉnh  để tạo nguồn sáng chế. Tổ chức nề nếp các hội thi sáng chế, tổ chức các sàn giao dịch sáng chế, kết nối các trường đại học, viện nghiên cứu, tổ chức KH&CN với doanh nghiệp để khai thác, thương mại hóa sáng chế.
8. Khi có yêu cầu phục vụ quốc phòng, an ninh, phục vụ nhu cầu bức thiết xã hội, nhà nước có thể cấm hoặc hạn chế quyền của chủ sở hữu sáng chế, trưng dụng quyền sáng chế. Đồng thời, khi cần, nhà nước có thể kêu gọi, động viên, khuyến khích và vinh danh chủ thể quyền SHTT tự nguyện hiến tặng quyền SHTT vĩnh viễn hoặc có thời hạn cho nhà nước và cộng đồng.
Tôn vinh, khen thưởng những người có sáng chế có giá trị. Coi trọng sáng chế trong việc trao Giải thưởng KH&CN các cấp.     
                                                                                             CVCC Phan Đức Ngữ
Tài liệu tham khảo chính:
1. Báo cáo thường niên vê Sỡ hữu trí tuệ Việt Nam, từ năm 2011-2020, IPI VIETNAM, noip.gov.vn, Cục sỡ hữu trí tuệ, Bộ KH&CN
2. Tổng quan và số liệu thống kê sõ hữu trí tuệ thế gới thường niên,Wipo.int. nguôn  internet.
3. Các bài viết về sở hữu trí tuệ, sáng chế của thế giới và Việt Nam, về các doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu có nhiều sáng chế của thế giới và Việt Nam. Nguồn  internet.
4. Luật SHTT hợp nhất năm 2019, Dự thảo luật sử đổi, bổ sung luật SHTT năm 2021.
5. Tài liệu hội thảo tư vấn tham gia ý kiến về Dự thảo luật sử đổi, bổ sung luật SHTT năm 2021 của Liên hiệp các hội KH&KT, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh.
  
 

Số lần đọc : 210   Cập nhật lần cuối: 18/10/2021

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 11668998

Số người Onlne: 22