Nghiên cứu → Doanh nghiệp - Sáng tạo

Spin-off trường đại học - Khởi nghiệp từ môi trường học thuật (Phần II)


 

 

 

 

SPIN-OFF TRƯỜNG ĐẠI HỌC - KHỞI NGHIỆP TỪ MÔI TRƯỜNG 
HỌC THUẬT (PHẦN 2)
 
 
Bốn giai đoạn hình thành spin-off trường đại học
 
Việc chuyển hóa các kết quả nghiên cứu của trường đại học thành giá trị kinh tế được cụ thể hóa thành mô hình đầu vào-đầu ra với 4 giai đoạn sau đây (Hình 2):
- Giai đoạn 1: tạo ra các ý tưởng kinh doanh từ nghiên cứu
- Giai đoạn 2: hình thành các d ự án kinh doanh mới từ các ý tưởng
- Giai đoạn 3: ra mắt các công ty spin-off từ các dự án
- Giai đoạn 4: tăng cường hình thành giá trị kinh tế bởi các công ty spin-off
Mỗi giai đoạn trong quy trình hình thành spin-off này có một chức năng cụ thể. Giai đoạn đầu tạo ra và đánh giá các ý tưởng liên quan tới khả năng thương mại hóa; giai đoạn 2 xem xét những ý tưởng này và chuyển hóa những ý tưởng tiềm năng nhất thành các dự án kinh doanh thực sự; giai đoạn thứ 3 thực hiện những dự án tốt nhất bằng cách hình thành các công ty spin-off mới; giai đoạn thứ 4 củng cố và tăng cường giá trị kinh tế do các công ty mới này tạo ra.
 
Hình 2: Quy trình hình thành spin-off toàn cầu 
 
 
Quy trình chọn lọc diễn ra ở mỗi giai đoạn. Thực tế, không phải tất cả các kết quả nghiên cứu đều tạo ra những ý tưởng kinh doanh; không phải tất cả các ý tưởng đều mang lại cơ hội cho các dự án kinh doanh mới; các cơ hội hấp dẫn không nhất thiết dẫn tới việc hình thành nên các công ty spin-off; và cuối cùng, những công ty spin-off như vậy không phải tất cả đều tạo ra giá trị kinh tế. 4 giai đoạn này không hoàn toàn độc lập với nhau. Giá trị kinh tế phụ thuộc vào chất lượng của công ty, vốn phụ thuộc vào chất lượng của dự án, trong khi bản thân dự án lại phụ thuộc vào chất lượng của các ý tưởng ban đầu. Trên thực tế, hiệu quả của quy trình đa giai đoạn này phụ thuộc vào liên kết yếu nhất của nó.
Mô hình 4 giai đoạn này xác định những biến đổi khác nhau ở trạng thái mà các kết quả nghiên cứu trải qua để tạo ra giá trị kinh tế, vì thế có một quy trình: "các kết quả nghiên cứu, các ý tưởng kinh doanh, các dự án kinh doanh mạo hiểm mới, các công ty spin-off và giá trị kinh tế”.
 
 
Quy trình này vừa không dễ dàng hay tự phát. Thay vào đó, nó gặp phải rất nhiều vật cản, khó khăn, trở ngại, cản trở..
Giai đoạn 1 - Phát sinh ra các ý tưởng kinh doanh
Mục tiêu của giai đoạn đầu vào này là nhằm tạo ra các ý tưởng kinh doanh, các gợi ý và các đề xuất để khai thác thương mại bên trong nội bộ một cộng đồng khoa học. Đối với hầu hết các trường đại học, kinh doanh bằng nghiên cứu của mình đòi hỏi những thay đổi triệt để ở thói quen khai thác các kết quả của mình. Thực vậy, việc khai thác thương mại như vậy có nghĩa rằng hai khái niệm tưởng chừng đối lập nhau bỗng trở nên gần nhau hơn, đó là khái niệm “khoa học”, vốn coi khoa học như là điểm kết thúc của mình, và khái niệm “kinh tế”, vốn xem xét khoa học rộng hơn, như là công cụ để đạt được những mục tiêu khác (đặc biệt là để kiếm tiền). Vì thế, một trong những vấn đề chính là làm thế nào để hài hòa được hai khái niệm đối lập nhau này.
Với quan điểm đó, hai khó khăn chính mà các trường đại học phải vượt qua đó là: 1)văn hóa trường đại học; 2)nhận diện trong nội bộ.
 
1. Văn hóa trường đại học
Phần lớn các trường đại học đều cho rằng mục đích duy nhất của nghiên cứu hàn lâm là nhằm tăng cường và củng cố tri thức nhân loại, không cần tới bất cứ ứng dụng thực tiễn nào. Quan điểm này chỉ công nhận hai cách thức khai thác tri thức: i)các ấn phẩm khoa học, ví dụ như sách, bài báo hoặc các hội nghị đóng góp vào quy trình thu thập và tích lũy sản xuất tri thức, và ii)giáo dục nhằm cung cấp cho sinh viên cơ hội nghiên cứu những khám phá và tìm kiếm khoa học mới nhất. Theo khái niệm này, nghiên cứu hàn lâm rõ ràng là một hàng hóa công.
Quan điểm này đóng góp tích cực vào hệ thống giá trị có gốc rễ chặt chẽ trong nền văn hóa hàn lâm và đối lập với việc giá trị hóa nghiên cứu thông qua các spin-off. Trong hệ thống những giá trị này, có 3 đặc điểm biệt quan trọng cần thay đổi: động lực “xuất bản hay là chết”, mối quan hệ mơ hồ của các nhà nghiên cứu với tiền bạc, và bản chất “không vụ lợi” của nghiên cứu hàn lâm.
 
2. Nhận diện trong nội bộ
Mãi cho tới gần đây, các trường đại học chưa bao giờ bận tâm tới việc phát hiện các ý tưởng tiềm năng phát sinh từ các trung tâm nghiên cứu và phòng thí nghiệm của họ. Việc hình thành nên một chính sách định giá đòi hỏi năng lực xác thực các ý tưởng lẫn đánh giá tiềm năng của chúng. Phần lớn trường đại học tự tổ chức và phát triển nội bộ các khả năng và kỹ năng cần thiết để xác thực và đánh giá các ý tưởng tiềm năng nhất, trong các lĩnh vực nghiên cứu cụ thể và đa dạng.
  
Tuy nhiên, đánh giá công nghệ là yếu tố cần nhưng chưa đủ để xác thực tiềm năng của một ý tưởng. Thực vậy, từ triển vọng khai thác kinh tế, phải đánh giá tiềm năng thương mại để xác định mức độ có thể tồn tại một thị trường. Ở giai đoạn này, phải giải đáp được nhiều câu hỏi: Những ứng dụng khác nhau của công nghệ đó là gì? Những ứng dụng nào tiềm năng nhất? Ai là những thành phần chính trong những thị trường đó? Rào cản để gia nhập (thị trường đó) cao tới mức nào? Tiềm năng này có đủ lớn để thành lập một công ty có khả năng tồn tại? Ở giai đoạn này, đánh giá vẫn mang tính chất tương đối bởi vì có thể cần quá trình phát triển sâu hơn hoặc bởi các ứng dụng quá sáng tạo đến nỗi vẫn chưa có một thị trường rõ ràng.
Giai đoạn 2 - Hình thành các dự án kinh doanh mới từ các ý tưởng
Các ý tưởng được tạo ra trong giai đoạn đầu của quy trình có cấu trúc rất yếu, với nhiều lĩnh vực không rõ ràng cần phải được làm rõ. Những ý tưởng này thường gồm những yếu tố khoa học và kỹ thuật, trong khi tiềm năng để tạo ra lợi nhuận của chúng thì chưa rõ. Ở giai đoạn này, mới chỉ có cảm giác hoặc một giả định thô sơ rằng các kết quả nghiên cứu hứa hẹn có tiềm năng kinh tế. Giả định này cần phải được xác thực trong một dự án kinh doanh.
Vì thế, mục tiêu của giai đoạn 2 nhằm chuyển hóa một ý tưởng có cấu trúc yếu thành một dự án kinh doanh sáng tạo có cấu trúc và mạch lạc giải quyết hai vấn đề cụ thể: bảo hộ và phát triển ý tưởng. Bước này có thể đòi hỏi đầu tư lớn và là bước quan trọng đầu tiên chuyển từ nghiên cứu sang lĩnh vực kinh doanh.
Giai đoạn 3 - Ra mắt các công ty spin-off
Ở cuối giai đoạn thứ hai của quy trình, nên sẵn sàng có một dự án kinh doanh mạo hiểm. Giai đoạn ba là dành cho việc thành lập một công ty mới để khai thác một cơ hội, được quản lý bởi một nhóm chuyên nghiệp và được hỗ trợ bởi các nguồn lực khả dụng. Có hai vấn đề ở giai đoạn này: tính khả dụng của các nguồn lực và các mối quan hệ được thiết lập giữa công ty spin-off và trường đại học mẹ.
Các công ty spin-off trong những lĩnh vực công nghệ cao thường vận động trong một môi trường khắc nghiệt. Nhằm giúp họ vượt qua được những vấn đề này, một số trường đại học tích cực tìm kiếm các giải pháp ví dụ như huy động các nguồn vốn tài chính, trong khi đó, các trường khác lại coi những vấn đề này nằm ngoại phạm vi năng lực của họ.
1. Tiếp cận tới các nguồn lực
Tất cả các dự án khởi nghiệp đều cần các nguồn lực để có thể trở thành một thực thể kinh tế cụ thể. Điều này đặc biệt thích hợp với các spin-off trường đại học, vì hầu hết đều hoạt động trong các ngành công nghệ cao. Hai loại nguồn lực sau cần được xem xét: nguồn lực vô hình (nhân lực); và nguồn lực hữu hình (tiền và vật tư).
2. Mối quan hệ với trường đại học “mẹ”
Mâu thuẫn lợi ích có thể nảy sinh trong mối quan hệ giữa trường đại học với các công ty spin-off của nó. Để giải quyết vấn đề này, một số trường đại học đã đề ra một bộ quy tắc thực hành tốt nhất nhằm ngăn ngừa những mâu thuẫn tiềm tàng.
Mặc dù hầu hết các spin-off sẽ dần dần cắt bỏ
 


quan hệ với môi trường học thuật, nhưng lại vẫn duy trì một số mối quan hệ với trường đại học “mẹ” của mình. Những mối quan hệ này có thể được thiết lập hoặc ở cấp tổ chức (giữa trường đại học và spin-off), hoặc ở cấp độ cá nhân (giữa trường đại học và nhà nghiên cứu).
- Mối quan hệ cấp tổ chức giữa trường đại học với các spin-off của mình:
Về mục đích, phương tiện và phương pháp, trường đại học quá khác biệt với spin-off đến mức họ có thể coi việc thành lập các spin-off như là thành quả cuối của một quá trình mà sau đó họ chẳng còn liên quan nữa. Tuy nhiên, bất chấp những khác biệt, hai bên thông thường vẫn duy trì những mối quan hệ cộng tác vì một số lý do, ví dụ:
 Các trường đại hc có th gi mt s c phn ca spin-off (ngun lc tài chính);
 Các spin-off có thể khai thác một công nghệ được cấp bằng sáng chế được trường đại học sở hữu (nguồn lực vô hình);
 Các spin-off có th có quyn tiếp cn ti các trang thiết b ca trường đại hc (ngun lc vt cht).
- Mối quan hệ cá nhân giữa trường đại học với các nhà nghiên cứu của mình
Từ các nghiên cứu sinh dành thời gian thực hiện hoạt động nghiên cứu, cho tới các giáo sư chia sẻ thời gian giữa hoạt động nghiên cứu và giảng dạy, phạm vi các nhà nghiên cứu có khả năng thành lập một spin-off rất rộng. Có thể thấy nhà nghiên cứu càng gắn bó sâu sắc với trường/viện nghiên cứu của mình thì họ càng khó rời bỏ trường/viện để khởi động một dự án kinh doanh, không chỉ bởi môi trường dễ chịu mà họ sẽ phải từ bỏ, mà còn bởi vô số khó khăn về mặt hành chính liên quan tới việc từ chức.
Những mối quan hệ vô cùng khác biệt này, cả ở cấp tổ chức lẫn cá nhân, giữa trường đại học với các spin-off của nó, có thể tạo ra những mâu thuẫn lợi ích. Do đó, các nhà quản lý spin-off có thể sẽ dễ dàng ký hợp đồng phụ thực hiện phần lớn hoạt động R&D của họ ở các phòng thí nghiệm mà họ xuất thân và được hưởng lợi từ cơ sở hạ tầng nghiên cứu với chi phí thấp hơn so với cơ sở hạ tầng hiện có trên thị trường. Sự “thông đồng” mang tính tự nhiên giữa một số nhà nghiên cứu đã thành lập spin-off với cơ quan chủ quản ban đầu của họ có thể dẫn tới những trường hợp trong đó các trường đại học vô tình trợ cấp cho một số hoạt động của spin-off của họ.
 
Giai đoạn 4 - Tăng cường tạo ra giá trị kinh tế
Mặc dù thành lập các công ty dựa trên công nghệ mới như spin-off là một bước cơ bản trong quá trình tạo giá trị, nhưng giai đoạn này không phải là bước cuối. Tầm nhìn phải được mở rộng và trải dài cho tới tận mục tiêu cuối cùng của quy trình tạo ra giá trị kinh tế của spin-off trường đại học. Quy trình này sẽ mang lại cho nền kinh tế địa phương cả lợi ích hữu hình (việc làm, đầu tư, thuế...) và các lợi ích vô hình (đổi mới kinh tế, các động lực khởi nghiệp, hình thành các trung tâm xuất sắc...).
Trong giai đoạn này, hai vấn đề cần được đánh giá là: rủi ro dịch chuyển và không khai thác hoàn toàn tiềm năng công nghiệp của dự án công nghệ.
- Rủi ro dịch chuyển
Vấn đề này liên quan tới cách mà nền kinh tế địa phương có thể tận dụng hoàn toàn lợi thế giá trị kinh tế mà spin-off tạo ra. Hầu hết các spin-off trường đại học thông thường đều rất tích cực trong các thị trường có tiềm năng tăng trưởng và phạm vi quốc tế, nên họ rất dễ nhanh chóng vướng phải các vấn đề về hạ tầng, tuyển dụng nhân lực giỏi, hoặc huy động vốn để phát triển. Về những vấn đề này, chính quyền địa phương nên đặc biệt quan tâm để ngăn các spin­off công nghệ rời bỏ địa phương.
- Sự thay đổi của các quỹ đạo
Vấn đề thứ hai liên quan tới các spin-off theo định hướng sản phẩm và dựa trên công nghệ cụ thể hơn. Hầu hết những công ty công nghệ này phát triển một chiến lược tăng trưởng gồm hai bước. Thực vậy, bởi vì thông thường không thành công trong việc huy động đủ vốn để thực hiện các chiến lược công nghiệp của mình một cách trực tiếp, những công ty này có thể quyết định thử phát triển các hoạt động dịch vụ, ví dụ như tư vấn trong nỗ lực nhằm giảm thiểu rủi ro. Những hoạt động này có thể tạo ra một khoản tiền cần thiết để đầu tư cho phát triển công nghệ, nhờ thế mà sản phẩm được tung ra trên thị trường. Từ quan điểm kinh tế địa phương, chiến lược phát triển như vậy phòng ngừa được rủi ro. Tuy nhiên, cũng có nhiều spin-off chọn dừng bước ở đây và đồng thời từ bỏ dự án ban đầu đầy hứa hẹn đối với nền kinh tế địa phương./.
 
Theo Phương Anh – Bản tin Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo
 
 
 

 

 
 

Số lần đọc : 132   Cập nhật lần cuối: 06/12/2021

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 11829270

Số người Onlne: 21