Nghiên cứu → Đa chiều

Sơn La trong cuộc đua xây dựng nông thôn mới


  

 

 

SƠN LA TRONG CUỘC ĐUA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
                                                                                                                 CVCC Phan Đức Ngữ
"Cả nước, từng vùng và từng tỉnh  đã tổng kết 10 năm(2010-2019) chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM(gồm hai giai đoạn 2010-2015 và 2016-2019). Bài này cập nhật kết quả đến hết năm 2020. Riêng tổng nguồn vốn huy động  bình quân/xã của cả nước, từng vùng, do thiếu số liệu  tra cứu, tạm tính năm 2020 bằng mức bình quân của 4 năm  2016-2019".
I. KHÁI QUÁT CẢ NƯỚC
Cả nước có 8.909 xã tham gia xây dựng Nông thôn mới (NTM). Các nguồn vốn huy động bình quân/xã khoảng 350 tỷ đồng. Ngân sách nhà nước các cấp trực tiếp hỗ trợ khoảng 22%, vốn lồng ghép các chương trình 8%; tín dụng 57%, doanh nghiệp 5,0%, cộng đồng dân cư 8%. Hai vùng Đông Nam Bộ và vùng đồng bằng sông Cửu Long 600 tỷ đồng/xã. Hai vùng đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ (ĐBSH-BTB) 490 tỷ đồng/xã. Hai vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên 295 tỷ đồng xã/xã. Vùng Trung du và miền núi phía Bắc (TD&MNPB) thấp nhất, 210 tỷ đồng/xã. Riêng ngân sách nhà nước các cấp hỗ trợ trực tiếp bình quân 45 tỷ đồng/xã; vùng Đông Nam Bộ cao nhất, 165 tỷ đồng/xã; vùng ĐBSH-BTB 95 tỷ đồng/xã;đồng bằng sông Cửu Long khoảng 35 tỷ đồng/xã; Duyên Hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên là 28 tỷ đồng/xã và thấp nhất là TD&MNPB, 21 tỷ đồng/xã.
Kết quả đạt được: Số tiêu chí bình quân/xã tăng từ 5,28 (2011) lên 12,9 (2015) và 16,38 (2020).Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đã tăng  từ mức 13 triệu đồng lên hơn 42 triệu đồng. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 15,9 % xuống 3,50%. Có 3,5 triệu hộ sản xuất kinh doanh giỏi, 27.000 hộ nông dân tỷ phú.
Số xã đạt chuẩn NTM: Năm 2015 có 1.298 xã (14,5%); Năm 2020 tăng lên 5.506 xã, đạt 61,8%, trong đó có 3,6% xã NTM nâng cao và kiểu mẫu. Có 173/664 đơn vị cấp huyện (kể cả thành phố, thị xã thuộc tỉnh) thuộc 50 tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM hoặc đạt chuẩn NTM, đạt 26%, còn 13 tỉnh chưa có đơn vị nào. Có 12 tỉnh, thành đã hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM với 100% số xã đạt chuẩn NTM.  
 Tiêu chí và kết quả xây dựng NTM có sự phân hóa giữa các vùng. Tiêu chí NTM cao nhất là vùng Đông Nam Bộ và vùng đồng bằng sông Hồng. Thấp nhất là các vùng TD&MNPB, Bắc Trung Bộ. Riêng tiêu chí thu nhập bình quân/ người/năm của khu vực nông thôn vùng TD&MNPB bằng 80% mức trung bình cả nước, 60-70% các vùng cao.  Đến hết năm 2020, tỷ lệ xã NTM vùng Đồng bằng sông Hồng là 95,1%, vùng Đông Nam Bộ 79%, vùng Bắc Trung bộ và Duyên Hải miền Trung 69%, vùng đồng bằng sông Cửu Long 56,8%, vùng Tây Nguyên 45,4%, vùng TD&MNPB 36,4%.
II. VÙNG TD&MNPB
Cả vùng có 2.280 xã tham gia xây dựng NTM. Các nguồn huy động bình quân 210 tỷ đồng/xã, bằng 60% cả nước, bằng 35% vùng cao nhất. Riêng nguồn ngân sách nhà nước các cấp trực tiếp hỗ trợ 21 tỷ đồng/xã, bằng 47% cả nước, 13% vùng cao nhất.
 Số tiêu chí bình quân/xã của vùng đã tăng từ trên 3,96(2011) lên 13,93 (2020).  Năm 2011 chưa có xã NTM, năm 2015 có 215 xã, năm 2020 tăng lên 831 xã, đạt 36,4%, trong đó, 3,5% xã NTM nâng cao. Đã có 19 đơn vị cấp huyện hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM hoặc đạt chuẩn NTM. Thu nhập dân cư nông thôn tăng từ 9 triệu lên 27 triệu. Tỷ lệ hộ nghèo (khu vực nông thôn) giảm từ 29,4% xuống 15,8%. Có trên 250 ngàn hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi các cấp, hàng ngàn tỷ phú nông dân.
 
 Có hai tỉnh đạt tỷ lệ xã NTM cao hơn mức bình quân cả nước là Thái Nguyên (73,46%0, Bắc Giang (66, 84%). Có 7 tỉnh đạt từ 30% đến dưới 50%. Có 5 tỉnh đạt dưới 30%, chiếm 56% cả nước.
Năm (5) tỉnh có thành phố hoàn thành nhiệm vụ XD NTM và từ 1-3 huyện đạt chuẩn NTM (Yên Bái 1, Phú Thọ 1, Hòa Bình 2, Bắc Giang 2, Thái nguyên 3). 5 tỉnh có thành phố hoàn thành nhiệm vụ XD NTM (Sơn La, Lạng Sơn, Lào cai, Lai Châu, Hà Giang). Còn 4 tỉnh chưa có đơn vị cấp huyện nào (một số đang chuẩn bị trình (Điện Biên, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn).
So với mặt bằng chung cả nước thì vùng thấp hơn 2,5 tiêu chí/xã, thấp hơn 26% tỷ lệ xã NTM, thấp hơn 50% tỷ lệ huyện NTM, chưa có tỉnh nào hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM. Thu nhập bình quân dân cư nông thôn bằng 62%. Tỷ lệ hộ nghèo cao nhất các vùng, gấp 4,5 lần bình quân cả nước.
III. TỈNH SƠN LA
Có 188 xã với 3200 bản (nay sáp nhập còn 2.506 bản) tham gia xây dựng NTM. Bình quân/xã của Sơn La được đầu tư khoảng 180 tỷ đồng, bằng 86% mức của vùng và 51% cả nước. Trong đó, ngân sách TW hỗ trợ trực tiếp cho NTM chiếm 6%, ngân sách địa phương và vốn lồng ghép 33%; vốn tín dụng 48%, vốn doanh nghiệp, HTX 0,50%; cộng đồng dân cư (gồm cả đất đai, công lao động) 12,5%. 
Số tiêu chí bình quân/xã đã đạt: 1,61 tiêu chí (2011), 7,20 tiêu chí (2015) 13,50 tiêu chí (2020). Không có xã nào đạt dưới 5 tiêu chí. Đã có 49 xã đạt chuẩn NTM, chiếm 26,10%, trong đó có 3 xã NTM nâng cao. Một đơn vị cấp huyện (TP Sơn La) hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM. Có hai huyện thoát khỏi diện nghèo. Tốc độ tăng trưởng nông lâm nghiệp bình quân đạt trên 3-4%/năm. Vùng cây ăn quả có diện tích 78.850 ha lớn thứ hai cả nước, với 181 mã số vùng trồng; 21 sản phẩm nông sản được cấp văn bằng bảo hộ; 83 sản phẩm OCOP được tiêu chuân hóa. Giá trị hàng hóa nông sản tham gia xuất khẩu trị giá trên 100 triệu USD (2020). Thu nhập của dân cư nông thôn bình quân đạt trên 19 triệu đồng/nhân khẩu/năm, quy về giá 2020, tăng gấp 1,6 lần năm 2011. Tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn giảm từ 40,10% (2011) xuống 25,3%(2020). Đã có trên 28 ngàn hộ đạt danh hiệu sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp, hàng trăm hộ tỷ phú.
So với mặt bằng chung cả nước và vùng TD&MNPB thì kết quả xây dựng NTM của Sơn La còn khiêm tốn. Tỷ lệ xã NTM mới đạt 26%, trong khi vùng là 36,4%, cả nước là 61,8%, đứng thứ 10 trong vùng và thứ 59 cả nước. Các chỉ tiêu quan trọng như thu nhập dân cư nông thôn mới bằng 68% vùng và 42% cả nước. Tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn còn trên 25%, cao gấp 7 lần cả nước và 1,7 lần vùng TD&MNPB.  
Xếp thứ tự các tỉnh từ cao xuống thấp theo tỷ lệ xã đạt chuẩn NTM, Sơn La trong vùng như sau:
 
TT
 
Tỉnh
2015
2020
Số tiêu chí/xã
Xã NTM
Số tiêu chí/xã
Xã  NTM
Huyện NTM
%
%
 
I
Cả nước
12,9
1.298
14,50
16,38
5.506
61,80
173
II
TD&MNPB
9,32
215
10,93
13,93
852
36,40
19
1
Thái Nguyên
13,60
40
27,97
16,70
108
77,10
4
2
Bắc Giang
12,70
34
18,30
16,50
123
66,84
3
3
Phú Thọ
11,60
19
15,20
15,02
116
58,88
2
4
Yên Bái
8,28
6
3,82
14,69
73
48,70
2
5
Hòa Bình
11,50
51
36,95
15,31
64
47,10
3
6
Lào Cai
10,30
20
15,74
14,10
57
44,90
1
7
Lai Châu
11,08
5
4,63
15,50
38
40,00
1
8
Lạng Sơn
7,40
13
6,26
12,70
71
39,23
1
9
Tuyên Quang
10,00
10
7,75
13,50
47
37,90
0
10
Sơn La
7,20
3
1,60
13,50
49
26,10
1
11
Hà Giang
7,90
11
6,70
12,70
43
24,57
1
12
Cao Bằng
6,85
2
1,13
11,70
25
19,37
0
13
Điện Biên
5,50
1
0,86
11,03
21
18,26
0
14
Bắc Cạn
6,90
0
0
12,25
17
18.10
0
Nguồn: Báo cáo sơ kết 5 năm (2010-2015) và tổng kết 10 năm (2010-2019) và năm 2020 về xây dựng NTM của cả nước, vùng TD&MNPB và các tỉnh trong vùng.(Xếp theo tỷ lệ xã NTM từ cao xuống thấp của năm 2020)
IV. MỤC TIÊU GIAI ĐOẠN 2021-2025
1. Mục tiêu quốc gia đến 2025
 
TT
 
Vùng/tỉnh
Cấp xã
Cấp huyện
Cấp tỉnh
Tiêu chí/xã
Xã NTM
(%)
NC
(%)
KM
(%)
 
HTNV/Đạt
chuẩn  NTM
(%)
NC,
KM (%)
HTNV
(Tỉnh)
I
Cả nước
≥18
≥80
≥ 30
≥ 10
≥40
Mỗi tỉnh ít nhất có 2 đơn vị cấp huyện
≥10
≥20
1
ĐB Sông Hồng
- Không còn xã nào dưới 10 tiêu chí.
- Thu nhập tăng ≥ 1,8 lần
99
 
 
80
 
8
2
Đông Nam Bộ
95
 
 
70
 
4
3
Bắc Trung Bộ
87
 
 
30
 
1
4
Nam Trung Bộ
80
 
 
30
 
1
5
ĐB sông CL
80
 
 
35
 
4
6
Tây Nguyên
68
 
 
20
 
1
7
TD&MNPB
60
 
 
20
 
1
 
          Ghi chú: Cấp huyện. HTNV: Hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM. HTNV áp dụng cho thành phố, thị xã, quận. Đạt chuẩn NTM áp dụng cho huyện. NC là nâng cao, KM là kiểu mẫu.
          2. Chỉ tiêu  xây dựng  của các tỉnh vùng TD&MNPB
 
TT
 
Tỉnh
Đã hoàn thành 2020
Mục tiêu 2025
Xã NTM
Huyện NTM
Xã NTM
Huyện NTM
(%)
(%)
I
Cả nước
5.506
61,00
173 (26%)
7.221
75-80
280 (40%)
II
TD&MNPB
852
35,10
19
1421
57/60
39
1
Tây Nguyên
108
77,10
4
140
95
6
2
Bắc Giang
123
66,84
3
157
85
6
3
Yên Bái
73
48,70
2
117
78
3
4
Hòa Bình
64
47,10
3
96
70
4
5
Tuyên Quang
47
37,90
0
85
68
1
6
Phú Thọ
116
58,88
2
128
65
6
7
Lạng Sơn
71
39,23
1
116
64
2
8
Lào Cai
57
44,90
1
77
60
2
9
Bắc Kạn
17
18.10
0
59
62
2
10
Lai Châu
38
40,00
1
55
57
2
11
Hà Giang
43
24,57
1
83
47
1
12
Điện Biên
21
18,26
0
52
45
2
13
Sơn La
49
26,10
1
83
44
2
14
Cao Bằng
25
19,37
0
51
39
0
Nguồn: Chỉ tiêu nghị quyết đại hội đảng bộ các tỉnh nhiệm kỳ 2020-2025 và nghị quyết HĐND các tỉnh về kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm 2021-2025. (Xếp theo  tỷ lệ xã NTM từ cao đến thấp của mục tiêu năm 2025). Cả nước, 75% xã NTM là chỉ tiêu Đại hội XIII của Đảng, 80% là chỉ tiêu Chương trình quốc gia. Vùng TD&MNPB, chỉ tiêu 57% là tổng hợp chung chỉ tiêu đại hội đảng bộ các tỉnh, 60% là chỉ tiêu của chương quốc gia.
 
Các tỉnh trong vùng đặt ra chỉ tiêu thấp hơn: chỉ tiêu xã NTM là 57% thấp hơn 3% chỉ tiêu quốc gia. Về chỉ tiêu xã NTM nâng cao và kiểu mẫu, có 3 tỉnh (Bắc Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn) cơ bản bằng mức tối thiểu chung của cả nước. Phần lớn các tỉnh từ 15% - dưới 30%. Tỉnh Điện Biên dưới 5%. Có  5 tỉnh chưa xác định chỉ tiêu cụ thể là Thái Nguyên, Lào Cai, Lai Châu, Hòa Bình, Hà Giang. Về huyện NTM, 01 tỉnh (Cao Bằng) không đặt ra chỉ  tiêu và 02 tỉnh chỉ đặt ra 1 đơn vị (chỉ tiêu quốc gia là 02 đơn vị). Không có tỉnh nào đặt ra mục tiêu cấp tỉnh (chỉ tiêu quốc gia là 1 tỉnh). Thứ hạng tiềm năng các tỉnh năm 2025 có thay đổi so với 2020. Ví dụ, tỉnh Tuyên Quang từ vị trí thứ 9 lên thứ 5. Bắc Kạn từ 14 lên thứ 9, ngược lại, Cao Bằng từ vị trí thứ 12 xuống 14.
Tỉnh Sơn La đặt ra chỉ tiêu phấn đấu tăng thêm 34 xã NTM, 20 xã NTM nâng cao, 3-5 Xã NTM kiểu mẫu, thêm một đơn vị NTM cấp huyện (thành 2 đơn vị). Về số xã NTM năm 2020, Sơn La đứng thứ 8, nhưng tỷ lệ đứng thứ 10. Năm 2025, thứ hạng tiềm năng của tỉnh về số xã NTM đồng thứ 8 với Hà Giang, nhưng tỷ lệ thụt hạng, đứng thứ 13.
V. MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA
1. Nhu cầu và nguồn lực. Năm 2021, vùng TD&MNPB còn 1.451 xã chưa đạt chuẩn NTM với khoảng  gần 20.000 bản, bằng 47% số xã và 63 % số thôn, bản cả nước, 75% số xã  và gấp 1,1 lần số thôn của tất cả các vùng khác. Riêng số xã đạt dưới 10 tiêu chí, vùng còn trên 300 xã, chiếm 60% cả nước, gấp 1,6 lần của tất cả các vùng khác. Suất đầu tư lại cao. Cả nước có 16 tỉnh tự cân đối ngân sách và điều tiết lớn về Trung ương, trên 20 tỉnh cân đối 60-80%. Vùng TD&MNPB thì ngược lại, 60-80% ngân sách các tỉnh trong vùng do Trung ương cân đối. Trong 10 năm qua, nguồn lực huy động của vùng  bình quân/xã bằng 60% cả nước, trong đó nguồn ngân sách hỗ trợ trực tiếp chỉ bằng 47%.
Riêng tỉnh Sơn La còn 139 xã chưa đạt chuẩn với 2.000 bản, cao nhất trong vùng, và thuộc tốp cao nhất cả nước, chỉ đứng sau Nghệ An (141 xã), Thanh Hóa (148 xã).  Nguồn lực huy động để xây dựng NTM/xã của tỉnh chỉ bằng 51% cả nước và  86% của vùng, trong đó, nguồn ngân sách hỗ trợ trực tiếp chỉ bằng 20% của cả nước và 36% của vùng.  
Tình hình trên, đặt ra cho vùng và tỉnh Sơn La bước đi đường dài phù hợp. Vùng cần được Trung ương quan tâm ưu tiên cao hơn nguồn ngân sách hỗ trợ trực tiếp và nguồn lồng ghép từ các chương trình mục tiêu khác. (Ngân sách trung ương hỗ trợ trực tiếp 10 năm qua đã ưu tiến cho vùng 36%, giai đoạn tới cần được điều chỉnh cao hơn). Đồng thời các nguồn khác của vùng, của tỉnh cũng cần được cải thiện hơn, nhất là nguồn tín dụng và nguồn của doanh nghiệp.
2. Đánh giá sâu và thực chất hơn kết quả xây dựng NTM
Báo cáo tổng kết 10 năm xây dựng NTM cả nước, từng vùng, từng tỉnh đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục được quan tâm hơn. Đó là: (1) Đánh giá sâu hơn về chất lượng, mức độ bảo đảm tiêu chuẩn của các công trình cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội; chất lượng, hiệu quả đầu tư, mức độ khai thác sử dụng, phát huy công năng của các công trình. (2) Tình hình quản lý, duy tu, bảo dưỡng để phát triển bền vững....(3) Đánh giá thực chất hơn một số tiêu chí, nhất là về tỷ lệ gia đình văn hóa, tỷ lệ sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh, thu nhập, môi trường... (4) Sự duy trì và phát triển, tiếp tục cải thiện các tiêu chí của các xã NTM sau khi được công nhận.
          3.  Hoàn thiện Chỉ tiêu NTM
Một trong những  tiêu chí đạt thấp nhất là tiêu chí thu nhập (TN) cũng có vấn đề cần nghiên cứu hợp lý hơn.
(1) Thu nhập xã NTM. Giai đoạn 2015-2020, TN được đặt ra cho năm cuối(2020), các tính tự tính ngược lại cho các năm với các mức khác nhau, tuy là cùng một vùng.  Giai đoạn 2021-2025, theo dự kiến, Trung ương trực tiếp quy định mức cụ thể cho từng năm. Theo đó, thu nhập xã NTM bình quân của cả nước (cả hai giai đoạn) chỉ gấp 1,06 lần mức thu nhập cùng năm của khu vực nông thôn. Trong lúc đó, thu nhập xã NTM của vùng TD&MNPB gấp gần 1,4 lần. Nên nghiên cứu xác định thu nhập xã NTM sát hơn theo mức thu nhập khu vực nông thôn của từng vùng.
(2) Thu nhập xã NTM nâng cao (NC) NTM kiểu mẫu (KM). Giai đoạn 2015-2020, theo vận dụng cụ thể hóa của các tỉnh, thu nhập xã NTM  năm cuối gấp hơn 2 lần năm đầu. Trong khi thu nhập xã NTMNC chỉ gấp 1,2 lần, xã NTMKM gấp 1,5 lần, lại so với thời điểm xã đạt chuẩn NTM. Nên đã xảy ra  sự cố có trường hợp thu nhập của xã NTMNC, thậm chí NTMKM lại không bằng xã NTM bình thường. Theo phương án Ban Chỉ đạo Quốc gia đang lấy ý kiến cho giai đoạn 2021-2025, thu nhập xã NTMNC được tính cụ thể theo từng năm cho từng vùng. Còn xã NTMKM thì giai đoạn 2016-2020 Trung ương trực tiếp quy định hệ số chung gấp 1,5 lần, giai đoạn mới đã giao cho các địa phương tự quy định và nhiều tỉnh đã có quy định. Theo đó, thu nhập của xã NTMKM cũng gấp ≥ 1,5 lần xã NTM. Vấn đề là các tỉnh lại vẫn so với thời điểm công nhận xã NTM. Cho nên « sự cố » vẫn có thể xảy ra với giai đoạn mới. Hệ số thu nhập xã NTMNC gấp 1,2 lần xã NTM là hợp lý và xã NTMNKM nên ở mức khoảng 1,35 lần, nhưng so với thời điểm đánh giá, chứ không phải thời điểm công nhận xã NTM.
 4. Đề án các cấp cho giai đoạn mới. Hiện nay, cấp quốc gia và cấp địa phương đang chuẩn bị xây dựng và phê duyệt đề án xây dựng NTM giai đoạn 2021-2025. Giai đoạn 2021-2025 tiếp tục: (1) Củng cố, phát huy, nâng cao tiêu chí các xã đã đạt chuẩn NTM, NTMNC, NTMKM; (2) Tăng thêm số xã NTM, NTMNC, NTMKM; (3) Tăng thêm tiêu chí bình quân của các xã khác. Các xã còn lại phần lớn là những xã khó khăn, suất đầu tư cao, đặc biệt là ở vùng TD&MNPB, nhưng có một số tiêu chí lại cao hơn, nhất là về thu nhập. Từ thực tế huy động các nguồn lực giai đoạn vừa qua, cần được tính toán chắc tay nguồn lực sắp tới. Tầm quốc gia thì cân đối hợp lý giữa các vùng, miền, giữa các nhóm đối tượng, còn tầm địa phương cân đối giữa ba nhóm đối tượng và các vùng nội tỉnh. Đây đều là bài toán không đơn giản. Hơn nữa, không chỉ đầu tư hoàn thiện tiêu chí, mà còn phải duy tu, bảo dưỡng các công trình đã xây dựng từ 2011-2020. Không chỉ bảo đảm chỉ tiêu tỷ lệ xã đạt chuẩn NTM, NTM NC, NTMKM, mà quan trọng hơn, đó là thực chất, phát huy hiệu quả, bền vững. Trong từng nhóm xã, thậm chí từng xã, cũng đặt ra sự cân nhắc, lựa chọn mục tiêu, hạng mục đầu tư, tiêu chí phát huy. Vùng TD&MNPB hơn ai hết, cần có bước đi phù hợp với đướng dài. Cần khảo sát thực tế, nếu cần thì rà soát, điều chỉnh mục tiêu, chỉ tiêu ban đầu đã đạt ra, tổ chức hội thảo khoa học, tư vấn phản biện thực sự cầu thị./.
 
Tài liệu tham khảo chính:
1. Tài liệu sơ kết 5 năm (2011-2015) và tổng kết 10 năm (2011-2020) xây dựng NTM toàn quốc và các vùng (nongthonmowi.gov.vn). Kết quả xây dựng NTM cả nước và từng vùng năm 2020(các nguồn chính thống trên internet).
2. Tổng kết Xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 ở vùng khó khăn (ubdt.gov.vn)
3. Sơ kết 5 năm và tổng kết 10 năm xây dựng NTM, kết quả xây dựng NTM năm 2020 của các tỉnh (các nguồn chính thống trên internet)
4. Tổng kết 10 năm xây dựng NTM và kết quả xây dựng NTM năm 2020 của tỉnh Sơn La (sonnla.gov.vn,bandantoc.sonla.gov.vn, baosonla.gorg.vn, internet.) 
5. Số liệu thống kê cả nước, từng vùng và từng tỉnh. Tổng cục thống kê gso.gov.vn.
 
 
 

Số lần đọc : 182   Cập nhật lần cuối: 30/08/2021

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 11387389

Số người Onlne: 21