Nghiên cứu → Giáo dục - Đào tạo

Tiến sĩ xưa và nay


 



Tiến sĩ xưa và nay

                                                                 Phan Đức Ngữ
                                                                     CN,CVCC
 
          Tiến sĩ (TS) là học vị cao nhất trong hệ thống giáo dục đào tạo từ xưa đến nay của nước ta cũng như các nước trên thế giới. Có 3 hệ  đào tạo TS là TS nho  học, TS hệ Liên xô (bao gồm các nước XHCN thời đó) và TS hệ các nước Âu- Mỹ.
          Học vị ở nước ta khá phức tạp, vì lịch sử khoa bảng có cả ba hệ trên, hơn nữa lại có giai đoạn chia cắt hai miền Nam Bắc, mỗi miền theo một hệ riêng. Đã có nhiều bài viết, nhưng chưa thống nhất cách hiểu. Bài này cố gắng hệ thống và phổ thông hóa, góp phần làm sáng tỏ thêm vấn đề.
          1. Tiến sĩ xưa
          TS xưa là TS nho học (TSNH), có sớm nhất, từ thời nhà Tùy (Trung Quốc) vào đầu thế kỷ thứ VII. TS hệ Âu -Mỹ có muộn hơn, từ đầu thế hế kỷ XIII. Tiến sĩ hệ  Liên xô và các nước XHCN Đông Âu có từ đầu thế kỷ 20.
          TSNH học và thi các môn xã hội (triết học,lịch sử, đạo đức, tôn giáo, luật lệ, thơ phú ...)trong khuôn khổ Nho học, có bàn luận chính sự, phương cách trị quốc. Các TSNH đầu tiên của người Việt là đỗ đạt ở một số triều đại phong kiến bên Trung Quốc, nhưng không nhiều, vả lại sử sách cũng không ghi chép đầy đủ. Đời nhà Đường, vào năm 758, có hai anh em(quê Huyện Yên Định, Thanh Hóa), anh là Khương Công Phụ, đỗ Trạng nguyên, làm đến chức thượng thư; em là Khương Công Phục, đố TS, được bổ nhiệm làm Lang trung, Bộ Lễ.Về sau, khi khoa bảng nước ta phát triển thì số đi du học càng ít, chế độ phong kiến Trung Quốc cũng thắt chặt, khống chế mỗi khoa thi người Việt không quá 8 người đối với thi TS, không quá 10 người đối với thi cử nhân. Suốt gần 600 năm (1313-1904) đời nhà Nguyên, Nhà Minh, Nhà Thanh chỉ có hai người Việt đậu TS. Bia TS ở Khổng miếu Bắc Kinh ghi danh hơn 51 ngàn TS của ba triều đại, trong đó có hai người Giao Chỉ (người Việt). Người đứng vị trí thứ 52 là Lê Dung (Thanh uy, tức là Thanh Oai, Hà Nội ngày nay). Người thứ hai đứng vị trí thứ 80 là Nguyễn Cần (Đa dực Nhân, tức là Huyện Quỳnh Phụ, Thái Bình ngày nay).
          Ở Việt Nam, Khoa thi Nho học trình độ TS đầu tiên là “Minh Kinh bác học” vào năm 1075 (đời nhà Lý). Sau đó, khoa cử được hoàn thiện và ổn định dần với ba kỳ thi là thi Hương, thi Hội, thi Đình. Định kỳ tổ chức khoa thi khác nhau, đời nhà Lý 12 năm, đời nhà trần 7 năm, đời nhà Lê cho đến nhà Nguyễn 3 năm. Thời nhà Lý cókhoa thi cả Toán. Đời nhà Hồ thi cả Toán và Thư pháp. Thời Nhà Mạc, thi cả bài phú thơ nôm, về sau đến thời Vua Quang Trung, chữ nôm được dùng nhiều hơn trong khoa cử. Thời nhà Nguyễn (thuộc Pháp),có thi bài luận bằng cả chữ Hán và chữ quốc ngữ. Kỳ thi tiếng Pháp (dịch Pháp văn ra quốc ngữ) lúc đầu là tự nguyện, không bắt buộc, nhưng ai đạt trên 10 điểm, sẽ đượccộng vào kỳ thi. Về sau, có thi văn chương, toán, sử hoặc địa hay khoa học thường thức và làm bài bằng chữ Quốc ngữ. Đề thi một số môn bằng tiếng Pháp, thí sinh phải dịch ra mới làm được. Học vị TS tên gọi cũng khác nhau: Minh kinh bác học (thời nhà Lý); Thái học sinh (Thời hậu nhà Lý, nhà Trần, Nhà Hồ). Bắt đầu từ thời nhà Trần, Mạc, nhà Hậu Lê cho đến hết khoa bảng nho giáo đời nhà Nguyễn( năm 1919) là Tiến sĩ.Một thời gian dài, TS được phân hạng Tam Giáp. Tiến Sĩ Đệ Tam Giáp (TS bậc 3); Tiến Sĩ Đệ Nhị Giáp (TS bậc 2); Tiến Sĩ Đệ Nhất Giáp (TS bậc 1), gồm 3 thí sinh đỗ cao nhất gọi là Tam khôi: Đỗ hạng ba là Thám Hoa (ông Thám), hạng nhì là Bảng Nhãn (ông Bảng), đỗ đầu là Trạng Nguyên (ông Trạng). Đến đời Nhà Nguyễn, bắt đầu từ năm 1828, vua Minh Mạng bỏ  phân hạng, mà lấy TS gồm những người đủ điểm đỗ (gọi là đỗ chính bảng), còn ai đậu vớt (gần đủ điểm) thì lấy Phó bảng (có thể coi là TS bậc 2)
 
                                    Cảnh lều chỏng đi thi hương, thi hội ( nguồn inhternet)
 
Nhìn chung, thi TS từng giai đoạn được cải tiến ít nhiều, nhưng cơ bản vẫn mô phỏng theo khoa cử Nho học Trung Quốc. Mỗi khoa thi có 4 kỳ thi: Kỳ I: Kinh nghĩa, thư nghĩa: (Trình bày, giải nghĩa vấn đề được hỏi trong 9 bộ sách chủ yếu của Nho giáolà Tứ thư, Ngũ kinh). Kỳ II: Chiếu, Chế, Biểu (soạn thảo các văn bản hành chính như chiếu (mệnh lệnh Vua ban), Chế (luật lệ Vua ban), Biểu (lời tâu của quan dưới báo lên Vua)... Kỳ III: Thơ phú (Sáng tác thơ theo chủ đề). Kỳ IV:Văn sách (Viết bài văn tự luận theo chủ đề). Độ khó từng kỳ tăng lên  theo từng Khoa thi. Ai đỗ khoa trước mới được thi khoa sau.
          Thi TS là để tím kiếm người tài và bổ nhiệm làm quan. Lý lịch của thí sinh phải ba đời trong sạch và phải là nam giới mới được dự thi(Đời nhà Mạc, có một TS nữ duy nhất là Nguyễn Thị Duệ, cải trang nam đi thi đỗ năm 1616). Để được đỗ TS, thí sinh phải thông hiểu toàn diện kiến thức nho học, cả về triết học, lịch sử, tôn giáo, địa lý, thiên văn, luật lệ,chính trị, thậm chí cả binh pháp, gắn với hiểu biết thực tế và biết vận dụng để luận bàn phương cách trị quốc, bảo vệ và phát triển đất nước.Ngoài ra, thí sinh phải không phạm lỗi kiếm tỵ (lỗi phạm húy, dùng những từ ngữ cấm kỵ), lỗi kiếm trang (dùng từ ngữ thô tục về ngữ nghĩa và phát âm), lỗi viết không chân phương, xấu, thiếu nét, chỉnh sửa nhiều (quá 10 chữ). Còn ai vi phạm nặng thì không những bị hủy bài thi mà còn bị bắt đeo gông, đánh đòn (40- 100 roi), thậm chí bỏ tù và xử tội chết... Vì thi TS là để bổ nhiệm làm quan từ hàng tỉnh đến trung ương, nên số lấy đỗ rất ít. Ví dụ, khoa thi năm 1514, có 5.700 thí sinh, lẫy đỗ 43 TS. Khoa thi năm 1623 có 3.000 thí sinh, lẫy đỗ 7 người. Trong suốt 845 năm từ khoa thi đầu tiên năm 1075 đến khoa thi cuối cúng năm 1919, cả thảy có 195 khoa thi, lấy đỗ 3.515 TS ,nhưng đến nay chỉ lưu giữ được danh tính 2.889 người(bao gồm 266 phó bảng), 47 trạng nguyên, 50 bảng nhãn, 80 thám hoa (Có tài liệu ghi 185, hay 193 khoa thi, 2.970 hay 2.898 người đỗ). Tính chung, bình quân mỗi khoa thi lấy 15-20 người đỗ. Từ đời Đường bên Trung quốc, dân gian  nói rằng, đố cử nhân 30 tuổi đã là già, đỗ TS 50 tuổi vẫn còn trẻ, ý nói đỗ TS rất khó.Vì vậy, ai đỗ TS được người đương thời tôn quý, được Vua cho khắc vào bia đá.
          Ở nước ta cũng vậy, đỗ TSNH rất khó, ai đỗ thì là người thực sự có tài, được vinh hiển, được xã hội tôn quý, được Triều đình trọng dụng, một số còn được vua ban gả công chúa, quận chúa... Bắt đầu từ năm 1484, vua Lê Thánh Tông cho dựng các bia TS đầu tiên, sau đó bổ sung dần. Ở Văn miếu Quốc tử giám (Thăng Long-Hà Nội), hiện có 82 bia, ghi danh 1.304 TS các đời Lê sơ, Mạc, Lê Trung Hưng (1442-1779). Có tài liệu nói có 116 bia, nhưng đến nay chỉ lưu giữ được 82 bia. Còn ở Văn miếu Huế có 32 bia ghi danh 293 TS triều Nguyễn. TS được bổ nhiệm  làm quan cấp tỉnh và cấp trung ương. Nhiều người làm đến chức Thượng thư, hoặc quan đứng đầu quốc Tử giám, Hàn lâm viện, có người làm đến chức Tể tướng, có người trở thành tướng giỏi (như Nguyễn Quán Nho, Lê Như Hổ, đời nhà Lê). Có người là lưỡng quốc trạng nguyên như Mạc Đỉnh Chi (đời nhà Trần), Nguyễn Trực, Nguyễn Đăng Đạo (đời nhà Lê Trung Hưng)... Tất cả đều có công đối với triều định, với đất nước. Nhiều TSNH đã trở thành danh nhân như Nguyễn Trãi, Chu Văn An, Lê Quý Đôn, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lương Thế Vinh...
          2. Tiến sĩ nay
TS nay là TS hệ Âu -Mỹ từ đầu thế kỷ XIII, TS hệ Liên xô đầu thế kỷ XX (Gọi chung là hệ Tây học). Việt Nam kết thúc Khoa bảng nho học để chuyển sang Tây học vào năm 1919, thời nhà Nguyễn (thuộc Pháp). Những phải sau năm 1930, nước ta mới có TS đầu tiên .
Trước năm 1950, TS nước ta là hệ Âu Mỹ, nhưng không nhiều, chủ yếu là TS tại Pháp. Những TS tại Pháp đầu tiên là Luật sư Phan Văn Trường (1917), Luật sư Nguyễn MạnhTường (1932), GS Nguyễn Văn Huyên, TS Văn chương (1934), Nữ TS Vật lý Hoàng Thị Nga (1935). GS, TS Y khoa Trần hữu Tước (1937),GS Phạm Huy Thông, TS sử học (1942). Tiến sĩ Toán học tại Đức có GS Lê Văn Thiêm (1945).  GS Lương Đình Của, TS nông học tại Nhật (1948).TS đầu tiên hệ Liên Xô là GS Nguyễn Khánh Toàn (1933), ngành sử học. Sau đó, từ cuối năm 50 đến 1991, TS của Việt Nam chủ yếu là đào tạo tại Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu. Những  TS đầu tiên của giai đoạn này là GS Nguyễn Cảnh Toàn (1957), GS Hoàng Tụy (1959), GS Nguyễn Đình Tứ (1961), GS Nguyễn Văn Hiệu (1963), GS Nguyễn Văn Đạo (1965)... Hệ Liên Xô tất cả có khoảng trên 3.000 PTS (nay là TS) và 200 TSKH. Sau năm 1991, TS nước ta trở lại chủ yếu là hệ Âu -Mỹ. Mấy năm gầnđây, bình quân mỗi năm cả nướcđào tạo trên dưới01 ngàn TS và hạng vạn Th.S. Cao nhất là niên khóa 2017-2018, đào tạo 1.500 TS và 36000 Th.S. Lũy kế đến cuối năm 2019, cả nước có khoảng 12 vạn Th.S, 30 ngàn TS, trong đó 2.000 GS và 13.000 PGS. Trước năm 1980, chủ yếu đào tạo ở nước ngoài, đào tạo trong nước rất hạn hữu. GS Hoàng Hữu Đường là người đầu tiên có học vị Phó tiến sĩ (nay là TS) Toán-Lý trong nước (1974) và TSKH (1982). Hiện nay, TS của Việt Nam được đào tạo trong nước là chủ yếu(trên 60%), còn đào tạo ngoài nước dưới 40%. TS ở các nước chủ yếu là Giảng dạy Đại học, Cao đảng và nghiên cứu Khoa học. Diện phân bổ TS ở nước ta rộng hơn, giảng dạy và nghiên cứu chiếm 50%, còn 50% là các lĩnh vực khác. Dẫn đến, TS nước ta nhiều nhất các nước Asean, nhưng tỷ lệ TS/tổng số giảng viên ĐH, CĐ cũng như trên tổng số sinh viên lại thấp. Cấp bằng TS đào tạo trong nước, trước năm 1995 thuộc thẩm quyền xét duyệt của Hội đồng cấp nhà nước, sau đó được phân cấp cho cơ sở đào tạo bậc TS.
TS nước ta tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn và các tỉnh đòng bằng,ở các cơ quan, Trường ĐH, tổ chức KHCN trung ương, còn ở các vùng miến núi không nhiều,nhưng nhìn chung cũng phát triển khá nhanh. Ví dụ, ở Sơn La thời phong kiến và thời thuộc Pháp chưa có cử nhân, thạc sỹ, tiến sỹ. Hiện nay Sơn La có hơn 2,1 vạn cử nhân, hơn 1000 thạc sỹ, gần 100 tiến sỹ (không có TSKH), 6 PGS (chưa có GS). TS ở Sơn La phần lớn được đào tạo sau năm 2000, hầu hết là TS trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, tập trung chủ yếu ở trường đại học Tây Bắc.
 

Ảnh minh họa. Nguồn internet.

 
Đào tạo TS ở nước ta đại thể như sau: (1). Tuyển sinh trước năm 2005 là thi tuyển, sau đó  chuyển sang xét tuyển. Điều kiện dự tuyển hiện nay, gồm cử nhân có bằng loại giỏi, hoặc có bằng thạc sĩ; Có  bài báo hoặc báo cáo liên quan đến lĩnh vực dự định nghiên cứu đăng trên tạp chí khoa học hoặc kỷ yếu hội nghị, hội thảo khoa học chuyên ngành (trong nước hoặc quốc tế). Có chứng chỉ ngoài ngữ đạt chuẩn tùy theo công dân Việt Nam hay người nước ngoài. Có đề cương thuyết minh hướng đề tài nghiên cứu của đề tài dự kiến. Có người có trình độ học vị, học hàm (GS, PGS, TSKH) nhậnhướng dẫn và có thư giới thiệu, bảo đảm của hai người cũng có học vị, học hàm theo quy định (Chỉ không yêu cầu thí sinh có một bài luận thể hiện bản thân như tuyển sinh TS ở một số nước khác). (2). Chương trình đào tạo gồm: Học phần bổ sung, các học phần ở trình độ tiến sĩ và luận án tiến sĩ. Khối lượng học tập tối thiểu 90 tín chỉ đối với nghiên cứu sinh (NCS) có bằng Thạc sĩ và tối thiểu 120 tín chỉ đối với NCS có bằng Cử nhân (Tính chung, thời gian đào tạo của hình thức tập trung tậpkhoảng 3-4 năm đối với NCS có bằng Cử nhân, 2-3 năm đối với người có bằng thạc sĩ). Tương ứng với hai đối tượng, hình thức không tập trung là 4-5 năm và 3-4 năm. (3). Điều kiện để bảo vệ luận án TS là phải có hai bài báo công bố trên tạp chí quốc tế thuộc danh mụcquy định, hoặc 1 bài báo quốc tế và 01 bài trong kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế. GS hướng dẫn và các GS, PGS-TS thành viên Hội đồng chấm luận án TS cũng đều yêu cầu có công bố quốc tế về vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu của nghiên cứu sinh (Hai yêu cầu 8 và 9 mới áp dụng cho khóa đào tạo  gần đây, từ năm 2019 trở đi, còn trước đó không bắt buộc, mà chỉ là khuyến khích).
          Tại các nước khác nhau, hệ thống văn bằng TS cũng được qui định khác nhau. Tổng quát thì có hai nhóm nước. Nhóm  nước có 1 bậc TS (Doctor), còn danh tiếng thì tùy kết quả nghiên cứu và giảng dạy của từng người. Đó là Mỹ và các nước cùng hệ thống. Nhóm nước có hai bậc TS là TS và TS quốc gia hay TS bậc cao.Pháp là Doctorat và Doctorat dEtat; Đức là Doktor và Habilitation. Nga là КандидатнаукDoktor nauk, tức là TS và TSKH. Hiện nay Nước Nga đào tạo cả hai hệ, hệ Liên Xô là TS và TSKH, hệ Âu Mỹ là thạc sĩ và TS. Anh và Úc cũng là TS và TSKH.Ở các nước này, TS quốc gia, TS Bậc cao hay TSKH là điều kiện để bổ nhiệm GS, PGS, điều kiện để hướng dẫn NCS bậc TS. TS Việt Nam hiện nay cũng có hai bậc là TSvà TSKH. Đó là ta thực hiện hiệp định công nhận tương đương bằng cấp giữa Nga với Việt Nam và các nước. Trước năm 1998, là Phó TS và TS, sau năm 1998 Phó TS (Кандидатнаук)được công nhận tương đương TS nên gọi là TS, còn ai đã TSrồi (Doktor nauk) gọi là Tiến sĩ khoa học (TSKH chỉ một đẳng cấp TS, chứ không ngụ ý là TS chuyên nghiên cứu khoa học). Không riêng Việt Nam mà các nước ký hiệp định với Nga cũng công nhận như vậy.Hiện nay, Việt Nam có 3 loại TS: (1) TSKH; Số này không nhiều (khoảng 200 người, đa số đã nghỉ hưu, một số đã mất).(2) TS đào tạo từ trình độ đại học lên(Кандидатнаук); Số này cũng không nhiều (khoảng 3.000, đa số cũng đã cao tuổi). (3) TS đào tạo từ thạc sĩ lên (Doctor) là đã số, trên 2,6 vạn. Hiện nay, đi học TS trong nước hay đi học ở nước ngoài chủ yếu theo hệ Âu Mỹ, đỗ là có bằng TS. Số đi học ở Nga có bằng Кандидатнаук để được công nhận tương đương TS không nhiều, học lên TSKH hầu như không có. Xu hướng là sẽ tiến tới một loại bằng thống nhất là bằng TS.
          Trước năm 1995, TS nước ta chưa phải là một trong những điều kiện để xét phong hàm GS, PGS, mà chủ yếu là dựa vào thành tựu thực tế trong nghiên cứu khoa học và đào tạo. Nhiều nhà khoa học nổi tiếng được phong GS trong đợt đầu tiên năm 1976 và các đợt tiếp theo đến trước năm 1995 mới có bằng cử nhân hay thạc sĩ. Điển hình như GS Trần Đại Nghĩa, Tạ Quang Bửu, Vũ Khiêu, Trần Phương... Nhưng từ năm 1995, bên cạnh tiêu chuẩn nghiên cứu và giảng dạy, TS đã trở thành tiêu chuẩn học vị để xét phong GS, PGS.
Các nhà khoa học của chúng ta, nòng cốt là TS gắn bó với cách mạng, có đóng góp to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, góp phân nâng cao tầm trí tuệ của dân tộc. Từ những năm bốn mươi thế kỷ 20, hàng loạt những người đỗ đạt cao ở Pháp đã theo Bác Hồ về nước phục vụ kháng chiến, gây dựng và phát triển các ngành KHCN, GDĐT, Y Dược, Kỹ thuật quân sự. Số người nổi tiếng trong nước và thế giới không ít, điển hình là các GSTS Trần Hưu Tước, Nguyễn Huy Thông, Nguyễn Văn Hiệu, Nguyễn Văn Thiêm, Nguyễn Cảnh Toàn, Hoàng Tụy, Lương Đình Của.... Hàng trăm GS, TS được nhận Giải thưởng nhà nước, Giải thưởng Hồ Chí Minh về KHCN, được phong tặng Danh hiệu anh hùng lao động. Nhiều người là cán bộ cấp cao của đảng và nhà nước. Một số vinh dự được đặt tên đường phố, trường học, giải thưởng KHCN. Một số vinh dự trở thành Viện sĩ trong nước và nước ngoài. Nhưng phần đông TS nước ta ít thành tựu, ít công bố khoa học quốc tế, it phát minh, sáng chế so với mặt bằng chung khu vực và trên thế giới.
***
TS xưa và TS nay đều là nòng cốt của đội ngũ trí (Xưa là trí thức nho học, nay là trí thức mới, XHCN), có đóng góp to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. TS thời nào cũng đều có điểm mạnh và hạn chế. TS xưa lấy ít, nói chung thực sự là người tài, là tinh hoa của dân tộc, là nguồn của nguyên khí quốc gia, được triều đình đặc biệt trọng dụng và xã hội đặc biệt tôn quý, vinh danh. Nhưng TS xưa chủ yếu là làm chính trị, quản lý, có hạn chế là bị giới hạn ở tư tưởng Nho giáo, lại không hoặc ít tiếp cận được với khoa học Kỹ thuật của thế giới. TS nay vừa được trang bị thế giới quan và nhân sinh quan khoa học Mác Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vừa tiếp cận được với nền văn minh và tiến bộ KH&KT của thế giới. TS nay lấy nhiều, chủ yếu là làm chuyên môn, nhưng chất lượng lại không đồng đều được như TS xưa, mà có sự phân hóa sâu. Số người đạt đượcthành tựu nổi bật về KHCN, nổi tiếng trong nước và thế giới, được xã hội tôn quý vinh danh chiếm tỷ trọng nhỏ, còn phần lớn là ít thành tựu, không có đượcsự tôn vinh nhiều của xã hội./.
 
Tài liệu tham khảo chính:
 

1. Khoa bảng Việt Nam (wikipedia, Tiếng Việt). Tiến sĩ nho học (vi.wikipedia.org).

 

2. Lược sử chế độ khoa cử Việt Nam thời Nho học( viethocjournal,com)

 

3. Khoa cử ngày xưa (Hội lịch sử thế giới, facebook)

 

4. Tiến sĩ , Tiến sĩ khoa học (wikipedia, Tiếng Việt).

 

5. Tìm hiểu về học vị tiến sĩ (hotcourses.vn)

 

6. Cuối tuần nói chuyện bằng cấp và cơ sở của nó(Tiểu Phi. Facebook.com.).

 

          7.Tìm hiểu học vị xưa và nay(Susta.vn)

 

          8.Mỗi năm có hơn 1500 tiến sĩ, hơn 3600 thạc sĩ tốt nghiệp(tuoitre.vn)

 

9. Đào tạo tiến sĩ, nhìn từ con số thực tế(khoahocviet.info)

 

10.Việt nam nhiều tiến sĩ, ít thành tựu(baodatviet.vn).

 

11. Công bố quốc tế của Việt Nam 5 năm qua( m.tainangviet.vn)

 

12. Đào tạo Tiến sĩ ở Việt Nam đang có nhiều điểm không giống ai(giaoducnet.vn)

 

13.Quy chế đào tạo tiến sĩ( Thông tư 10/2009, Thông tư 05/2012, Thông tư 08/2017 của BGDĐT)

 

14.Tiêu chuẩn công nhận Giáo sư, Phó giáo sư ( Các Quyết định số 174/2008, số 20/2012, số 37/2018 của Thủ tướng chính phủ).

 

15.Tiểu sử các danh nhân, các GSTS nổi tiếng( (wikipedia, Tiếng Việt).  

 

 

Số lần đọc : 562   Cập nhật lần cuối: 03/08/2020

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 10279380

Số người Onlne: 40