Nghiên cứu → Doanh nghiệp - Sáng tạo

Tìm hiểu đổi mới sáng tạo


 

 

 

 TÌM HIỂU ĐỔI MỚI SÁNG TẠO
 
                                                                                                        CVCC. Phan Đức Ngữ
 
Vừa qua, Đại hội các đảng bộ địa phương (Tỉnh, thành phố, huyện, quận) nhiệm kỳ 2020-2025 đều đưa thành tố “Đổi mới sáng tạo” (ĐMST) vào chủ đề hoặc phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ trong Báo cáo chính trị. Tuy nhiên, nội hàm ĐMST chưa rõ ràng, còn có cách hiểu khác nhau. Có nơi dùng “đổi mới, sáng tạo” hoặc “đổi mới và sáng tạo”, nơi khác lại dùng “đổi mới sáng tạo”.
          Bài viết này góp phần tìm hiểu vấn đề bạn đọc và các địa phương tham khảo.
 
1. Đổi mới, sáng tạo
Đổi mới (ĐM), sáng tạo (ST) ở đây là hai từ riêng, độc lập, ở giữa có “dấu phẩy” hoặc chữ “và”. ĐM là cái vốn có của mọi vận động và phát triển trong tự nhiên, xã hội cũng như trong tư duy để thích nghi với những sự thay đổi của môi trường sống. Đối với xã hội, ĐM là một phản ứng mang tính tự nhiên của xã hội để bảo đảm sự thích nghi của nó trước những biến đổi môi trường tự nhiên, môi trường quốc tế, để thích ứng với tình thế. ĐM là quá trình vận động tự nhiên của mọi hiện tượng xã hội.
Vì vậy, “đổi mới” là từ, là khái niệm khá thông dụng trong tiếng Việt, và được sử dụng cho nhiều hoàn cảnh, đối tượng. Theo cách hiểu thông thường, Đổi mới là thay bỏ cái cũ hoặc làm mới cái cũ, hoặc phát triển cái hoàn toàn mới tiến bộ, ưu việt hơn. Về mặt xã hội, đó là  thay cách nghĩ, cách làm cũ lạc hậu, lỗi thời, không đáp ứng được nhu cầu phát triển, bằng cách nghĩ, cách làm khác, tiến bộ hơn, hợp với quy luật của sự phát triển. Ngay từ năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng khái niệm “đổi mới” trong sự vận dụng cụ thể vào đổi mới đất nước. Người viết: “Công cuộc Đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân”. Trong Báo cáo tại Hội nghị Chính trị đặc biệt năm 1964, Người viết: “Trong 10 năm qua, miền Bắc nước ta đã tiến những bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc. Đất nước, xã hội, con người đều Đổi mới”.
“Sáng tạo” cũng vậy, cũng là từ, là khái niệm thông dụng. Đơn vị này, đơn vị kia hay người này, người kia vẫn thường được cấp có thẩm quyền hoặc dư luận xã hội đánh giá là có cách làm sáng tạo, hay không sáng tạo, rập khuôn, máy móc... Sáng tạo là tạo ra cái hoàn toàn mới, hoặc thay đổi căn bản tính năng tác dụng của cái tượng tự, giá trị đem lại cũng cao hơn. 
ĐM và ST và là hai mặt có quan hệ mật thiết, gắn liền với nhau trong một quá trình phát triển. Trong ĐM có ST và ngược lại. Chúng ta thường  nói đến việc vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng...
Đó là theo cách hiểu thông thường, nghĩa phổ thông, thường xuyên, rộng rãi. Văn bản quy phạm pháp luật không quy định chung về khái niệm “Đổi mới” hay “Sáng tạo”, mà quy định “Tính mới”, “Tính sáng tạo” hay “Trình độ sáng tạo” liên quan đến nhiệm vụ KH&CN, sáng kiến và các đối tượng sở hữu trí tuệ. Theo Luật KH&CN (2013) và các văn bản quy phạm liên quan khác, vấn đề nghiên cứu của đề tài hay đề án, dự án KH&CN phải có tính mới, không trùng lặp với cái đã có. Theo Nghị định số 13/2012/NĐ-CP ngày 02 tháng 3 năm 2012 của Chính phủ về Điều lệ sáng kiến, thì một giải pháp (Giải pháp kỹ thuật, giải pháp quản lý, giải pháp tác nghiệp, hoặc giải pháp ứng dụng tiến bộ kỹ thuật) được coi là có tính mới khi: Không trùng với nội dung của giải pháp khác của bản thân hoặc của người khác; Chưa bị bộc lộ công khai trong các văn bản, sách báo, tài liệu kỹ thuật đến mức căn cứ vào đó để thực hiện được ngay; Chưa được quy định thành tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm bắt buộc phải thực hiện. Theo Luật sở hữu trí tuệ năm 2019, thì Sáng chế hay giải pháp hữu ích được coi là có tính mới khi không trùng với giải pháp khác đã được bảo hộ, và chưa bị bộc lộ công khai ở trong nước hoặc ở nước ngoài; Và được coi là có trình độ sáng tạo nếu không thể được tạo ra một cách hiển nhiên, một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng trong nước và thế giới. Các đối tượng sở hữu trí tuệ khác (Nhóm sản phẩm sở hữu công nghiệp) cũng đòi hỏi có tính mới (Như nhãn hiệu hàng hóa) hoặc vừa có tính mới vừa có tính sáng tạo (Như kiểu dáng công nghiệp). Nhóm sản phẩm bản quyền tác giả (Công trình khoa học, tác phẩm văn học nghệ thuật) phải là công trình, tác phẩm mới do bản thân tác giả sáng tạo ra, có giá trị khoa học, nghệ thuật và giá trị sử dụng, không được sao chép, đạo văn, không trùng lặp với công trình, tác phẩm của người khác hoặc của bản thân.
          Như vậy, khi nói đến “đổi mới” chung thì thiên về khái niệm phổ thông. “Đổi mới” trong văn kiện của các cấp ủy đảng và văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước là đổi mới chủ trưởng, cơ chế, chính sách, pháp luật, tổ chức bộ máy, vận dụng thực hiện. Còn khi nói đến sáng tạo, tính mới, tính sáng tạo thì cần phân biệt nói chung hay liên quan đến các đối tượng sỡ hữu trí tuệ.
Khi đi sâu hơn về tính chất thì ĐM và ST có đặc trưng, chúng ta có thể nhận diện đại thể như sau.
 
Tiêu chí
Đổi mới
Sáng tạo
1. Khái niệm
Thay cái cũ (hay làm cho cái cũ) thành cái mới tốt đẹp hơn.
Tạo ra cái hoàn toàn mới , hoặc khác biệt căn bản về tính năng, tác dụng và giá trị ưu việt hơn so với cái tương tự đã có.
2. Đối tượng
Tự nhiên, xã hội, tư duy.
Tư duy
3. Phạm vi
Chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại...
KH&CN, Văn học nghệ thuật, giải trí...
4. Chủ thể
Các cấp, các ngành, doanh nghiệp, đơn vị, cá nhân.
Cá nhân là chủ yếu (Tác giả, đồng tác giả)
5. Yêu cầu
 Được vận dụng, trùng lặp (ở mức độ khác nhau) trong nước và giữa các nước, các địa phương, đơn vị.
Không được trùng lặp trong nước và nước ngoài. Không được đạo văn.
6. Quá trình
- Tiệm tiến,thường xuyên hoặc đột phá.
- Xuất phát từ vĩ mô (tầm quốc gia).
-Thường xuyên, liên tục.
- Xuất phát từ đơn vị, cá nhân.
7. Sản phẩm đặc trưng
- Đường lối, chủ trương, pháp luật, cơ chế, chính sách, sản phẩm,  tiêu chuẩn, quy chuẩn, tổ chức, bộ máy, phương thức quản lý, vận hành...
- Không được bảo hộ, không có bản quyền. Không có giá trị thương mại.
- Có sự nghiên cứu hoặc nảy sinh hiển nhiên.
- Công trình, sáng kiến, tác phẩm, sáng chế, giải pháp hữu ích, các đối tượng sở hữu trí tuệ khác (kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý...).
- Được bảo hộ. Có giá trị thương mại (Trừ công bố khoa học).
- Không nảy sinh hiển nhiên mà có sự nghiên cứu trên mức trung bình xã hội.
8. Cơ chế
phát sinh
Trách nhiệm chính trị, sứ mạng lãnh đạo, quản lý hoặc thích ứng (Đối với cá nhân).
- Lợi ích và vinh dự, đam mê.
9.Thẩm quyền
Mang tính chất thứ bậc
Không mang tính chất thứ bậc.
10.Chức năng
Tạo môi trường (Sản phẩm đầu vào)
Sản phẩm đầu ra.
 
2. Đổi mới sáng tạo
“Đổi mới sáng tạo” (ĐMST) ở đây là một từ viết liền (Không có “dấu phẩy” hay chữ “và” ở giữa). Nghĩa của nó khong phải là đổi mới sự sáng tạo, mà được hiểu là quá trình sáng tạo, bao gồm cả môi trường, điều kiện để sáng tạo và sản phẩm sáng tao, hơn nữa nó luôn đi đôi với chỉ số ĐMST toàn cầu “Global Innovation Index”, viết tắt là “GII”. Khái niệm ĐM không được đưa vào trong văn bản quy phạm pháp luật, còn ST tuy có có đưa vào, nhưng ở dạng tính từ, hay trạng từ của một khái niệm khác (Ví dụ, như sáng kiến phải có tính mới, sáng chế, công trình khoa học, tác phẩm văn học nghệ thuật phải có tính mới, tính sáng tạo...). ĐM và ST không tiêu chí độc lập để đánh giá và xếp hạng toàn cầu cho từng quốc gia. ĐMST lại khác. Nếu ĐM hay ST là hai từ thông dụng thì ĐMST là một khái niệm mới. Ở nước ta, ĐMST được đưa vào luật KH&CN (2013). Theo đó, ĐMST là việc tạo ra, ứng dụng thành tựu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa. Trước đó, từ năm 2007 tới nay, tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) tiến hành đánh giá và xếp hạng GII cho từng quốc gia (Trên 130 quốc gia). Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) còn đánh giá và xếp hạng các quốc gia về chỉ số Năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI). Ngân hàng thế giới (WB) cũng xếp hạng toàn cầu về chỉ số kinh tế tri thức (KEI), trong đó có chỉ số thành phần KI về sáng tạo.
Như vậy, khi nói đến ĐMST là phải gắn với GII, chứ không phải theo cách hiểu thông thường như ĐM hay ST. Những năm đầu, GII chủ yếu liên quan đến KH&CN, cho nên, có lúc GII (Tuy cũng là “Global Innovation Index”, được gọi là chỉ số sáng tạo toàn cầu. GII hiện nay toàn diện hơn, gồm 7 chỉ số cơ bản: (1) Thể chế; (2) Nguồn nhân lực và nghiên cứu; (3) Cơ sở hạ tầng; (4) Thị trường; (5) Kinh doanh; (6) Sản phẩm tri thức và công nghệ; (7) Sản phẩm sáng tạo. Với 7 chỉ số cơ bản, GII chia ra 21 nhóm chỉ số, gồm 80 chỉ số thành phần, bao gồm cả giá trị của các thương hiệu, gần đây được mở rộng đến bản quyền tác giả trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, giải trí.  
Năm chỉ số cơ bản từ 1-5 gọi là nhóm chỉ số đầu vào, còn 2 chỉ số cuối (6-7) là nhóm chỉ số đầu ra. Có thể hiểu, nhóm chỉ số đầu vào là nhóm chỉ số đổi mới, tạo môi trường, hệ sinh thái. Còn nhóm chỉ số đầu ra là kết quả của sáng tạo. Chỉ số tổng hợp ĐMST là trung bình cộng của Chỉ số Đầu vào và Chỉ số Đầu ra. Tỷ lệ hiệu quả ĐMST là tỷ lệ giữa đầu vào và đầu ra.
 
3. Khái quát kết quả đổi mới sáng tạo ở nước ta
Từ nhiều năm nay, hàng năm, Chính phủ đều ra Nghị quyết về cải thiện môi trường kinh doanh, Cải cách hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trên toàn cầu, trong đó có chỉ tiêu về chỉ số GIC và chỉ số GII. Nghị quyết số 52-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cũng đặt ra chỉ tiêu về chỉ số GIC và GII đến năm 2025, 2030 và tầm nhìn 2045. Từ nhiều năm nay, Đảng và Nhà nước ta cũng đặt ra chỉ tiêu đóng góp vào tăng trưởng GDP của các nhân tố tổng hợp liên quan đến KH&CN, ĐMST, gọi là TFP; chỉ tiêu tỷ lệ tiêu hao năng lượng/GDP, chỉ tiêu giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao, chỉ tiêu ICT, chỉ tiêu đổi mới công nghệ, chỉ tiêu tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ, chỉ tiêu số cán bộ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; chỉ tiêu số doanh nghiệp KHCN (Trong chiến lược phát triển KH&CN...)... Bắt đầu từ Đại hội XIII của Đảng, có chỉ tiêu về kinh tế số (Đến năm 2025, chiếm 20% GDP).
 
Chỉ số ĐMST của Việt Nam 2013-2020 đã có bước tiến vượt bậc
 
TT
Chỉ số các trụ cột
Xếp hạng thế giới.
2013
2015
2017
2019
2020
I.
Nhóm chỉ tiêu đầu vào
89
78
71
63
62
1.
Thể chế
122
101
87
81
83
2.
Nguồn nhân lực
98
78
70
61
79
3.
Cơ sở hạ tầng
80
88
77
82
73
4.
Trình độ phát triển của thị trường
73
67
34
39
34
5.
Trình độ phát triển kinh doanh
67
40
73
69
39
II.
Nhóm chỉ tiêu đầu ra
54
39
38
37
38
6.
Sản phẩm tri thức và công nghệ
51
28
28
27
37
7.
Sản phẩm sáng tạo
66
62
52
47
38
III.
Tỷ lệ hiệu quả ĐMST
17
9
10
-
-
IV.
Chỉ số ĐMST
76
52
47
42
42
V.
Xếp hạng  khu vực Asean
-
3
3
3
3
(Nguồn: GII 2012-2019, GII 2014-2020, WIPO.)
Ghi chú: Số quốc gia và vùng lãnh thổ được xếp hạng hàng năm: 139 (2013); 141 (2015), 127 (2017), 129 (2019), 131 (2020).
 
Thụy sĩ đứng đầu nhóm quốc gia thu nhập cao. Trung quốc đứng đầu nhóm quốc gia thu nhập trung bình cao. Việt Nam đứng đầu nhóm quốc gia  thu nhập trung bình thấp, đứng thứ 3 trong khối Asean sau Singapor, Malaixia.
Để hiểu rõ hơn bản chất chỉ số và thứ hạng, chúng ta cần chú ý:
Nhóm chỉ số đầu vào  của Việt Nam: Các chỉ số đã vươn lên tốp cao (2019,2020), gồm: Trình độ phát triển của thị trường, Trình độ phát triển kinh doanh. Chủ yếu là do tăng dòng vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (Hạng 19), Chỉ số hấp thụ tri thức được xếp hạng 10 (Chủ yếu do Nhập khẩu công nghệ cao xếp hạng 4). Nhóm chỉ số vẫn đang ở mức trung bình và thấp, gồm: Thể chế (Xếp hạng trên 80), Nhân lực (Trên 70), Cơ sở hạ tầng (Trên 70), trong đó Hạ tầng ICT (72), Tiếp cận ICI (86), Sử dụng ICT (65). Chỉ số Hợp tác Viện trường - doanh nghiệp hạng 65.
Nhóm chỉ số đầu ra đã vươn lên tốp cao là nhóm chỉ số Sáng tạo tri thức và Lan truyền tri thức, xếp  hạng 14, nhờ sự dẫn đầu về Xuất khẩu công nghệ cao, hạng 2 (Chủ yếu của khối DN FDI). Nhóm chỉ số Sản phẩm sáng tạo xếp hạng 38. Có 06 chỉ số có thứ hạng cao như Số lượng ứng dụng phần mềm được sản xuất (Hạng 10); chỉ số Đăng kí nhãn hiệu theo xuất xứ (Hạng 20). Chỉ số Sản lượng ngành công nghệ cao và công nghệ trung bình cao (Hạng 23).. Đặc biệt, với 33 thương hiệu nằm trong tốp 5000, dẫn đầu là công ty viễn thông Viettel Telecom, Việt Nam xếp hạng thứ 19. Còn Chỉ số công bố bài báo khoa học và kĩ thuật ở mức trung bình,  hạng 61, trong đó 60% là do hợp tác với tác giả người nước ngoài thông qua hợp tác quốc tế. Chí số sáng chế, giải pháp hữu ích (65-76), trong đó 80% là của người nước ngoài.
So với mặt bằng chung Việt Nam đang đứng thứ 129 trên 187 quốc gia trên thế giới và thứ 8 trong khu vực Asean về GDP bình quân đầu người (IMF). Năng suất lao động của nước ta đang thấp nhất khu vực Asean (Chỉ bằng 10%-50% các nước, thấp hơn năng suất lao động của Lào). TFP tuy có được cải thiện, nhưng mới đóng góp trên dưới 45% tăng trưởng GDP, có nghĩa 65% tăng trưởng đang dựa vào quy mô lao động và vốn. Theo Báo cáo khác của Ngân hàng thế giới cũng liên quan đến ĐMST, thì Chỉ số kinh tế tri thức của Việt Nam mới đạt 3,51 /10 điểm  (2019), đứng thứ 103 trên 141 nước. Riêng chỉ số thành phần về sáng tạo KI (Liên quan chủ yếu đến KH&CN) là 2,72, trong khi Singapor 8,84, Malaixia 6,04, Thái Lan 5,60. Dân số Việt Nam đứng thứ 15 thế giới và thứ nhì khu vực Asean. Các công bố KH&CN tuy tăng khá nhanh, thứ hạng  được chỉa thiện, nhưng  chủ yếu là đồng tác giả với người nước ngoài thông qua hợp tác quốc tế. Sáng chế, giải pháp hữu ích cũng tăng khá, nhưng cũng chủ yếu là của của người nước ngoài. Có thể nói chỉ số GII của nước ta đang phụ thuộc lớn vào khối DN FDI, các nhà khoa học và nhà sáng chế nước ngoài. Số doanh nghiệp có hoạt động nghiên cứu và ứng dụng (R&D) còn ít khoảng 10%, tỷ lệ doanh nghiệp đổi mới công nghệ khoảng 30%, tốc độ đổi mới còn thấp, trên dưới 10%. Trong lĩnh vực văn học nghệ thuật cũng ít công trình, tác phẩm có tầm khu vực và thế giới. Tóm lại, giá trị sản phẩm vô hình (Tài sản trí tuệ) trong khi nhiều nước đã chiếm ưu thế trong nền kinh tế thì nước ta đang chiếm tỷ trọng thấp, lại chủ yếu là các đối tượng liên quan đến thương hiệu (Kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, tên thương mại), còn sáng chế, giải pháp hữu ích, công nghệ, công trình, tác phẩm (KH&CN, VHNT) có bản quyền của người Việt Nam, đóng góp vào GDP chưa nhiều.
Phát triển KH&CN và ĐMST được đảng và nhà nước ta coi là một bộ phận đột phá chiến lược trong giai đoạn mới. Dư địa ĐMST còn lớn. Tập trung đổi mới phương thức lãnh đạo của đảng, cải cách thể chế, cải cách hành chính, phát triển thị trường KH&CN, chuyển hướng đẩy mạnh ĐMST trong khu vực doanh nghiệp, tăng sáng tạo nội sinh của người Việt Nam. Xác định hợp lý các chỉ tiêu về GIC, GII, KI và hệ thống các chỉ tiêu liên quan đến ĐMST để đưa vào chương trình lãnh đạo, chỉ đạo của đảng và nhà nước trong từng giai đoạn.
 
Tài liệu tham khảo chính:
1. Báo cáo chính trị đại hội XIIII của đảng, Báo cáo chính trị đại hội nhiệm kỳ 2020-2025 của các đảng bộ địa phương.
2. Luật KHCN(2013). Chiến lược phát triển KHCN giai đoạn 2011-2020.3. Các nghị quyết của Chính phủ số 19/2017, 19/2018, 02/2019, 02/2020, 02/2021 về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
3. Các khái niệm đổi mới, sáng tạo, đổi mới sáng tạo, các chỉ số toàn cầu về Đổi mới sáng tạo, năng lực cạnh tranh quốc gia, kinh tế trí thức. vi.wiki.pedia.org.
4. Góp phần tìm hiểu quan niệm về “đổi mới”, “cải tổ”, “cải cách”. thongtinphapluatdansu.edu.vn.
5. Đổi mới sáng tạo mở và cơ hội áp dụng tại việt nam. vietnamstijournal.net.
6. Tìm hiểu chỉ số đổi mới sáng tạo liên quan đến sở hữu trí tuệ. noipi.gov.vn.
7. Khát vọng Việt Nam với đổi mới sáng tạo. mocha.gov.vn
8. Đẩy mạnh phát triển KH&CN và ĐMST-Một đột phá chiến lược trong giai đoạn mới. tapchicongsan.org.vn
9. Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo tại Việt Nam. worldbank.org. 
10. Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2019 và một số khuyến nghị. dost.quangtri.gov.vn.
 
 
  

 

Số lần đọc : 329   Cập nhật lần cuối: 26/03/2021

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 10923837

Số người Onlne: 53