Nghiên cứu → Đa chiều

Quan điểm của Đại hội XIII về Động lực phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay


 

 

 

QUAN ĐIỂM CỦA ĐẠI HỘI XIII VỀ ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
 
                                                               Cao Thị Quỳnh
                                                              Trường Chính trị tỉnh Sơn La

Nhận thức đúng động lực để phát triển đất nước là vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm bởi nó có liên quan trực tiếp đến việc xác định mục tiêu, định hướng, cơ chế, chính sách huy động và sử dụng các nguồn lực cho các mục tiêu tăng trưởng và phát triển trong những giai đoạn cụ thể. Động lực phát triển là những nhân tố thúc đẩy xã hội phát triển trong một thời kỳ nhất định. Động lực có nhiều dạng thức, có động lực vật chất, động lực tinh thần; có động lực cụ thể trong từng lĩnh vực, địa bàn, có động lực chung tác động các lĩnh vực trên phạm vi cả nước; có động lực chủ yếu, động lực thứ yếu; động lực trực tiếp, động lực gián tiếp… Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, Đảng ta ngày càng nhận thức đúng các nhân tố động lực nhằm tạo sức mạnh tổng hợp cho sự phát triển đất nước, hướng tới xây dựng một nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII (2016), trên cơ sở kế thừa và phát huy những thành tựu, bài học kinh nghiệm của 30 năm đổi mới đã xác định: “Tiếp tục đổi mới tư duy, hoàn thiện cơ chế chính sách, tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc nhằm khơi dậy mọi tiềm năng và nguồn lực của đất nước, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững. Nhận thức đúng và xử lí tốt các nhân tố tạo thành động lực tổng hợp để đổi mới và hội nhập[1]. Đại hội XII xác định động lực phát triển đất nước một cách hệ thống trên nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội... Mỗi động lực có vị trí và vai trò độc lập tương đối, tạo thành một tổng hợp lực thúc đẩy đất nước phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn hiện nay. Các nhân tố tạo thành động lực tổng hợp cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước bao gồm: “kết hợp hài hòa các lợi ích; phát huy lòng yêu nước, tinh thần dân tộc; phát huy dân chủ, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; phát huy nhân tố con người, vai trò của khoa học – công nghệ...”[2]
Đại hội XIII của Đảng là Đại hội mở đầu thập niên thứ ba của thế kỷ XXI trong bối cảnh tình hình quốc tế diễn biến rất nhanh, phức tạp, có nhiều đột biến khó dự báo, tác động thường xuyên, trực tiếp đến nước ta, tạo ra đồng thời cả thuận lợi, thời cơ lớn đan xen với không ít khó khăn, thách thức. Trên cơ sở kế thừa định hướng của Đại hội XII và bổ sung quan điểm về những nhân tố động lực mới cho sự phát triển, Đại hội XIII xác định: “khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước[3]. Với tư tưởng trên, vấn đề động lực phát triển đã được Đảng xác định trên nhiều nội dung mới.
1. Trước hết, đối với nhân tố dân tộc, bên cạnh lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, Đại hội XIII nhấn mạnh ý chí tự cường, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Đây là điểm nhấn mới trong nhận thức về động lực của Đại hội XIII.
Khát vọng phát triển đất nước là sự cộng hưởng những khát vọng vươn lên của cộng đồng, của con người trong cùng quốc gia - dân tộc, tạo thành nguồn năng lượng nội sinh to lớn, sống động và sức mạnh vô song. Đó chính là động lực trung tâm của một quốc gia - dân tộc trên con đường đi tới tương lai[4]. Vấn đề khát vọng phát triển đất nước được đề cập đến nhiều lần trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, từ chủ đề Đại hội cho đến các mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm. Trong chủ đề Đại hội, khát vọng phát triển đất nước được khẳng định: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Các mục tiêu được xác định: phấn đấu đến năm 2025, nước ta là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030, là nước đang phát triển, cơ bản có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Lịch sử phát triển của các quốc gia trên thế giới và Việt Nam đều cho thấy rõ vai trò quan trọng của việc khơi dậy và phát huy khát vọng phát triển đất nước. Đó là sức mạnh nội sinh giúp các quốc gia, dân tộc vượt qua khó khăn, thử thách để phát triển. Trong lịch sử, Việt Nam chiến thắng những kẻ thù xâm lược hùng mạnh bậc nhất không phải chủ yếu bằng tiềm lực vật chất mà trước hết bằng sức mạnh tinh thần, khát vọng về độc lập, chủ quyền quốc gia. Quan điểm về khát vọng phát triển trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng thể hiện sự vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào đường lối của Đảng để xây dựng đất nước trong bối cảnh mới. Đó là khát vọng về một Việt Nam phát triển, thịnh vượng, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đây không phải là huyễn tưởng xuất phát từ ngẫu hứng chủ quan, duy ý chí mà bắt nguồn từ thực tiễn những thành tựu của đất nước từ khi tiến hành công cuộc đổi mớitrên cơ sở phân tích, dự báo những thời cơ, thuận lợi để nắm bắt cũng như những khó khăn, thách thức cần khắc phục, thích ứng, vượt qua. Qua 35 năm đổi mới, đất nước có nhiều thay đổi, sức mạnh tổng hợp quốc gia - dân tộc được nâng cao rõ rệt, thế và lực của đất nước được nâng lên một tầm cao mới. Từ một nước nghèo chịu nhiều hậu quả nặng nề của chiến tranh, cơ sở vật chất - kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội lạc hậu lại bị bao vây, cấm vận, đến nay Việt Nam đã từng bước khẳng định vị thế của mình, vươn lên trở thành một nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện. Những thành tựu đó chính là bắt nguồn từ khát vọng cháy bỏng về chủ quyền quốc gia, dân tộc, khát vọng vượt qua nghèo nàn, lạc hậu hướng tới xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường của toàn Đảng, toàn dân.
          2. Về động lực trong lĩnh vực chính trị, kế thừa vấn đề phát huy dân chủ, Đại hội XIII bổ sung vấn đề bồi dưỡng sức dân, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị. Bồi dưỡng sức dân là vừa lo cho dân có đời sống vật chất no đủ, vừa vun đắp đời sống tinh thần của nhân dân ngày càng phong phú, hun đúc tinh thần dân tộc, nhiệt huyết cách mạng của nhân dân ngày càng lớn. Mọi chủ trương, đường lối, chính sách phải hướng tới dân, vì dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định nhân dân là gốc rễ của sự trường tồn: “Gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân[5]. Đảng cầm quyền muốn giữ vững vai trò lãnh đạo, giữ được chế độ, bảo vệ chủ quyền quốc gia nhất thiết phải dựa vào dân, nhờ vào sức dân. Muốn sức dân bền, sức dân mạnh thì phải chú trọng giữ gìn sức dân, tiết kiệm sức dân, không ngừng bồi dưỡng, nâng cao sức dân. Đây là sự kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về “lấy dân làm gốc” của Đảng trong thời kỳ mới.
3. Về động lực trong lĩnh vực văn hóa, Đại hội XIII nhấn mạnh nhân tố con người phải được gắn kết với nhân tố văn hóa, bổ sung vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thu hút, trọng dụng nhân tài.
          Báo cáo chính trị Đại hội XIII đã nhấn mạnh yêu cầu về phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Điều này thể hiện sự phát triển tư duy lý luận của Đảng trong nhận thức mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa văn hóa và con người, nhấn mạnh hơn đến vai trò của con người với tư cách là chủ thể và cũng là mục đích của việc phát triển nền văn hóa. Con người có trí tuệ, năng lực, sáng tạo, có phẩm chất đạo đức, nhân cách, trung thực nhân ái sẽ tạo ra động lực nội sinh quan trọng của quá trình phát triển văn hóa. Ngược lại, phát triển văn hóa chính là phát triển con người. Văn hóa là môi trường sản sinh ra những phẩm chất của con người, có tác động đến sự hình thành nhân cách con người. Việc gắn kết xây dựng con người và văn hóa trong một thể thống nhất sẽ là cơ sở để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần cũng như động lực mạnh mẽ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
          Nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. So với các nguồn lực vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất - kỹ thuật, khoa học - công nghệ…, nguồn nhân lực với yếu tố hàng đầu là trí tuệ, có ưu thế nổi bật là không bị cạn kiệt nếu biết bồi dưỡng, khai thác và sử dụng hợp lý, các nguồn lực khác dù nhiều đến đâu cũng chỉ là yếu tố hữu hạn và chỉ phát huy được tác dụng khi kết hợp với nguồn nhân lực một cách có hiệu quả. Nguồn nhân lực là nhân tố quyết định việc khai thác, sử dụng, bảo vệ và tái tạo các nguồn lực khác. Chính vì vậy, trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, Đại hội XIII đặc biệt coi trọng việc xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế trong giai đoạn hiện nay. Nguồn nhân lực chất lượng cao đặc biệt với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, đội ngũ trí thức xứng tầm sẽ là nhân tố quyết định để đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững, bắt kịp thời đại. Tuy nhiên, song song với việc phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao thì cần phải gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng và đãi ngộ nhân tài. Có người tài và sử dụng người tài vào đúng việc thì sẽ phát huy hiệu quả cao bởi đây là lực lượng đóng vai trò quan trọng trong việc tìm tòi, sáng tạo những ý tưởng mới, những chủ trương mới nhằm cải tạo thực tiễn theo hướng cách mạng và đổi mới. Việc thiếu nhân tài cần thiết trong từng lĩnh vực, từng khâu, từng cấp là một trong những nguyên nhân kìm hãm tiến trình và kết quả của các cải cách, đổi mới nhất là trong khu vực công ở nước ta hiện nay. Đảng và Nhà nước chủ trương thu hút, trọng dụng nhân tài không phân biệt nhân tài là đảng viên hay người ngoài Đảng, người Việt Nam ở trong nước hay ở nước ngoài, bảo đảm cơ hội bình đẳng cho nhân tài được cống hiến và đãi ngộ xứng đáng với kết quả thực hiện nhiệm vụ.
4. Về động lực trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, vấn đề đổi mới sáng tạo, ứng dụng thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là động lực rất mới được xác định tại Đại hội XIII mà chưa được đề cập đến trong các văn kiện của Đảng trước đây.
Thế giới đang bước vào một thời kỳ phát triển mới. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra với quy mô, tốc độ chưa từng có, tạo ra một thế giới số hóa, tự động hóa với mọi hoạt động ngày càng hiệu quả, thông minh hơn. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã làm thay đổi căn bản lĩnh vực sản xuất, tư duy, văn hóa, lối sống của con người, tác động mạnh mẽ đến tất cả các quốc gia, tạo ra cả thời cơ và thách thức trong quản lý, quốc phòng, an ninh, sản xuất, kinh doanh, môi trường, sinh hoạt và đời sống xã hội, con người. Trong bối cảnh đó, các nước đều phải chú trọng xây dựng, thực thi chiến lược nhằm tận dụng thành tựu và ứng phó với những thách thức của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư - yếu tố quyết định sự phát triển bứt phá hay chậm trễ, tụt hậu của một quốc gia. Đổi mới sáng tạo trở thành vấn đề cấp bách trong chiến lược phát triển của hầu hết các nước: đổi mới mạnh mẽ hơn, hiệu quả hơn trên nền tảng sáng tạo và ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ để tạo ra chất lượng mới, những giá trị mới trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung, trong sản phẩm hàng hóa nói riêng.
Việt Nam đang hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, do đó đổi mới sáng tạo chính là sự phát triển hợp quy luật, là động lực để tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới trong giai đoạn hiện nay. Đổi mới sáng tạo phải được tiến hành đồng thời, đồng bộ cả về tư duy và hành động trên cơ sở kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Bởi nếu đổi mới sáng tạo một cách vô nguyên tắc, không tính đến thực tiễn và yêu cầu đổi mới, hội nhập thì sẽ rất dễ dẫn đến chệch hướng còn nếu kiên định một cách máy móc, cứng nhắc dễ dẫn đến bảo thủ, trì trệ. Bên cạnh đó, đổi mới sáng tạo cũng phải được triển khai toàn diện trên các lĩnh vực với các giải pháp đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình phù hợp. Đổi mới sáng tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, trong đó đội ngũ cán bộ, đảng viên nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp phải là lực lượng tiên phong, dám nghĩ, dám làm, góp phần động viên, phát huy vai trò chủ thể và sức sáng tạo vĩ đại của nhân dân.

          Tóm lại, xác định đúng và phát huy mạnh mẽ động lực phát triển là yêu cầu tất yếu để để tạo nên sức mạnh và sức bật cho đất nước. Tin tưởng rằng, với những nhân tố động lực được xác định tại Đại hội XIII, Việt Nam sẽ đạt được những mục tiêu chiến lược đã đặt ra hướng tới kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng năm 2030 và kỷ niệm 100 năm ngày thành lập nước năm 2045, nước ta thành nước phát triển, có thu nhập cao, củng cố cơ đồ, tăng cường vị thế đất nước cho phù hợp với xu thế phát triển của thời đại và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa./.

Chú thích:

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2016, tr.76.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2016, tr.76.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự Thật, Hà Nội 2021, tập 1, tr.110.
[4] Vũ Minh Khương: “Việt Nam 2045: Tầm nhìn khát vọng và sứ mệnh lịch sử”, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam điện tử, ngày 17-1-2020
[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 5, tr. 879
 
 

Số lần đọc : 52   Cập nhật lần cuối: 11/10/2021

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 11490058

Số người Onlne: 24