Nghiên cứu → Đa chiều

Nhân chuyện “tiến sĩ cầu lông”


 

 

Nhân chuyện “tiến sĩ cầu lông”
 
Hơn 2 tuần nay, trên báo chí và mạng xã hội nóng lên xung quanh Luận án tiến sĩ “Nghiên cứu giải pháp phát triển môn cầu lông cho công chức, viên chức thành phố Sơn La”. Họ gọi tắt là “Tiến sĩ cầu lông”. Tác giả Luận án là Đặng Hoàng Anh, Giảng viên bộ môn giáo dục thể chất thuộc Trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh, trường Đại học Tây Bắc. Luận án thuộc chuyên ngành Giáo dục học, có mã số 9140101. Người hướng dẫn là GS-TS. Lưu Quang Hiệp và PGS-TS. Đặng Văn Dũng. Luận án được bảo vệ thành công tại Học viện Khoa học thể dục thể thao (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) ngày 19/01/2022.
Có hàng trăm bài tham gia phản biện xã hội. Xin được hệ thống để bạn đọc dễ theo dõi. Người tham gia bàn luận, phản biện xã hội có cả các chuyên gia, nhà khoa học, trí thức, công chức, viên chức và người dân... Nhiều người phê phán “Luận án không đủ tầm, hàm lượng khoa học thấp”, người úng hộ, bảo vệ cũng có nhưng ít hơn.
Nhưng có lẽ, cả người phê phán và người bảo vệ thì chỉ một số ít tiếp cận với tóm tắt của Luận án trên trang luanvan.moet.edu.vn (Thư viện luận văn, luận án của Bộ GD-ĐT), còn đọc toàn văn thì đã mấy ai? Đọc và hiểu loại luận án này không khó như là luận án khoa học tự nhiên hay khoa học kỹ thuật và công nghệ, nhưng có đọc, đồng thời phải đối chiếu với quy chế đào tạo TS, yêu cầu đối với Luận án TS thì phát biểu mới chắc được. Nhiều người thì quan tâm theo dõi mà không giám bình luận cụ thể.
Theo báo chí đăng tải thì người ủng hộ tập trung vào mấy điểm: (1) Tên Luận án không phải lúc nào cũng phản ánh ngay được bản chất, nội dung nghiên cứu. Phạm vi rộng hay hẹp cũng như tầm của vấn đề nghiên cứu chỉ là tương đối. Thực tế ở nước ta cũng có hàng chục đề tài nghiên cứu tương tự như đề tài cầu lông. Một số nước phát triển trên thế giới cũng từng có những đề tài nghiên cứu làm thế nào để nâng cao hiệu suất của việc rửa bát ở các nhà hàng và rất nhiều luận án thạc sĩ, tiến sĩ nghiên cứu về các đề tài liên quan đến việc phát triển những bộ môn thể thao như cầu lông, bóng đá, bơi lội. Vì vậy, nếu chỉ nhìn vào tên của đề tài thì khó có thể nói là đề tài to hay nhỏ và có ý nghĩa thực tiễn hay không". (2) Tác giả đã công bố 2 bài báo theo đúng quy chế bảo vệ luận án TS: Một bài trên kỷ yếu Hội thảo quốc tế Thái Bình Dương trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, tại Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh; Một bài trong Tạp chí Khoa học Đào tạo và Huấn luyện thể thao, Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh. (3) Luận án đã được bảo vệ qua nhiều vòng từ cơ sở lên và qua Hội đồng Học viện Khoa học thể dục thể thao, đã được Hội đồng bỏ phiếu “đạt”.
Người phê phán thì tập trung vào mấy điểm: (1) Tên luận án hao hao với nhiều luận án khác trong lĩnh vực thể dục thể thao; (2) Phạm vi nghiên cứu hẹp, không xứng tầm luận án TS; (2). Đối tượng nghiên cứu là Công chức, viên chức, không liên quan đến trường học và giáo dục, luận án xếp vào chuyên ngành giáo dục học là chưa hợp lý; (3) Hàm lượng khoa học thấp, không có phát hiện mới theo yêu cầu của luận án TS (là tạo ra tri thức mới trong lĩnh vực nghiên cứu hoặc đề xuất ý tưởng, giải pháp mới để giải quyết vấn đề bức thiết đang đặt ra); (4) Kỷ yếu hội thảo quốc tế Thái Bình dương, ấn phẩm mà tác giả đăng bài báo  thứ nhất không có chỉ số ISBN (mã số ấn phẩm lưu hành toàn cầu), còn Tạp chí  Khoa học Đào tạo và Huấn luyện thể thao, ấn phẩm mà tác giả đăng bài báo thứ hai, không thuộc nhóm các tạp chí chuyên ngành của Hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước Ngành Giáo dục học. (5) Nội dung cả hai bài báo đều là thực trạng, nhu cầu phong trào Cầu lông công nhân viên chức lao động, không phản ánh nội dung chính luận án là "Giải pháp phát triển môn Cầu lông cho công chức viên chức thành phố Sơn La".
Đại diện Bộ GDĐT đã phát biểu trên truyền thông là việc đánh giá luận án không chỉ ở tên đề tài, mà còn ở nội dung, giá trị khoa học và giá trị thực tiễn của luận án được cộng đồng khoa học trong lĩnh vực nghiên cứu đó chấp nhận. Bộ sẽ tiến hành kiểm tra thẩm định các luận án tiến sĩ mà dư luận xã hội và các chuyên gia, nhà khoa học có nhiều ý kiến phản biện, hoặc có khiếu nại, tố cáo theo quy định. Kiểm tra, thẩm định cả quy trình đào tạo, hồ sơ và quy trình bảo vệ luận án, chất lượng luận án TS (Theo quy chế đào tạo tiến sĩ tại Thông tư 18/2021 của Bộ GDT  thì  Bộ thành lập tổ tư vấn thẩm định gồm 3 nhà khoa học (theo tiêu chuẩn quy định), nếu có 2 trong 3 nhà khoa học không tán thành luận án thì Bộ thành lập Hội đông thẩm định; Hội đồng có 02 ủy viên trở lên không tán thành luận án thì Hội đồng thẩm định của Bộ tổ chức đối thoại với Hội đồng đánh giá luận án của nơi đào tạo có sự tham dự của đại diện Bộ Giáo dục và Đào tạo. Luận án không được thông qua nếu có từ 03 thành viên của hai hội đồng có mặt tại buổi đối thoại trở lên không tán thành...).
Do đó, chuyện đúng sai, cứ bình tĩnh chờ kết quả thẩm định của Bộ GDĐT. Nếu có tham gia bình luận, phản biện xã hội thì chỉ nên nói đến việc, mà không nên nói đến người.
Vấn đề là nếu chỉ kiểm tra, thẩm định lại luận án “cầu lông” thì sẽ không công bằng. Cư dân mạng mới tra cứu sơ bộ trong vài ba năm gần đây đã phát hiện ra 28 luận án TS hao hao nhau trong lĩnh vực thể dục thể thao được lưu trữ trên trang web của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Lĩnh vực khác cũng không hiếm trường hợp tương tự. Có thể tới hàng trăm, thậm chí là 4 con số luận án có vấn đề. Theo kết quả thanh tra mới đây của Thanh tra chính phủ, ngay tại Học viện xã hội, nơi đào tạo Thạc sĩ, Tiến sĩ của Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam cũng là “lò ấp Tiến sĩ” với quản lý lỏng lẻo, nhiều sai phậm khó tưởng tượng. Lỗi đâu tại riêng nghiên cứu sinh, mà cả một hệ thống, nhất là các GS, PGS hướng dẫn, người đứng đầu cơ sở đào tạo, hội đồng đánh giá thông qua luận án, trước hết là chủ tịch và các ủy viên phản biên, công tác quản lý, thanh gia thường xuyên của Bộ GDĐT... Chỉ một vài nghiên cứu sinh, một vài luận án TS không may bị tình cờ phát hiện nhờ báo chí và mạng xã hội thì không giải quyết được vấn đề.
Đa số các chuyên gia, các nhà khoa học có uy tín (cả chuyên gia người Việt ở nước ngoài) đều khuyến nghị là, đồng thời với mở rộng quyền tự chủ đại học, viện nghiên cứu thì phải quản lý chặt tiêu chuẩn ra. Không có cách gì chống được tiêu cực trong đào tạo nếu không quản lý được đầu ra. Đào tạo tiến sĩ phải yêu cầu công bố trên các tạp chí quốc tế có uy tín (bao gồm các tạp chí xuất bản trong nước được cộng đồng khoa học quốc tế thừa nhận).Không có tiêu chuẩn công bố quốc tế thì những quy định đầu vào, dù có chặt chẽ đến đâu, liêm chính học thuật có đề cao đến đâu cũng không thể ngăn cản được việc cho ra lò các tiến sĩ chất lượng thấp. Chính vì vậy mà năm 2017, Bộ GDĐT đã quyết tâm nâng chuẩn đầu ra theo hướng hội nhập quốc tế, yêu cầu công bố quốc tế. Số người theo học tiến sĩ giảm xuống, nhưng công bố quốc tế của cả nước tăng lên khá nhanh. Từ năm 2021, để khuyến khích người ho0cj tiến sĩ, chuẩn đầu ra lại hạ thấp, không nhất thiết phải có công bố quốc tế, thấp hơn chuẩn đầu ra của Trung Quốc và nhiều nước ở khối Asean. Đây là vấn đề cần được xem xét lại. 
Không riêng đề tài nghiên cứu của Luận án tiến sĩ, mà các đề tài khoa học các cấp do ngân sách nhà nước  cũng có “chuyện” tương tự. Thanh tra chính phủ vào cuộc đã phát hiện ra, ngay tại nơi tập trung tinh hoa trí thức KHCN của cả nước  như Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam nhiều năm qua cũng để xảy ra tình trạng đề tài khoa học hao hao nhau, trùng chéo với chức năng nhiệm vụ thường xuyên của cơ quan, đơn vị, việc xác định đề tài, quản lý nghiệm thu đề tài lỏng lẻo... Thế thì nghiên cứu khoa học ở các ở các nơi khác, nếu thanh tra nghiêm thì cũng có thể phát hiện ra tính trạng tương tự. Theo các chuyên gia thì nghiên cứu khoa học cũng  cũng cần quản lý chặt hơn sản phẩm đầu ra, trong đó chủ yếu là công bố khoa học trên các tạp chí quốc tế có uy tín và các tạp chí khoa học trong nước có uy tín. Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia Nafoted từ năm 2014 đến nay, khi tài trợ nghiên cứu khoa học đều bắt buộc tất cả các đề tài phải có công bố quốc tế.
 
Kết quả chủ yếu của của luận án “Nghiên cứu giải pháp phát triển môn cầu lông cho công chức, viên chức thành phố Sơn La”:
 
1. Thông tin khoa học và toàn diện về thực trạng phong trào Cầu lông trong đội ngũ công chức, viên chức thành phố Sơn La cho thấy, còn tồn tại những bất cập cơ bản làm hạn chế sự phát triển của phong trào như:
Sự nhận thức chưa đầy đủ của công chức, viên chức về ý nghĩa của việc tập luyện Cầu lông; Thiếu cộng tác viên Cầu lông; Công tác xã hội hóa môn Cầu lông chưa hiệu quả; Thể lực của đội ngũ công chức, viên chức còn hạn chế.
Đồng thời, qua phân tích SWOT đã xác định được những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong việc phát triển phong trào Cầu lông trong đội ngũ công chức, viên chức thành phố Sơn La.
2. Quá trình nghiên cứu, đề tài đã lựa chọn được 6 giải pháp phát triển môn Cầu lông cho công chức, viên chức thành phố Sơn La, bao gồm:
Tuyên truyền về ý nghĩa, vai trò của việc tập luyện và thi đấu Cầu lông; Phát triển môn Cầu lông trong đội ngũ công chức, viên chức theo hướng xã hội hóa; Tạo nguồn cán bộ phát triển phong trào Cầu lông cho công chức, viên chức; Hoàn thiện hệ thống thi đấu Cầu lông cho công chức, viên chức; Mở rộng các hình thức tập luyện Cầu lông cho công chức, viên chức. Khích lệ động viên và kiểm tra, đánh giá phong trào Cầu lông của công chức, viên chức.
Trên cơ sở thực nghiệm xã hội học 5/6 giải pháp mà đề tài lựa chọn, bước đầu đã thể hiện tính hiệu quả sau một năm ứng dụng thông qua các tiêu chí phát triển môn Cầu lông.
Kết quả thực nghiệm cho thấy, các tiêu chí đều thể hiện sự tăng trưởng tích cực (từ 15.38 % đến 133.33 %). Đồng thời, các giải pháp còn có tác dụng nâng cao thể lực cho công chức, viên chức thành phố Sơn La đạt độ tin cậy ở ngưỡng xác suất thống kê cần thiết.
 
* Nhiều đề tài nghiên cứu của luận án TS không hơn gì đề tài cầu lông:
TT
Luận án
Chuyên ngành
Năm bảo vệ
1.
Nghiên cứu phát triển môn cầu lông cho công chức, viên chức thành phố Sơn La.
Giáo dục học
2022
2.
Nghiên cứu các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của trang tin điện tử Thể dục thể thao Việt Nam
Giáo dục học
2022
3.
Nghiên cứu ứng dụng bài tập phát triển sức bền cho nam vận động viên điền kinh cự ly trung bình lứa tuổi 16-17 Bộ Công an
Giáo dục học
2021
4.
Nghiên cứu ứng dụng bài tập phát triển sức mạnh tốc độ cho nam vận động viên Pencak Silat Bộ Công an
Giáo dục học
2021
5.
Nghiên cứu phát triển thể chất cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tỉnh Đồng Tháp
Giáo dục học
2021
6.
Nghiên cứu nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong Đại học Đà nẵng
Giáo dục học
2021
7.
Nghiên cứu biện pháp tổ chức hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa cho sinh viên học viện an ninh nhân dân
Giáo dục học
2021
8.
Nghiên cứu biện pháp phát triển năng lực sư phạm nhằm nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên thể dục thể thao trường đại học sư phạm Hà Nội 2.
Giáo dục học
2021
9.
Nghiên cứu hiệu quả bài tập hatha Yoga đối với sức khở người cao tuổi nữ tại Thành phố Hà Nội
Giáo dục học
2021
10.
Nghiên cứu lựa chọn bài tập thể chất nâng cao khả năng chú ý có chủ định của trẻ (6-9 tuổi) chậm phát triển trí tuệ dạng nhẹ ở thành phố Hồ Chí Minh.
Giáo dục học
2020
11.
Nghiên cứu ứng dụng các bài tập phát triển sức mạnh cho vận động viên cử tạ nam lưa tuổi 15-16 đội tuyển trẻ quốc gia
Giáo dục học
2020
12.
Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá trình độ tập luyện của nữ vận động viên bóng đá cấp cao Việt Nam
Giáo dục học
2020
13.
Nghiên cứu hệ thống bài tập phát triển sức bền chuyên môn cho nữ vận động viên bóng đá lứa tuổi 16-17 thành phố Hà Nội
Giáo dục học
2020
14.
Nghiên cứu ảnh hưởng của luyện tập cờ vua tới sự phát triển thành phần năng lực trí tuệ ở học sinh năng khiếu cờ vua lứa tuổi 8-9 thành phố Hà Nội
Giáo dục học
2020
15.
Nghiên cứu nội dung huấn luyện khai cuộc cho nữ vận động viên cờ vua cấp 1 và kiện tướng Việt Nam
Giáo dục học
2020
16.
Nghiên cứu xây dựng nội dung hoạt động câu lạc bộ thể thao giải trí cgho suinh viên Đại học lâm nghiệp.
Giáo dục học
2020
17.
Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo vận động viên các đội tuyển quốc gia.
Giáo dục học
2020
18.
Hệ thống hóa các bài tập nhằm phát triển sức mạnh tốc độ thực hiện kỷ thuật ném rổ từ xa đối với nữ vận động viên bóng rổ tỉnh Quảng Ninh
Giáo dục học
2020
19.
Câu hỏi đọc hiểu văn bản tự sự cho học sinh trung học phổ thông theo định hướng phát triển năng lực
Giáo dục học
2020
20.
Nghiên cứu các biện pháp khắc phục trạng thái xấu trước thi đấu cho vận động viên Karatedo cấp cao Việt Nam
Giáo dục học
2020
21.
Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục thể chất cho trường Đại học bách khoa Hà Nội
Giáo dục học
2020
22.
Nghiên cứu nội dung, tiêu chuẩn đánh giá trình độ luyện tập vận động viên chạy cự ly trung bình (800-1500m) cấp cao Việt Nam.
Thể dục thể thao
2020
23.
Nghiên cứu xây dựng một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác giáo dục thể chất Trường đại học Phú Yên
....
...
24.
Nghiên cứu lựa chọn một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác giáo dục thể chất Trường đại học Hải Phòng
....
...
25.
Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục thể chất Trường đại học tại thành phố Vinh
....
...
26.
Cải tiến chương trình giảng dạy các môn thể thao tự chọn cho sinh viên không chuyên Trường đại học Cần Thơ
....
...
27.
Xây dựng chương trình giáo dục thể chất học phần tự chọn, ngoại khóa cho sinh viên đại học Quy Nhơn
....
...
28.
Chuyển biến kinh tế xã hội tỉnh Đắc Nông từ 2004 đến 2015
....
...
29.
Quá trình chuyển biến kinh tế xã hội tỉnh Thái Nguyên từ 1997 đến 2010
....
...
30.
Quá trình chuyển biến cơ cấu kinh tế tỉnh Ninh Bình từ 1997 đến 2012
....
...
 
...... (Còn nhiều nữa)
....
...
 
                                                   Phan Đức Ngữ

 

                                             (Nguồn: báo chí chính thống, internet)

 

Số lần đọc : 450   Cập nhật lần cuối: 19/05/2022

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 13172204

Số người Onlne: 92

Thông tin doanh nghiệp