Nghiên cứu → Doanh nghiệp - Sáng tạo

Tại sao các startup thất bại (phần 1)


 

 

 

  
TẠI SAO CÁC STARTUP THẤT BẠI? (PHẦN 1)
 
Hầu hết các công ty khởi nghiệp đều không thành công: hơn 2/3 số này không bao giờ mang lại lợi nhuận tích cực cho các nhà đầu tư. Nhưng tại sao nhiều startup lại kết thúc một cách đáng thất vọng như vậy?

 


Khi hỏi các nhà đầu tư mạo hiểm (VC) tại sao các công ty khởi nghiệp lại thất bại, rất có thể bạn sẽ nghe họ nói về “con ngựa” (nghĩa là cơ hội mà các công ty khởi nghiệp đang nhắm đến) và “tay đua ngựa - jockey” (nghĩa là người sáng lập). Cả hai đều quan trọng, nhưng nếu buộc phải lựa chọn, hầu hết các VC sẽ coi trọng người sáng lập có năng lực hơn cơ hội hấp dẫn. Do đó, khi được yêu cầu giải thích tại sao một dự án mới đầy hứa hẹn cuối cùng lại đổ bể, họ hầu hết đều viện dẫn những điểm thiếu sót của người sáng lập - đặc biệt là sự thiếu bản lĩnh, nhạy bén trong ngành hoặc khả năng lãnh đạo.

 

Không đồng tình với quan điểm này, nhà nghiên cứu Tom Eisenmann, giáo sư của Khoa Quản trị kinh doanh trường Havard Business School đã xác định được sáu kiểu thất bại được mô tả đầy đủ trong cuốn sách có tiêu đề “Tại sao các công ty khởi nghiệp thất bại: lộ trình hướng tới thành công khởi nghiệp” được xuất bản năm 2021 của ông. Dưới đây là hai kiểu thất bại cơ bản nhất.
Ý tưởng tt, đội nhóm kém
Các nhà đầu tư mạo hiểm tìm kiếm những người sáng lập có phẩm chất phù hợp: sự kiên cường, niềm đam mê, kinh nghiệm dẫn dắt các nhóm khởi nghiệp, v.v. Nhưng ngay cả khi những tài năng hiếm có như vậy chỉ huy một startup mới, non trẻ, sẽ vẫn có những thành phần khác giữ vai trò quan trọng. Các thành phần như nhân viên, đối tác chiến lược và nhà đầu tư... tất cả đều có thể là nguyên nhân dẫn tới sự sụp đổ của một dự án kinh doanh.
Thực vậy, để khởi nghiệp thành công thậm chí còn không cần tới một tay đua cự phách (nhà sáng lập giỏi). Các thành viên khác của nhóm quản lý cấp cao có thể bù đắp những thiếu sót của người sáng lập, đồng thời các nhà đầu tư và cố vấn dày dạn kinh nghiệm cũng có thể đưa ra những hướng dẫn và kết nối hữu ích. Một starup mới theo đuổi một cơ hội tuyệt vời thường sẽ thu hút những người đóng góp như vậy. Nhưng nếu starup chỉ đơn thuần có ý tưởng tốt thì startup đó có thể sẽ không trở thành thỏi nam châm hút tài năng.
Hãy xem xét trường hợp của Quincy Apparel. Vào tháng 5 năm 2011, hai sinh viên cũ của Tom Eisenmann là Alexandra Nelson và Christina Wallace đã đến gặp ông để nhờ cố vấn về ý tưởng khởi nghiệp của họ. Ý tưởng của họ đã xác định được nhu cầu chưa được đáp ứng của khách hàng, đó là những phụ nữ trẻ công sở gặp khó khăn khi tìm kiếm trang phục công sở hợp thời trang với giá cả phải chăng phù hợp với họ. Nelson và Wallace đã nghĩ ra một giải pháp mới: một phương pháp định cỡ cho phép khách hàng xác định bốn thông số đo may riêng biệt (chẳng hạn như tỷ lệ eo-hông và cỡ áo ngực) - giống với cách được sử dụng để may vest nam.
Theo phương pháp khởi nghiệp tinh gọn, Nelson và Wallace đã xác nhận nhu cầu của khách hàng bằng cách sử dụng sản phẩm khả dụng tối thiểu hoàn hảo, hay còn gọi là MVP - nghĩa là, sản phẩm đơn giản nhất mang lại phản hồi đáng tin cậy của khách hàng. Họ đã tổ chức sáu buổi trình diễn, tại đó phụ nữ có thể thử trang phục mẫu và đặt hàng. Trong số 200 phụ nữ tham dự, 25% đã mua hàng. Phấn khích trước những kết quả này, các nhà đồng sáng lập đã bỏ công việc tư vấn, huy động vốn đầu tư mạo hiểm được 950.000 USD, tuyển dụng đội nhóm và cho ra đời Quincy Apparel. Họ sử dụng mô hình kinh doanh “trực tiếp đến người tiêu dùng”, bán hàng trực tuyến thay vì thông qua các cửa hàng truyền thống. Tại thời điểm đó, Tom Eisenmann trở thành nhà đầu tư thiên thần sớm nhất của startup này.
 
Đơn đặt hàng lần đầu cũng như đơn đặt hàng lại rất nhiều: ấn tượng với 39% khách hàng mua các mặt hàng từ bộ sưu tập theo mùa đầu tiên của Quincy đã mua hàng lần nữa. Tuy nhiên, nhu cầu mạnh đòi hỏi phải đầu tư nhiều vào hàng dự trữ. Trong khi đó, vấn đề sản xuất khiến hàng may mặc không vừa với một số khách hàng, dẫn đến mức gửi trả lại hàng cao hơn dự kiến. Xử lý hàng trả lại và khắc phục các vấn đề sản xuất gây áp lực lên đòn bẩy tài chính, nhanh chóng làm cạn kiệt nguồn dự trữ tiền mặt của Quincy. Sau khi Quincy cố gắng rồi thất bại trong việc huy động thêm vốn, nhóm đã cắt giảm dòng sản phẩm, nhằm mục đích đơn giản hóa hoạt động và nâng cao hiệu quả. Tuy nhiên, startup không đủ kinh phí để chứng minh sự chuyển hướng và Quincy buộc phải đóng cửa sau chưa đầy một năm ra mắt.
Vậy tại sao Quincy lại thất bại?
Những người sáng lập của Quincy đã có một ý tưởng hay. Tuyên bố giá trị của startup rất hấp dẫn đối với khách hàng mục tiêu và doanh nghiệp có một công thức hợp lý để kiếm lợi nhuận - ít nhất là về lâu dài, sau khi loại bỏ các lỗi trong quá trình sản xuất. Nhóm đã đưa ra những dự đoán đáng tin cậy rằng khách hàng trong các phân khúc ưu tiên, những người chiếm hơn một nửa doanh số bán hàng của Quincy, mỗi khách hàng sẽ có giá trị vòng đời trên 1.000 USD - cao hơn nhiều mức chi phí trung bình 100 USD để có được khách hàng mới. Chi phí marketing của Quincy được giữ ở mức thấp nhờ tận dụng sự truyền miệng được thúc đẩy mạnh mẽ từ mạng xã hội và sự đưa tin nhiệt tình của các phương tiện truyền thông.
 
 
Vậy, liệu có phải Wallace Nelson chỉ đơn giản là những tay đua kém cỏi? Về mặt phẩm chất, rõ ràng họ là những nhà sáng lập giỏi. Họ nhạy bén, tháo vát và có những điểm mạnh bổ sung cho nhau. Wallace, người chịu trách nhiệm marketing và gây quỹ, có tầm nhìn lớn và sức hút. Nelson, người lãnh đạo các hoạt động, luôn có chủ kiến và kỷ luật. Tuy nhiên, nhóm sáng lập đã bị ngả nghiêng theo hai kiểu quan trọng. Thứ nhất, do không muốn làm căng thẳng tình bạn thân thiết của hai người, Wallace Nelson thống nhất đều có quyền quyết định ngang nhau đối với việc đề ra chiến lược, thiết kế sản phẩm và các lựa chọn quan trọng khác. Điều này làm chậm phản hồi của họ khi cần hành động. Thứ hai, cả hai người sáng lập đều không có kinh nghiệm về thiết kế và sản xuất quần áo. Sản xuất hàng may mặc đòi hỏi nhiều nhiệm vụ chuyên biệt, chẳng hạn như tìm nguồn cung ứng vải, tạo mẫu và kiểm tra chất lượng. Để bù đắp cho việc họ thiếu kiến thức về ngành, hai người sáng lập đã thuê một số cựu binh của công ty may mặc, với ý nghĩ rằng họ sẽ đảm nhiệm nhiều chức năng - như các thành viên trong nhóm ở hầu hết các công ty khởi nghiệp giai đoạn đầu. Tuy nhiên, đã quen với mức độ chuyên môn hóa cao trong các công ty may mặc lâu niên, nhân viên của Quincy không linh hoạt trong việc giải quyết các công việc ngoài lĩnh vực chuyên môn của họ.
Quincy thuê các nhà máy của bên thứ ba sản xuất gia công, điều này không có gì lạ trong ngành. Nhưng các nhà máy này chậm đáp ứng với các đơn sản xuất của những doanh nhân không có uy tín trong ngành, yêu cầu kích cỡ hàng may mặc bất thường và đặt hàng khối lượng nhỏ. Điều này dẫn tới việc chuyển hàng trễ cho Quincy.
Các nhà đầu tư cũng là một trong những nguyên nhân gây ra sự sụp đổ của Quincy. Những người sáng lập đã đặt mục tiêu huy động 1,5 triệu USD nhưng chỉ thu được 950.000 USD. Khoản này đủ để tài trợ cho hoạt động của hai bộ sưu tập theo mùa. Trước khi ra mắt, những người sáng lập đã giả định một cách chính xác rằng cần ít nhất ba mùa để tinh chỉnh các hoạt động. Quincy đã thu hút một số sự chú ý sau hai mùa nhưng vẫn không đủ để thu hút những người ủng hộ mới, còn những công ty đầu tư mạo hiểm đã cung cấp hầu hết số tiền cho Quincy thì lại quá nhỏ để tài trợ thêm. Hơn nữa, hai người sáng lập thất vọng với những hướng dẫn mà họ nhận được từ những VC: gây áp lực buộc họ phải phát triển hoàn toàn - giống như các công ty khởi nghiệp về công nghệ vốn quen thuộc với các nhà đầu tư. Làm như vậy buộc Quincy phải xây kho dự trữ, đốt cháy tiền mặt trước khi giải quyết các vấn đề sản xuất.
Tóm lại, Quincy đã có một ý tưởng hay nhưng lại có một đội ngũ dở: ngoài những người sáng lập, một loạt nhà cung cấp tài nguyên có thể dẫn đến sự sụp đổ của startup, bao gồm các thành viên trong nhóm, đối tác sản xuất và nhà đầu tư.
Có thể tránh được kết cục này không? Có. Sự thiếu kinh nghiệm trong ngành thời trang của những người sáng lập là căn nguyên của nhiều vấn đề. Phải mất thời gian thì Wallace Nelson mới hiểu được sự phức tạp của thiết kế và sản xuất hàng may mặc. Không có các kết nối trong ngành, họ không thể tận dụng mạng lưới chuyên nghiệp của mình để tuyển dụng các thành viên trong nhóm hoặc dựa vào các mối quan hệ trong quá khứ với các quản lý nhà máy để đảm bảo giao hàng nhanh chóng. Và không có lý lịch chuyên môn (tiếng tăm) trong ngành, họ gặp khó khăn trong việc tìm kiếm các nhà đầu tư sẵn sàng đặt cược vào những người sáng lập lần đầu tiên.
Giải pháp lý tưởng sẽ là bổ sung một nhà đồng sáng lập khác có kinh nghiệm trong ngành may mặc. Nelson Wallace đã cố gắng làm điều này nhưng không thành công. Phân tích sau này, những người sáng lập Quincy cũng kết luận rằng họ có thể đã tránh được các vấn đề vận hành bằng cách thuê ngoài toàn bộ quy trình thiết kế và sản xuất của họ cho một đối tác nhà máy duy nhất. Tương tự như vậy, thay huy động vốn từ các công ty đầu tư mạo hiểm, họ có thể tìm kiếm hỗ trợ tài chính từ một nhà máy sản xuất quần áo. Một nhà máy có cổ phần của Quincy sẽ đẩy nhanh các đơn đặt hàng của mình và làm việc chăm chỉ hơn để khắc phục các vấn đề sản xuất. Ngoài ra, các chủ sở hữu nhà máy sẽ biết cách tăng tốc độ phát triển một dòng hàng may mặc mới, trái ngược với các VC của Quincy, những người gây áp lực buộc nhóm phát triển siêu tốc.
Những rắc rối của Quincy làm sáng tỏ một số thuộc tính của kiểu thất bại mà các công ty khởi nghiệp dễ mắc phải. Thiếu kinh nghiệm ngành của các doanh nhân sẽ đặc biệt gây rắc rối khi phải có các cam kết về nguồn lực lớn, như ở sản xuất hàng may mặc: Những người sáng lập của Quincy phải thiết kế một quy trình sản phẩm nhiều bước từ đầu và việc sửa đổi quy trình như vậy sẽ gây gián đoạn khi nó được vận hành. Một yếu tố khác là xu hướng thời trang luôn thay đổi; những người sáng lập phải thực hiện các bản thiết kế hàng may mặc và sau đó xây dựng hàng dự trữ cho toàn bộ bộ sưu tập nhiều tháng trước khi nó được bán ra thị trường.
Với những thách thức như vậy, vừa học vừa làm có thể mắc phải những sai lầm đắt giá. Thêm vào đó, các nhà đầu tư thì luôn quan sát, chờ xem liệu doanh nghiệp có thể đi đúng hướng hay không. Nếu công ty khởi nghiệp gặp khó khăn hoặc đình trệ, nguồn tài chính tiếp theo có thể không đến từ các nhà đầu tư hiện tại, còn các nhà đầu tư mới tiềm năng sẽ sợ hãi. Việc chuyển hướng sang một giải pháp tốt hơn là không khả thi vì nó đòi hỏi một lượng vốn lớn cùng với mất hàng tuần hoặc hàng tháng để xem liệu các phương pháp tiếp cận mới có hiệu quả hay không. Trong tình huống này, các doanh nhân không có chỗ cho những sai sót lớn, nhưng việc thiếu kinh nghiệm trong ngành sẽ khiến những sai lầm càng dễ xảy ra./.
 
Theo Bản tin Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo số 41/2021

 

 

Số lần đọc : 536   Cập nhật lần cuối: 20/12/2021

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 12462401

Số người Onlne: 76