Nghiên cứu → Lịch sử

Trận quyết chiến chiến lược giành toàn thắng


 

 

 

TRẬN QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC GIÀNH TOÀN THẮNG
                                                                                      
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 với trận mở đầu Buôn Ma Thuột và Chiến  dịch Tây Nguyên, tiếp đó là Chiến dịch Huế - Đà Nẵng, cuối cùng là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đã kết thúc hoàn toàn thắng lợi, làm nức lòng nhân dân cả nước, làm cả hành tinh chấn động.

Ảnh: Bình Phước Online

 

         Ngày 14-4-1975, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đặt tên "Chiến dịch Hồ Chí Minh" cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng giành toàn thắng bắt đầu từ 17 giờ ngày 26 tháng 4 năm 1975 đến 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975 với phương châm "thần tốc, táo bạo, bất ngờ, tất thắng".  
         Lực lượng ta tham gia chiến dịch có các quân đoàn 1,2,3,4 và đoàn 232 (tương đương quân đoàn)... Đó là những binh đoàn chủ lực vừa chiến thắng lớn ở Buôn Ma Thuột, Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng và trên chiến trường miền Đông Nam Bộ. Tham gia chiến dịch còn có các trung đoàn, tiếu đoàn bộ đội địa phương, các trung đoàn đặc công, biệt động ...  đã nhiều năm bám trụ chiến trường, am hiểu địa hình trong và ngoài thành phố Sài Gòn.
         Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định tiến công giải phóng Sài Gòn từ năm hướng: tây-bắc, đông-bắc, đông đông-nam, tây và tây-nam.
         Hướng tây-bắc: Quân đoàn 3 do Thiếu tướng Vũ Lăng làm Tư lệnh, Đại tá Đặng Vũ Hiệp làm Chính ủy, có 3 sư đoàn bộ binh và các đơn vị binh chủng, tổng cộng khoảng 46.000 người. Ngoài ra, còn có 2 trung đoàn Gia Định (1 và 2), các đội đặc công - biệt động của Thành đội Sài Gòn và được sự chi viện của pháo binh và phòng không chiến dịch. Lực lượng trên hướng này có nhiệm vụ đánh chiếm Đồng Dù, tiêu diệt sư đoàn 25 ngụy, đánh chiếm sân bay Tân sơn Nhất, và cùng với quân đoàn 1 chiếm Bộ Tổng tham mưu ngụy.
         Hướng đông-bắc: Quân đoàn 1 (thiếu sư đoàn 308) do Thiếu tướng Nguyễn Hòa làm Tư lệnh, Thiếu tướng Hoàng Minh Thi làm Chính ủy, có 2 sư đoàn bộ binh và các đơn vị binh chủng (khoảng 30.000 người), được tăng cường trung đoàn 95 bộ binh (sư đoàn 325, quân đoàn 2) và một trung đoàn cao xạ tự hành, có nhiệm vụ đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu ngụy và căn cứ Bộ Tư lệnh các binh chủng ngụy ở Gò Vấp.
         Hướng đông đông-nam: Có hai quân đoàn: Quân đoàn 4 do Thiếu tướng Hoàng Cầm làm Tư lệnh, Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện làm Chính ủy, có 3 sư đoàn bộ binh và các đơn vị binh chủng (khoảng 30.000 người), được tăng cường lữ đoàn 52 bộ binh (Quân khu 5), một tiểu đoàn pháo 13 ly, 3 tiểu đoàn xe tăng thiết giáp, một trung đoàn và một tiểu đoàn cao xạ hỗn hợp, có nhiệm vụ tiêu diệt sở chỉ huy Bộ Tư lệnh Quân khu 3 và sư đoàn 18 ngụy ở Biên Hòa, sau đó thọc sâu vào nội thành chiếm dinh Độc Lập. Quân đoàn 2 do Thiếu tướng Nguyễn Hữu An làm Tư lệnh và Thiếu tướng Lê Linh làm Chính ủy, có 3 sư đoàn bộ binh và các đơn vị binh chủng (khoảng 40.000 người), có nhiệm vụ đánh chiếm Bà Rịa, Nước Trong, Long Bình, chặn sông Lòng Tàu, sau đó, vào nội thành, cùng với quân đoàn 4 chiếm dinh Độc Lập.
         Hướng tây và tây-nam: Đoàn 232 do Trung tướng Lê Đức Anh làm Tư lệnh và Thiếu tướng Lê Văn Tưởng làm Chính ủy, có 3 sư đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn xe tăng thiết giáp và một đại đội thiết giáp, một tiểu đoàn pháo 130 ly, một trung đoàn và 5 tiểu đoàn pháo cao xạ cùng với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương Quân khu 8 (khoảng 4.200 người), có nhiệm vụ tiêu diệt sư đoàn 25 ngụy, cắt đứt đường số 4, rồi thọc sâu đánh chiếm biệt khu thủ đô ngụy, Tổng Nha Cảnh sát. (1)
         Điểm hội quân là dinh Độc Lập.
         0 giờ ngày 29-4-1975, cũng là giờ quy định cho các đơn vị đặc công, các đội biệt động, các đơn vị bộ đội địa phương từ những nơi ém quân ở ngoại ô và nội thành, đồng loạt đứng dậy đánh chiếm các mục tiêu được giao phó.
         Năm cánh quân của đại quân ta theo 5 hướng từ 0 giờ ngày 29-4-1975 đều triển khai nhanh chóng, nhịp nhàng, tiến vào Sài Gòn như thác đổ.
         Đến sáng ngày 30-4-1975, quân ngụy đã bị dồn vào Sài Gòn, không còn đường tẩu thoát, tan rã tại chỗ và đầu hàng.
         Khi cả bốn phương đều tràn ngập quân Giải phóng, Tồng thống Dương Văn Minh ra lệnh cho Thủ tướng Vũ Văn Mẫu đưa bản tuyên bố phát trên Đài Phát thanh Sài Gòn: “Xin ngừng bắn để cùng thảo luận về việc bàn giao chính quyền”.
         Nhận được tin này, đồng chí Phạm Hùng, Bí thư Trung ương Cục miền Nam, sau khi thồng nhất với các đồng chí trong Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh, đã chỉ thị cho đồng chí Nguyễn Văn Quảng, Phó Chủ nhiệm Chính trị Miền, điện gấp bức điện lệnh ZN: “Các cánh quân nhanh chóng đánh chiếm tất cả các mục tiêu đã quy định. Địch phải đầu hàng. Không còn gì để thương lượng, bàn giao, dinh Độc Lập làm nơi hội quân cuối cùng, Tiến lên ! Giành toàn thắng ! Ký điện: Phạm Hùng”. (2)
Lực lượng Quân đoàn 2 tiến vào Dinh Độc lập theo hai ngả: Hồng Thập Tự và Đại lộ Thống Nhất (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai và Lê Duẩn). Mũi dẫn đầu là những chiếc xe tăng của Đại đội 4 Lữ đoàn 203. Tiếp sau đó là một bộ phận của Trung đoàn bộ binh 66.
         Chiếc xe tăng 483 do Trung úy Đại đội trưởng Bùi Quang Thận chỉ huy, húc cánh trái cổng Dinh Độc Lập, nhưng tự nhiên chết máy, phải tạm dừng. Chiếc xe tăng 390 do Trung úy Chính trị viên Đại đội 4 Vũ Đăng Toàn chỉ huy, tiến lên húc đổ cánh cổng chính, tiến trước vào sân Dinh Độc Lập, sau đó là xe tăng 843. Một chiếc xe Jeep của biệt động giương cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam cũng tiến qua cổng. Nhiều xe tăng khác của Quân đoàn 2 tiếp tục tiến vào triển khai đội hình xung quang Dinh Độc Lập.
         Tổng thống Dương Văn Minh và Nội các Sài Gòn đang ở tư thế chờ quân Giải phóng vào, sẵn sàng chấp nhận các điều kiện của quân Giải phóng. Tổng trưởng Thương mại và Kỹ nghệ của nội các ngụy Sài Gòn Nguyễn Văn Diệp (cơ sở cách mạng) mang băng vải trắng đón quân Giải phóng ở dưới lầu. Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh hướng dẫn các chỉ huy quân Giải phóng (gồm có các trung tá Nguyễn Tấn Tài, Bùi Văn Tùng, Lữ đoàn trưởng và Chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203 thuộc Quân đoàn 2; Đại úy Pham Xuân Thệ, Trung đoàn phó Trung đoàn 66 và một số chiến sĩ khác) vào phòng họp, nơi Tổng thống Dương Văn Minh, Phó Tổng thống, Thủ tướng và các bộ trưởng trong Nội các Sài Gòn đang chờ “bàn giao”.
         Có mặt trong, ngoài dinh Độc Lập lúc bấy giờ có phóng viên người Đức Borries Gallasch, nhà báo Pháp De Mulder (người chụp ảnh các xe tăng húc cổng Dinh Độc Lập), phóng viên hãng Reuters...
         Chánh văn phòng Phủ Tổng thống hướng dẫn Bùi Quang Thận (cùng Tiểu đội phó Trần Đức Tình) lên nóc Dinh, hạ cờ ba sọc, giương cao cờ đỏ sao vàng. Lúc đó là 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975.
         Trả lời đề nghị của Dương Văn Minh; “Chúng tôi xin bàn giao chính quyền cho cách mạng”, Trung tá Chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203 Bùi Văn Tùng nói: “Các ông không còn gì để bàn giao, chỉ có đầu hàng vô điều kiện”. Theo tường thuật của nhà báo Borries Gallasch, Tổng thống Dương Văn Minh tỏ ra bình tĩnh và giữ tư thế đúng mực.
Trung tá Bùi Văn Tùng bắt tay Dương Văn Minh và nói: “Ông Minh, chúng tôi muốn ông cùng chúng tôi đến ngay Đài Phát thanh và kêu gọi quân đội đầu hàng hoàn toàn để không đổ máu nữa”. Dương Văn Minh nói:”Tôi đã tuyên bố đầu hàng rồi”. Tô Văn Cang (đang mang danh nghĩa “lực lượng thứ ba” cũng có mặt, thuyết phục: ”Lúc nãy tuyên bố hàng mà chưa tiếp xúc với quân Giải phóng, còn bây giờ gặp nhau rồi nên tuyên bố lại”. Dương Văn Minh đồng ý.
Hai chiếc xe Jeep rời Dinh Độc Lập để đến Đài Phát thanh ở đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, nơi Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 66 đang chiếm giữ. Xe đi trước, có Đại úy Phạm Xuân Thệ, Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu. Xe đi sau, có Trung tá Bùi Văn Tùng, nhà báo Đức Borries Gallasch, và một luật sư.
Nhà báo Đức, Borries Gallasch, tường thuật: “Chúng tôi đi vào phòng thu nhỏ trên lầu một..., chúng tôi ngồi bất động một lát. Tổng thống Dương Văn Minh và Chính ủy xe tăng Bùi Văn Tùng ngồi trên hai chiếc ghế và tôi ngồi giữa họ tại một chiếc bàn nhỏ. Ông Bùi Văn Tùng thảo văn kiện đầu hàng trên một mảnh giấy màu xanh...” Văn kiện được chỉnh sửa vài lần và đã được Tổng thống Dương Văn Minh đọc để ghi vào băng.
“Tôi, Đại tướng Dương Văn Minh, Tổng thống chính quyền Sài Gòn kêu gọi quân lực Cộng hòa hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn từ Trung ương đến địa phương giải tán hoàn toàn”.
Vũ Văn Mẫu phát biểu tiếp theo: “Trong tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, tôi, giáo sư Vũ Văn Mẫu, Thủ tướng, kêu gọi tất cả các tầng lớp đồng bào vui vẻ chào mừng ngày hòa bình của dân tộc, và trở lại sinh họạt bình thường. Các nhân viên của các cơ quan hành chánh quay trở về vị trí cũ theo hướng dẫn của Chinh phủ Cách mạng”.
Chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203 Bùi Văn Tùng đọc lời chấp nhận đầu hàng: “Chúng tôi đại diện lực lượng quân Giải phóng miền Nam Việt Nam long trọng tuyên bố Thành phố Sài Gòn đã được giải phóng hoàn toàn, chấp nhận sự đầu hàng không điều kiện của tướng Dương Văn Minh, Tổng thống chính quyền Sài Gòn”.
Các lời tuyên bố nói trên đã được Đài Phát thanh Sài Gòn phát đi phát lại nhiều lần. Chiến dịch Hồ Chí Minh đã toàn thắng. Cả dân tộc ca vang khúc khải hoàn “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”.
         Cùng ngày, quân ta đã giải phóng các tỉnh Long An, Bình Dương, Tây Ninh, Cần Thơ, Trà Vinh, Sóc Trăng, Rạch Giá, Bạc Liêu và đảo Phú Quốc.
         Ngày 1-5-1975, các tỉnh Vĩnh Long, Bến Tre, Mỹ Tho, Gò Công, Kiến Tường, Cà Mau, Long Xuyên, Sa Đéc, Chương Thiện và Côn Đảo được giải phóng. Ngày 2-5-1975, giải phóng thị xã Châu Đốc.
         Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử là mốc son chói lọi nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, một bản anh hùng ca bất diệt, một dấu ấn quan trọng của loài người tiến bộ và một trong những chiến công vang dội nhất của thế kỷ 20.
                                                                                 Nguyễn Xuyến
                                                                                                   
Nguồn tư liệu : Lịch sử Nam Bộ kháng chiến – Tập II (1954 – 1975) – NXB Chính trị quốc gia – 2010.
        (1) Báo Nhân Dân, số 17445, ngày 30-4-2003.
        (2) Báo Công an TP Hồ Chí Minh, số 1038, ngày 30-4-2002.
-------------------------------------------------------------------------------------    Địa chỉ         :    Nguyễn Xuyến - 8 Kiệt 65 Phan Bội Châu - Huế  
Điện thoại                     0234. 3820347 - 090.3589065
Email           :                    nguyenxuyen65@gmail.com
Tài khoản    :                               Nguyễn Xuyến
                                                   103 000368 501

 

                 Chi nhánh Ngân hàng T Công thương Thừa Thiên - Huế

Số lần đọc : 69   Cập nhật lần cuối: 30/04/2021

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 10924004

Số người Onlne: 54