Nghiên cứu → Giáo dục - Đào tạo

Tìm hiểu học vị xưa và nay.


 

Từ trước đến nay có nhiều bài viết về vấn đề học vị, nhưng tản mản và không phaỉ dễ hiểu. Bài viết này đề cập đến học vị Cử nhân, Thạc sỹ, Tiến sỹ, Tiến sỹ khoa học  xưa và nay nhằm giúp cho những người quan tâm có một cách hiểu khái quát và hệ thống.
 
1. Cử nhân.
Nước ta bắt đầu thi Nho học từ năm 1075 dưới triều Lý Nhân Tông và khoa thi Nho học cuối cùng tại miền Trung vào năm 1919 đời vua Khải Định nhà Nguyễn.Trong 845 năm đó có nhiều loại khoa thi khác nhau ở mỗi triều đại. Qua các đời Lý, Trần, Hồ, ổn định nhất ở thời Lê, các khoa thi đều do Triều đình đứng ra tổ chức.Từ năm 1442 ( Triều Lê) thi Hương, thi Hội, thi Đìnhmới trở thành các khoa thi thường xuyên.
Thi Hương là khoa thi được tổ chức định kỳ 3 năm một lần cho sĩ tử ở các địa phương, một trấn hoặc tỉnh, hoặc một số trấn, tỉnh gần kề nhau. Muốn dự thi Hương, thí sinh phải có hai điều kiện: Một là:Thí sinh phải có đạo đức tốt, lý lịch trong sạch, phải là người có đức hạnh và có lý lịch ba đời trong sạch. Những người bất hiếu, bất mục, loạn luân, điêu toa, người đang có đại tang (cha, mẹ mất), những người từng hoạt động phản nghịch và người làm nghề hát xướng thì bản thân và con cháu họ đều không được đi thi. Bản khai lý lịch ba đời này phải được xã trưởng và quan địa phương xác nhận. Hai là: trình độ học lực. Trình độ học lực lúc đầu được kiểm tra bằng một kỳ thi liền với kỳ thi Hương nhưng chỉ coi là sơ tuyển. Đây là kỳ thi ám tả cổ văn (chép một đoạn trong Tứ thư, Ngũ kinh, không được mở sách, không có người đọc cho chép) ai đỗ kỳ này mới được vào thi Hương. Kỳ kiểm tra này giao cho quan huyện làm trước khi lập danh sách thi Hương. Đời Lê mỗi khoa thi Hương có 4 kỳ (xưa gọi là 4 trường thi) kéo dài khoảng 1 tháng, nội dung thi cơ bản như sau (mỗi kỳ thi một môn): Kỳ I: Kinh nghĩa, thư nghĩa; Kỳ II: Chiếu, chế, biểu; Kỳ III: Thơ phú;  Kỳ IV: Văn sách. Thi xong kỳ nào chấm bài kỳ ấy, ai đỗ mới vào thi tiếp kỳ sau. Bài thi được chấm theo thang 4 bậc (ưu, bình, thứ, liệt) tức là xếp thành 4 loại, ai xếp loại liệt là bị hỏng, không đỗ và không thi kỳ sau. Người đỗ đầu khoa thi Hương là Giải nguyên. Thời vua Lê thánh Tông ( từ năm 1446) ai thi đỗ ba kỳ  mà không đỗ kỳ IV thì  được nhận học vị sinh đồ đỗ cả 4 kỳ được nhận học vị hương cống. Đến năm 1828 vua Minh Mạng mới đổi là tú tài, cử nhân. Ai đỗ 3 kỳ thi Hương thì gọi là Tú tài (ông Tú), đỗ cả 4 kỳ gọi là Cử nhân (tên dân gian là ông Cống).
Như vậy, học vị Sinh đồ (từ năm 1446 thời vua Lê thánh Tông), Tú tài ( từ năm 1828 thời vua Minh Mạng) tương tự nhau, nhưng không giống như bằng cấp chứng nhận trình độ văn hoá bậc Tú tài thời Pháp thuộc. Dưới các triều đại phong kiến nước ta, người đi học và thi cử là để làm quan, do đó việc học và thi ở tất cả mọi cấp bậc đều mang tính chất chuyên nghiệp, chứ không thuần tuý học văn hoá. Bởi vậy, bằng cấp dưới các triều đại phong kiến là bằng cấp học vị. Còn từ thời thuộc Pháp, bằng Tú tài là bằng trình độ văn hoá. Trong thời gian nước ta chia làm hai miền(1954-1975), miền Bắc cấp bằng tốt nghiệp cấp 3, còn miền Nam tiếp tục cấp bằng Tú tài.( Bằng Tú tài có hai loại: Tú tài bậc I, tốt nghiệp lớp 11; Tú tài bậc II hay còn gọi Tú tài toàn phần, tốt nghiệp lớp 12). Sau năm 1976, cả nước độc lập, thống nhất cấp bằng tốt nghiệp PTTH. Còn học vị Cử nhân thời Phong kiến, thời Pháp thuộc, thời nước ta phân chia hai miền hay từ khi nước ta độc lập thống nhất tới nay đều cơ bản giống nhau, đều là bằng cấp chuyên môn. Điều khác nhau là thời Phong kiến chỉ học và thi cử các môn thuộc khoa học xã hội và nhân văn, bằng cấp học vị chỉ có một loại là cử nhân do Triều đình cấp. Còn sau này, từ thời Pháp thuộc đến nay, đại học càng ngày càng có nhiều chuyên ngành, bằng cử nhân  là do cơ sở đào tạo cấp. Bằng cử nhân được hiểu theo 2 nghĩa. Nghĩa chung là tốt nghiệp đại học. Nghĩa thứ 2 là để phân biệt tốt nghiệp đại học 2 khối khác nhau. Khối khoa học xã hội và nhân văn thường gọi là Cử nhân. Khối khoa học kỹ thuật thường gọi là Kỹ sư. Thời Pháp thuộc và thời nay còn có bằng chuyên nghiệp hệ Trung cấp và Cao đẳng mà thời Phong kiến không có. Có thể coi học vị Sinh đồ thời Phong kiến tương đương với bằng Cao đẳng chuyên nghiệp thời thuộc Pháp và thời nay chăng?
2.Thạc sỹ.
Học vị thạc sĩ( tiếng Anh được gọi là Master), một học vị trên cấp cử nhân, dưới cấp tiến sĩ. Hoc vị thạc sỹ thời Phong kiến ở nước ta không có. Nhưng thời Phong kiến có Khoa Thi Hội là khoa thi trung gian giữa Thi Hương ( thi Cử nhân) và Thi Đình( thi Tiến sỹ). Thi Hội là khoa thi ở cấp Trung ương do Triều đình, trực tiếp là Bộ Lễ tổ chức. Cũng như thi Hương, thi Hội được tổ chức 3 năm một lần. Người dự thi chỉ gồm các Cống sĩ(cử nhân) ở các địa phương tụ hội lại ở Kinh đô để dự thi. Khoa thi Hội cũng gồm 4 kỳ: Kỳ I: kinh nghĩa, thư nghĩa; Kỳ II: chiếu, chế, biểu; Kỳ III: thơ phú; Kỳ IV: văn sách. một thời gian dài người đậu thi Hội chưa được cấp học vị, mà chỉ đủ điều kiện để thi Đình( thi Tiến sỹ); đỗ đầu khoa thi Hội gọi là Hội nguyên. Người đậu thi Hội thời Phong kiến cao hơn cử nhân, thấp hơn tiến sỹ. Như vậy, phải chăng có thể được coi là Thạc sỹ như bây giờ? Thời Pháp thuộc có đào tạo Thạc sỹ, nhưng bằng con đường du học và chủ yếu là trong lĩnh vực sư phạm.Trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam, học vị này được gọi là học vị "cao học". Còn miền Bắc theo hệ thống đào tạo của Liên Xô và các nước XHCN, học vị có 2 cấp là Phó tiến sỹ và Tiến sỹ, không có Thạc sỹ. Sau khi thống nhất đất nước một thời gian, năm 1998, Nhà nước ta ban hành Luật giáo dục. Để đáp ứng yêu cầu hội nhập, văn bằng học vị của nước ta được thống nhất theo hệ thống văn bằng của Mỹ và các nước Châu Âu. Ai tốt nghiệp cao học được cấp bằng thạc sỹ. Thời gian và học trình học Thạc sỹ tuỳ theo từng nước. Riêng nước ta, thời gian học Thạc sỹ là 2 năm. Bằng do cơ sở đào tạo ( Trường đại học hay Viện nghiên cứu) cấp.
3. Tiến sỹ.
Tiến sỹ là học vị cao nhất trong hệ thống bằng cấp của ngành giáo dục đào tạo của các nước trên thế giới.         
Thời phong kiến của nước ta, học vị Tiến sỹ khá phức tạp, phụ thuộc chủ yếu vào thi Hội và thi Đình. Thi Đình do triều đình chỉ đạo, trực tiếp là vua, có một số đại thần giúp việc đứng ra tổ chức. Thí sinh thi Đình là những người đã đỗ thi Hội. Cũng như khoa thi Hội, Khoa thi đình gồm có 4 kỳ: Kỳ I: kinh nghĩa, thư nghĩa; Kỳ II: chiếu, chế, biểu; Kỳ III: thơ phú; Kỳ IV: văn sách.(Theo Đại việt sử ký toàn thư, thời nhà Lý có thi cả Toán. Đời nhà Hồ (1400 - 1407) thi cả Toán và Thư pháp). Như đã nói ở trên, có một thời gian dài chỉ có người đỗ thi Đình là Tiến sĩ (tên dân gian là ông Nghè). Ai đỗ đầu gọi là Đình nguyên. Từ năm 1232-1400, nhà Trần và Nhà Hồ cấp học vị Thái học sinh cho những thí sinh thi đỗ kỳ thi Hội, một học vị tương đương với Tiến sỹ. Khoa thi Đình chủ yếu là xếp hạng Tiến sỹ. Tuỳ theo số điểm đạt được, người đỗ được xếp vào 3 hạng gọi là Tam Giáp. Bậc 1 là bậc thấp nhất, đại trà nhất là Tiến Sĩ Đệ Tam Giáp, hay gọi chung là Tiến sỹ; Bậc 2 là Tiến Sĩ Đệ Nhị Giáp, hay còn gọi là Hoàng Giáp; Bậc 1 là Tiến Sĩ Đệ Nhất Giáp, gồm 3 thí sinh đỗ cao nhất gọi là Tam khôi: Đỗ hạng ba là Thám Hoa (ông Thám), hạng nhì là Bảng Nhãn (ông Bảng), đỗ đầu là Trạng Nguyên (ông Trạng).
Trong các thế kỷ 16-18, việc thi cử dưới các triều đại Phong kiến có nhiều lộn xộn. Đến đời Nhà Nguyễn, bắt đầu từ năm 1828, vua Minh Mạng chỉnh đốn lại khoa cử và bỏ Đệ nhất giáp. Học vị trạng nguyên, bảng nhãn không còn trên khoa bảng từ đó. Nhưng Nhà Nguyễn lại lấy thêm học vị Phó bảng. Những người thi Đình đủ điểm đậu chính bảng là Tiến sỹ. Những người suýt soát, chỉ thiếu ít điểm là Phó bảng hay còn gọi Tiến sỹ loại 2. Có thể coi Phó bảng như là Phó tiến sỹ của chúng ta trong mấy thập kỷ vừa qua vậy. Thời nhà Nguyễn, ngoài Cử nhân, Phó bảng và Tiến sỹ văn, còn thi và cấp học vị  cả  cử nhân, Phó bảng và Tiến sỹ võ.
4. Tiến sỹ khoa học.
Từ thời Pháp thuộc cho đến hiện nay, học vị Tiến sỹ vẫn tiếp tục được sử dụng ở nước ta. Nhưng Tiến sỹ chủ yếu là đào tạo ở nước ngoài, gần đây, cuối thập kỷ 80 của thế kỷ 20 mới đào tạo cả ở trong nước. Như đã nói ở trên, khi nước ta còn phân chia hai miền, thì miền Bắc theo hệ thống học vị của Liên Xô và các nước XHCN, còn miền Nam theo hệ thống của Mỹ. Sau khi đất nước hoàn toàn độc lập, thống nhất, cho đến đầu thập kỷ 90, nước ta vẫn theo hệ thống của học vị của Liên xô. Thành ra, khi hợp nhất kết quả đào tạo từ các hệ thống, nước ta có cả học vị Tiến sỹ, Phó tiến sỹ và Thạc sỹ. Từ năm 1998, Luật giáo dục nước ta ra đời và đến nay đã được bổ sung nhiều lần. Việc chúng ta áp dụng hệ thống học vị của Mỹ và các nước Châu Âu là cần thiết. Theo đó, học vị  sau cử nhân chỉ có Thạc sỹ, Tiến sỹ, không có Phó tiến sỹ. Những người có học vị Phó tiến sỹ được chuyển thành Tiến sỹ. Bởi vì thạc sỹ chỉ đào tạo từ 1-2( tuỳ từng nước). Còn Phó tiến sỹ của ta đào tạo đến 3-4 năm. Nhưng lại có vấn đề phát sinh. Đào tạo Tiến sỹ phải mất 2-5 năm, thậm chí không thời hạn. Quan trọng là, giữa Phó tiến sỹ( tiếng Nga là Кандидат наук) và Tiến sỹ( Доктор наук) có một sự cách biệt rất lớn về chất. Vì vậy mà trước đây, Phó tiến sỹ thì nhiều, nhưng chỉ có một số làm được Tiến sỹ. Để giải quyết vấn đề này, những người có học vị Tiến sỹ đào tạo ở các nước XHCN và Liên xô cũ( tức là đào tạo qua Phó tiến sỹ rồi mới lên Tiến sỹ) thì được xử lý tình thế bằng cách gọi là Tiến sỹ khoa học.
Tính ra, trong các triều đại phong kiến nước ta, từ khoa thi Hội đầu tiên năm 1397 đời Trần Thuận Tông, đến khoa thi Hội cuối cùng năm 1919 thời vua Khải Định, là 522 năm.Tổng cộng có 185 khoa thi và 2988 vị đỗ Đại khoa( khoa thi Tiến sỹ),  trong đó có 5 thủ khoa ở thời Lý và đầu thời Trần (lúc đó chưa đặt ra thủ khoa là Trạng nguyên) và sau này có 46 Trạng nguyên, 48 Bảng nhãn, 76 Thám hoa, 2462 Tiến sỹ và 266 Phó bảng. Còn hiện nay cả nước ta, trong vòng 57 năm( tính từ năm 1945) đã đào tạo được 1,4 vạn tiến sĩ và 1,6 vạn thạc sĩ. Tốc độ đào tạo ngày một nhanh.
Tiến sỹ dưới các triều đại phong kiến nước ta được đào tạo đào tạo chủ yếu về khoa học xã hội và nhân văn, kiến thức rộng, khá uyên bác ( so với mặt bằng dẩn trí lúc đó), đào tạo để làm quan, để quản lý, điều hành…Việc học và thi cử cơ bản là nghiêm túc, có chất lượng. Tổ chức thi cử và cấp học vị Tiến sỹ là do Triều đình. Ngưòi tham gia thi nhiều, nhưng số đỗ thì ít. Còn Tiến sỹ thời nay được đào tạọ trên tất cả các lĩnh vực, nhưng theo chuyên ngành hẹp, thậm chí rất hẹp, do các Trường đại học, các Viện nghiên cứu đào tạo và cấp văn bằng, đào tạo chủ yếu để hoạt động chuyên môn, nghiên cứu hoa học và giảng dạy. Đã học là thi đỗ, không mấy ai trượt. Chất lượng Thạc sỹ, Tiến  sỹ theo dư luận và đánh giá của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ  là đang có vấn đề.
5. Một số học vị và danh hiệu khác.
- Học vị thần học. Ngoài hệ thống văn bằng do Luật giaó dục nhà nước ta quy định, ở nước ta còn có văn bằng do hệ thống Tôn giáo trong nước và nước ngoài đào tạo và cấp, bao gồm Cử nhân, Thạc sỹ, Tiến sỹ Phật học, Thần học.
- Viện sỹ. Viện sĩ chính thức là chức danh khoa học cao nhất do Viện hàn lâm Khoa học của từng nước bàu. ( Viện hàm lâm khoa học của nước này có thể bàu  nhà khoa học của nước khác). Người được bầu Viện sĩ thì mang hàm ấy suốt đời, không bầu lại.Thông thường, các nhà khoa học phải trải qua giai đoạn Viện sĩ thông tấn (hiểu một cách đơn giản là Viện sĩ dự bị). Khi số Viện sĩ chính thức bị khuyết, hội đồng sẽ bầu bổ sung trong số Viện sĩ dự bị. Những nhà khoa học thật xuất sắc có thể được bầu làm Viện sĩ chính thức mà không qua thời kỳ dự bị. Nhưng số đó rất hiếm. Cả nước có 9 nhà khoa học được Viện hàn lâm các nước ( Nga và một số nước khác) bàu. Đó là các giáo sư Trần Đại Nghĩa, Nguyễn Khánh Toàn, Nguyễn Văn Hiệu, Nguyễn Duy Quý, Đặng Vũ Minh, Vũ Tuyên Hoàng, Phạm Minh Hạc, Đặng Vũ, Nguyễn Văn Đạo, Đào Vọng Đức. Nước ta gần đây, năm 2012, mới có Viện hàn lâm( Viện hàn lâm khoa học &công nghệ Việt Nam, Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam), chưa bàu viện sỹ.
-Giáo sư. Phó giáo sư, Giáo sư là học hàm do Nhà nước nước phong. Học hàm này thường gắn với công tác giảng dạy và nghiên cứu, đào tạo. Hiện nay cả nước ta có trên 1.000 giáo sư và 7 ngàn phó giáo sư.
6. Học vị ở Sơn La.
Thời phong kiến và thời thuộc Pháp Sơn La chưa có cử nhân, thạc sỹ, Tiến sỹ. Hiện nay Sơn La có 1,6 vạn cử nhân, gần 300 thạc sỹ, 25 tiến sỹ(không có tiến sỹ khoa học). Hiện chưa có phó giáo sư, giáo sư. Trước đây có 01 phó giáo sư là nhà giáo nhân dân Đặng Quang Việt, nguyên Hiệu trưởng Đại học Tây Bắc đã chuyển công tác về Bộ giáo dục &đào tạo. Tiến sỹ ở Sơn La hầu hết là tiến sỹ trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, quản lý, rất ít tiến sỹ lĩnh vực công nghệ (Danh sách cụ thể xem bài “Trí thức trình độ cao và trí thức được phong tặng danh hiệu của Sơn La”)
                                                                                     Phan Đức
                                                                                 
 

Số lần đọc : 9894   Cập nhật lần cuối: 18/09/2013

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 6093680

Số người Onlne: 30