Nghiên cứu → Lịch sử

Sơn La trong chiến dịch Lý Thường Kiệt


 

 

 

SƠN LA TRONG CHIẾN DỊCH LÝ THƯỜNG KIỆT
 
 

Chiến dịch Lý Thường Kiệt (29/9 – 10/10/1951) là chiến dịch cấp đại đoàn đầu tiên được mở ở hướng Tây Bắc. Diễn ra trong bối cảnh thực dân Pháp đang dốc sức triển khai kế hoạch Đờ Lát đơ Tátxinhi (De Lattre de Tassiny), thực hiện “chiến tranh tổng lực” nhằm bình định vùng tạm chiếm, vơ vét sức người, sức của hòng kết thúc sớm chiến tranh, làm cho cuộc đấu tranh của ta ở vùng sau lưng địch trở nên khó khăn, phức tạp. Tuy Chiến dịch được Đại tướng Lê Trọng Tấn đánh giá còn có những khuyết điểm của chỉ huy trong kế hoạch và tổ chức”[1] do lần đầu chỉ đạo một chiến dịch nên còn nhiều sai sót”[2], nhưng ngoài những ý nghĩa quan trọng về chiến lược, chiến dịch còn có những tác động lớn đến chiến trường Tây Bắc và Sơn La.
1.   Bối cảnh lịch sử
Sau thất bại trong chiến dịch Biên giới Thu - Đông năm 1950, thực dân Pháp được Mỹ tăng cường viện trợ, tiếp sức, quyết tâm giữ bằng được Đông Dương. Tướng Jean de Lattre de Tassigny - Tổng chỉ huy kiêm Cao ủy Pháp ở Đông Dương đã vạch ra chiến lược mới nhằm củng cố quân viễn chinh và phát triển ngụy quân, tổ chức thêm các binh đoàn cơ động, lập tuyến phòng thủ vững chắc để bảo vệ trung du và vùng đồng bằng, gấp rút bình định và phản công quyết liệt, hòng giành lại quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ.
Ở Sơn La, từ năm 1950, quân Pháp gấp rút xây dựng và củng cố phòng tuyến sông Mã và đường số 41 nhằm giữ vững hành lang an toàn của vùng Tây Bắc và Thượng Lào; tăng cường bộ máy ngụy quyền, đặt Khu tự trị Thái nằm trong Chính phủ Quốc gia Việt Nam, ráo riết tổ chức đội ngũ gián điệp, ra sức tô vẽ cho ngụy quyền và rêu rao ảnh hưởng của Mỹ, nói xấu kháng chiến; cô lập các khu căn cứ bằng cách tập trung dân chúng, thóc lúa về nơi địch chiếm đóng và khủng bố dã man vùng tự do cùng các khu căn cứ của ta.
          Từ năm 1950, nhân lúc bộ đội địa phương chưa kịp củng cố do Trung ương rút các đơn vị độc lập về xây dựng các đại đoàn chủ lực, địch liên tiếp mở các cuộc khủng bố, càn quét vào các khu căn cứ, khu du kích của ta ở các huyện Mai - Thuận, Mường La. Từ tháng 4-1950, địch liên tiếp huy động một lực lượng lớn từ Yên Châu và Phù Yên đánh phá khu tự do Mộc Châu. Trước sức tấn công dồn dập của địch, từ đầu năm 1951, cuộc kháng chiến ở Sơn La rơi vào tình thế hết sức khó khăn, các cơ sở vùng tạm chiếm hầu như tan rã, các khu du kích bị thu hẹp và chia cắt, 4/5 đất đai và dân số trong tỉnh do địch kiểm soát. Vùng tự do của ta chỉ còn lại Mộc Hạ (Mộc Châu) và Mường Lang, Mường Bang của Phù Yên.
Nhận định trong giai đoạn chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công, bộ đội chủ lực sẽ mở những chiến dịch lớn, Hội nghị Tỉnh ủy mở rộng diễn ra tại Mộc Hạ từ ngày 11-5 đến 12-5-1950 đã đề ra nhiệm vụ cần kíp phải chuẩn bị chiến trường để bộ đội chủ lực có thể mở chiến dịch bất cứ lúc nào và thành lập Ban chuẩn bị chiến trường, nhằm vào những nơi quan trọng để gây cơ sở quần chúng rộng rãi; gây cơ sở bí mật trong các đồn địch để theo dõi địch tình, điều tra công sự, kho tàng của địch, chuẩn bị nhân sự để phối hợp với bộ đội chủ lực, vận động nhân dân tích trữ lương thực đóng góp cho bộ đội khi mở chiến dịch.
Từ cuối năm 1950 đến đầu năm 1951, sau khi xây dựng thêm ba đại đoàn bộ binh và một đại đoàn công pháo, ta liên tiếp mở các chiến dịch Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung ở Trung du và Đồng bằng Bắc Bộ. Trước tình hình khó khăn ở vùng hậu địch, ngày 11-9-1951, Bộ Chính trị ra chỉ thị mở chiến dịch Lý Thường Kiệt ở Tây Bắc nhằm tiêu diệt sinh lực địch, tháo gỡ khó khăn ở vùng hậu địch, xây dựng cơ sở và đẩy mạnh chiến tranh du kích, tiêu diệt lực lượng ngụy quân người Thái. Hướng chính là phân khu Nghĩa Lộ. Hướng phụ ở Phú Thọ, Than Uyên và Phù Yên. Lực lượng sử dụng là Đại đoàn 312, một liên đội sơn pháo 75 ly, 2 đội công binh cùng với bộ đội địa phương các tỉnh Yên Bái, Tuyên Quang, Phú Thọ, Sơn La.
2.   Nhiệm vụ của Sơn La trong Chiến dịch Lý Thường Kiệt
Nghĩa Lộ là một thung lũng rộng lớn phì nhiêu, vựa lúa lớn thứ 2 ở Tây Bắc, dài 10 km và rộng 4 km, có khoảng 40 ngàn dân và là chìa khóa mở ra hướng tiến lên Sơn La, Lai Châu, Thượng Lào. Đồn Nghĩa Lộ nằm cách Đông Bắc Sơn La khoảng 100 km, cách Yên Bái 80 km về phía Tây Nam. Tại phân khu Nghĩa Lộ, lực lượng Pháp có một Tiểu đoàn lính Thái và bốn đại đội chiếm đóng, phân ra làm bốn điểm: Nghĩa Lộ, Gia Hội, Ba Khe, Thượng Bằng La, mỗi nơi có một đại đội, do một quan Tư chỉ huy chung. Tất cả khoảng chừng 1.000 binh sĩ, trong số đó có 150 sĩ quan và hạ sĩ quan Pháp, cộng với 60 lính người Nùng, 1 tiểu đoàn sơn pháo 75mm. Trong Chiến dịch, Pháp tăng cường thêm ba tiểu đoàn dù, đưa quân số ở đây lên gần 5 tiểu đoàn.
Đại đoàn 312 gồm Trung đoàn 141, 165, 209. Ngoài ra có Trung đoàn 148 độc lập cùng một liên đội sơn pháo 75mm. Được 2 đại đội, 1 tiểu đoàn bộ đội và du kích địa phương hỗ trợ. Quân số tham gia gồm 8.479 người[3]. Bộ Tư lệnh Đại đoàn 312 được Tổng Quân ủy giao trách nhiệm điều hành chiến dịch.
Về bảo đảm hậu cần, Trung ương điều động 5.000 dân công thuộc bốn tỉnh Yên Bái, Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Yên vận chuyển 10 tấn muối, hơn 500 tấn gạo bố trí dọc đường hành quân và tại các điểm tập kết để phục vụ Chiến dịch. Trong Chiến dịch, quân dân Tây Bắc huy động 29.000 dân công, 522 ngựa thồ, vận chuyển 96.411 kg lương thực, thực phẩm, vũ khí, trang bị cho bộ đội và làm lán trại, bè mảng cho bộ đội qua song[4].
Ngày 4-9-1951, tại cuộc họp giữa Đảng ủy đại đoàn 312 (đại diện là đồng chí Lê Trọng Tấn) và Liên khu Việt Bắc (đại diện là đồng chí Trần Quyết) cùng đại diện hai tỉnh tham gia phối hợp chiến dịch (Sơn La và Phú Thọ) đã quyết định thành lập tại Phù Yên, Sơn La Ban Chỉ huy mặt trận Phù Yên do đồng chí Hoàng Cẩn - Thường vụ Tỉnh ủy Sơn La làm Trưởng ban. Các thành viên gồm: đồng chí Nguyễn Tuấn Hạnh - Bí thư Huyện ủy Phù Yên; đồng chí Minh - Tỉnh ủy viên, Chính trị viên tỉnh đội dân quân Phú Thọ; đồng chí Mã Thành Kính - Tỉnh đội trưởng Phú Thọ; đồng chí Oánh - Thường vụ Tỉnh ủy Phú Thọ[5].
Ban Chỉ huy mặt trận Phù Yên được đặt dưới quyền điều khiển của Ban Chỉ huy Chiến dịch Lý Thường Kiệt. Bộ tổng tư lệnh và Liên khu ủy Việt Bắc đã điều động một tiểu đoàn bộ đội địa phương và 20 cán bộ chính trị của Phú Thọ sang phối hợp hoạt động tại huyện Phù Yên, Sơn La. Nhiệm vụ của Ban Chỉ huy mặt trận Phù Yên là lãnh đạo và chỉ huy số cán bộ và bộ đội Phú Thọ và quân dân Phù Yên, Sơn La tham gia chiến dịch.
Thực hiện chỉ thị của Liên khu ủy về công tác phối hợp trong Chiến dịch, Tỉnh ủy Sơn La đã chỉ đạo các huyện tích cực chuẩn bị chiến trường, phối hợp với bộ đội chủ lực. Sau Chỉ thị số 03-CT/SL về chuẩn bị chiến trường, ngày 17-9-1951, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Sơn La tiếp tục ra Chỉ thị số 6-CT/SL và số 8-CT/SL cho các huyện Yên Châu, Mộc Châu và Phù Yên phải tiếp tục phát triển chiến tranh du kích, gây lại cơ sở trong nhân dân và phối hợp với Đại đội 428 của tỉnh, hoạt động mạnh ở các vùng dọc đường 41, dọc sông Đà và vùng Mường Cơi, Mường Thải (Phù Yên); tích cực giữ vụ mùa, chống địch đốt phá; trong thời gian chuẩn bị chiến trường phải thường xuyên giữ liên lạc với Tỉnh ủy.
Ngày 3-10-1951, Ban Thường vụ Tỉnh ủy tiếp tục ra Thông tri gửi các huyện, đề nghị tiếp tục tăng cường công tác phối hợp với Chiến dịch Lý Thường Kiệt. Thông tri nêu rõ:
“Trung ương và Khu ủy quyết định mở Chiến dịch Lý Thường Kiệt nhằm mục đích tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phát triển du kích chiến tranh, diệt phỉ và mở rộng cơ sở hậu địch Tây Bắc, bảo vệ mùa màng.
- Phương châm của chiến dịch là tranh thủ bất ngờ, bao vây tiêu diệt bằng được những cứ điểm của địch, đồng thời sẵn sàng tiêu diệt quân rút lui và tiếp viện. Phát triển chiến tranh du kích, mở rộng cơ sở địch hậu.
- Nhiệm vụ của Sơn La là: Tích cực phục vụ chiến trường với chiến dịch và khuếch trương chiến quả; chặn đường rút lui của địch về Sơn La khi chủ lực giải quyết hướng chính”.
Thông tri nhấn mạnh: “Chiến dịch Lý Thường Kiệt là một dịp tốt để chúng ta phát triển lực lượng, tiêu hao lực lượng địch, đó cũng là một cơ hội để chúng ta gỡ thế bí. Ở hướng chính, Tỉnh ủy đã cử đồng chí Hạnh, Cẩn – Thường vụ Tỉnh ủy phụ trách cùng đồng chí Hùy, Tỉnh ủy viên và một số cán bộ giúp đỡ địa phương. Các cấp bộ nghiên cứu kỹ thông tri này, cùng các chỉ thị về nhiệm vụ riêng để nhận rõ ý nghĩa quan trọng của công tác phối hợp với chiến dịch của Đảng bộ ta mà quyết tâm vượt khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ”[6].
Thông tri cũng chỉ rõ hướng chính của chiến trường toàn tỉnh là Tả ngạn sông Đà, chủ yếu là huyện Phù Yên, hướng phụ là quốc lộ 41. Tỉnh cũng chỉ đạo các địa phương, nhất là các huyện Mai - Thuận, Mường La phải tăng cường củng cố, gây lại và mở rộng cơ sở vùng hậu địch, phát triển chiến tranh du kích, vận động nhân dân tin tưởng vào kháng chiến thắng lợi, hăng hái phục vụ chiến trường.
3.   Các hoạt động phối hợp của quân dân Sơn La
Đêm 29 rạng ngày 30-9, Tiểu đoàn 115 của Trung đoàn 165 tiến công đồn Ca Vịnh mở màn chiến dịch. Từ ngày 1-10 đến ngày 4-10-1951, ta liên tục tấn công các vị trí Bản Tú, Cửa Nhì, Sơn Bục; từ ngày 4-10, Pháp liên tiếp thả 3 tiểu đoàn dù xuống Gia Hội, Nghĩa Lộ, bị quân ta truy kích mạnh. Trên hướng thứ yếu Than Uyên, từ đêm 29-9 đến ngày 10-10-1951, các Tiểu đoàn 930, 910 của Trung đoàn 148 cùng bộ đội địa phương Lào Cai bao vây, tiến công các đồn Yên Na, Than Thuộc, Pác Tà, Than Uyên.
Trong suốt thời gian diễn ra chiến dịch Lý Thường Kiệt, Sơn La đã hoàn nhiệm phụ được giao, phối hợp đánh địch ở các hướng phụ và huy động dân công phục vụ Chiến dịch cho đến khi kết thúc.
Tại mặt Phù Yên, trong lúc Tiểu đoàn 546 của Trung đoàn 165 tiến công đồn Cửa Nhì và Trung đoàn 141 tấn công đồn Sơn Bục ở hướng chính Nghĩa Lộ, thì ngày 3-10-1951 bộ đội địa phương Phù Yên đã tổ chức chặn đánh một trung đội địch hành quân từ Ngã ba Phù Yên về Thu Cúc. Sau nửa giờ chiến đấu, địch bỏ chạy tán loạn vào rừng, ta tiêu diệt một số và thu được chiến lợi phẩm gồm nhiều súng, đạn[7].
Tại Mộc Châu, lúc 12 giờ đêm ngày 4-10-1951, bộ đội ta tiến đánh đồn Nà Mường. Sau 3 giờ chiến đấu ta đã giải phóng được hơn 300 đồng bào bị địch cưỡng ép về tập trung quanh đồn. Địch trong đồn Nà Mường hoang mang, dao động nhưng vẫn chống trả quyết liệt; ở đồn Mộc Lỵ, địch phải cấp tốc tăng cường thêm 500 quân và tổ chức canh phòng nghiêm ngặt[8]. Nhân lúc địch hoang mang, lúng túng, ta tăng cường công tác binh vận, tuyên truyền chính sách khoan hồng của Chính phủ, đồng thời vận động nhân dân quyết tâm đấu tranh với địch.
Phối hợp với Trung đoàn 148 ở hướng thứ yếu (Than Uyên), Huyện đội Mường La (lúc này đang tạm đóng trên đất Yên Bái) đã tổ chức đánh các đồn Mường Trai, Nậm Khắt (thuộc Mù Cang Chải, Yên Bái), khiến địch càng thêm lúng túng.
Tại các vùng địch tạm chiếm, nhân lúc bộ đội hoạt động mạnh, nhân dân sục sôi, kẻ thù đang hoang mang, ta lãnh đạo nhân dân đấu tranh bằng nhiều hình thức như chống phu, chống cướp phá, chống tập trung thóc và trốn khỏi đồn địch. Các đội vũ trang tuyên truyền tranh thủ hoạt động mạnh để mở rộng cơ sở, đẩy mạnh chiến tranh du kích. Tại khu 99 (vùng cao Bắc Yên), đội xung phong Pắc Pắc do đồng chí Cầm Ngoan phụ trách đã len lỏi đến các bản vùng cao giáp Yên Bái như Hang Chú, Làng Chếu, Xím Vàng để vận động các già làng, trưởng họ người Mông ủng hộ kháng chiến; Tổ phát triển hậu địch do đồng chí Trần Hạnh đã tích cực phối hợp với Đại đội 428, hoạt động mạnh ở vùng Đầu cầu (thuộc xã Tạ Khoa, Mường Khoa), gây dựng lại cơ sở, tuyên truyền vận động các tạo bản và đồng bào Thái, Mông tại các bản dọc sông Đà tin theo kháng chiến, sẵn sàng giúp đỡ bộ đội và cán bộ.
Trong suốt chiến dịch, Tỉnh ủy chỉ đạo Ty Thông tin và các địa phương tăng cường công tác tuyên truyền, thông tin kịp thời các chiến thắng của bộ đội đến nhân dân và cả hàng ngũ ngụy binh. Nhân lúc binh lính địch dao động, ta đẩy mạnh công tác địch vận, tuyên truyền, phổ biến tin chiến thắng và sức mạnh của bộ đội, giải thích rõ chính sách khoan hồng của Chính phủ để vận động binh lính địch ra hàng.
Các hoạt động phối hợp chặt chẽ của quân và dân Sơn La đã góp phần tích cực đưa Chiến dịch đến thắng lợi. Ngày 10-10-1951, Bộ chỉ huy ra lệnh kết thúc Chiến dịch.
4.   Kết quả, ý nghĩa của Chiến dịch Lý Thường Kiệt đối với Sơn La
Kết quả toàn Chiến dịch, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 1.258 địch (trong đó có 255 bị bắt); thu trên 300 súng các loại và 20 tấn quân lương, 11 tấn đạn dược. Chiến dịch đã giải phóng một vùng rộng lớn từ vùng Mường Lang, Quang Huy (Phù Yên, Sơn La) lên Ca Vịnh, Ba Khe (Yên Bái), Sài Lương (Phong Thổ) và từ Phong Thổ qua Bình Lư tới Than Uyên (Lào Cai)[9].
Tháng 12-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 312, khen ngợi thành tích trong Chiến dịch Lý Thường Kiệt và căn dặn cán bộ chiến sỹ rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm để lập nhiều chiến công hơn nữa[10].
Chiến dịch Lý Thường Kiệt là đòn đột phá đầu tiên, mở hướng tiến lên Tây Bắc của quân đội ta. Thắng lợi quan trọng này đã tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy công tác vùng địch tạm chiếm ở Sơn La và Tây Bắc. Sau chiến dịch Lý Thường Kiệt, công tác chuẩn bị chiến trường cho Chiến dịch Tây Bắc 1952 được đẩy nhanh, góp phần vào thắng lợi chung của chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954.
Từ thực tiễn trong phối hợp chiến đấu đã giúp lực lượng vũ trang Sơn La phát triển nhanh chóng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với kháng chiến, tạo điều kiện thuận lợi để bộ đội và cán bộ trở lại hoạt động trong vùng địch hậu, gây dựng lại cơ sở, củng cố các tổ chức quần chúng; khu căn cứ Mường Lang, Quang Huy của Phù Yên hình thành, cùng với căn cứ Mộc Hạ trở thành chỗ dựa vững chắc cho phong trào kháng chiến của các huyện phía trên. Đường dây liên lạc của Sơn La với Liên khu được nối thông, tháo gỡ được nút thắt trong vận chuyển, tiếp tế cho bộ đội và nhân dân. Thắng lợi của chiến dịch kết hợp với việc hoàn thành cuộc vận động thuế nông nghiệp và chính sách dân công ở Sơn La làm nhân dân càng thêm hăng hái đóng góp sức người, sức của, tăng cường tiềm lực cho kháng chiến.
Chiến dịch Lý Thường Kiệt kết thúc thắng lợi đã chấm dứt thời kỳ khó khăn bị địch bao vây, chia cắt ở Sơn La. Phát huy những thắng lợi giành được, quân dân Sơn La tiếp tục triển khai các mặt công tác để phối hợp với bộ đội chủ lực trong chiến dịch Hòa Bình (10/12/1951 – 25/2/1952), tiến nhanh đến giải phóng Tây Bắc năm 1952./.
                Hà Ngọc Hòa
 Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Sơn La
 
 
Tài liệu tham khảo:
 
[1]. Đại tướng Lê Trọng Tấn, Từ Đồng Quan đến Điện Biên Phủ, NXB Quân đội nhân dân, H.1994, bản số hóa: https://www.quansuvn.net/index.php?topic=30211.50.
 
[2]. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ, NXB Quân đội nhân dân, H.2001, Tr.232.
 
[3].Sđd, Tr.222.
 
[5]. Nghị quyết NQ-18-51, ngày 6/9/1951, lưu tại Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Sơn La.
 
[6]. Thông Tri số 29-T/Tr ngày 3/10/1951 của Ban Chấp hành Đảng bộ Sơn La, lưu tại Hội Khoa học Lịch sử tỉnh.
 
[7]. Thông tư về tình hình mặt trận của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Sơn La, ngày 12/10/1951, lưu tại Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Sơn La.
 
[8]. Tài liệu đã dẫn.
, truy cập 16h 35 ngày 2/8/2021.
[10]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.6, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, H. 1995, tr.364.
 
     



 
 

 

Số lần đọc : 130   Cập nhật lần cuối: 29/09/2021

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 11489881

Số người Onlne: 25