Nghiên cứu → Lịch sử

Nhìn lại cuộc khởi nghĩa của Lường Sám năm 1914


 



NHÌN LẠI CUỘC KHỞI NGHĨA CỦA LƯỜNG SÁM NĂM 1914
 

Giữa thập niên đầu của thế kỷ XX,mộtcuộc vũ trang chốngchính quyền thực dânnổ ra ở Sầm Nưa rồi lan sang Sơn La khiến thực dân Pháp một phen khốn đốn. Sau này nhiều nghiên cứu đều chỉ rarằng đây là một cuộc khởi nghĩa nằm trong khuôn khổphong trào yêu nướcđầu thế kỷ XX. Một số tài liệu khác lại cho thấy đây là sự kiện có tác động từ bên ngoài chứ không đơn thuần là cuộc khởi nghĩa yêu nước của nhân dân. Để hiểu sâu hơn về sự kiện này, chúng ta cùngtìm hiểu thêm vềnguyên nhân,lực lượng tham giavà những tác động của sự kiện này đối với xã hội Sơn La.
Nguyên nhân
Sau khi bình định được vùng Tây Bắc, để củng cố vai trò thống trị của mình, thực dân Pháp luôn phải tìm cách đối phó với sự chống đối của các nhân dân các dân tộcđịa phương. Trong đó nổi lênviệc quản trị những thương nhânHoa kiều, đội ngũ nàyđang trở thành một thế lực kinh tế nằm ngoài sự kiềm tỏa của chính quyền thực dân.Nhiều thương lái người Hoanắm trong tay độc quyền buôn bán lúa gạo, chuyên chở và phân phối hàng hóa từ đồng bằng lên thượng du. Một số vùng biên giới còn bị các băng đảng tàn dư của quân Cờ Đenkiểm soát, họ móc nốivới một số thổ tù địa phương để buôn lậu thuốc phiện, muối… vào nội địa khiến người Pháp thất thu những khoản thuế lớn. Những nhận định của Tòa sứ Sơn La đã cho thấy thế lực kinh tế của những thương lái ngườiHoa:“… mọi sự buôn bán, trao đổi dọc sông Đà đều nằm trong tay người Hoa và dân Thái trắng Lai Châu. Những người này … chiếm cứ các vị trí quan trọng trên sông Đà và ở các cửa sông nhánh, các lối vào làng bản, đem hương liệu và hàng cao su mua của người Lào ở Hủa Phăn đến đổi cho dân Thái địa phương lấy đậu khấu, cánh kiến và cây dược liệu đem về Hà Nội bán. Họ gom vốn thành tập đoàn có vốn lớn, lớn hơn nhiều so với những người Thái giàu có. Có khi đến quản đạo Lai Châu cũng hùn vốn với họ để buôn muối, thuốc lào và đồ sắt mua ở Chợ Bờ rồi chở lên bằng những con thuyền độc mộc và thuốc phiện mua của của bọn buôn lậu Vân Nam… việc buôn bán trên sông Đà hoàn toàn nằm trong tay người Hoa, bị họ lũng đoạn…”[1].
Sự cạnh tranh của thương nhân người Hoa ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người Pháp. Một số mặt hàng họ phải mua lại của thương nhân người Hoa với giá đắt đỏ. Gay gắt nhất vẫn là nạn buôn lậu thuốc phiện và độc quyền buôn bán lúa gạo của thương lái Hoa kiều. Những năm mất mùa, lợi dụng tình trạng thiếu lương thựcở tỉnh lỵ Sơn La, họthu mua hết thóc gạo ở các vùng lân cận và Điện Biên Phủ đểđem bán cho Tòa sứ với giá rất cao. Mặt khác, thương nhân người Hoa luôn có mối quan hệ rất mật thiếtvới quý tộc địa phương trongcác hoạt động buôn lậu khiến chính quyềnthực dânphải tăng cường kiểm soát gắt gao: Tại Sơn La“… vẫn có sự hiện diện của người Trung Quốc tại đây. Họ chủ yếu buôn lậu đồ da thuộc và đồ gỗ. Cần kiểm soát người Trung Quốc, đặc biệt là một số người đã đổi sang họ người Thái. Một số người Tàu vẫn sống tại nhà người Mèo mà không nộp thuế thân…”[2].Để kiểm soát việc buôn bán của người Hoa cũng như bóc lột các dân tộc bản địa, chính quyền thực dân đã quy định nhiều sắc thuế rất nặng, trong đó có những loại chỉ dành riêngcho người Hoa. Ngoài một số loại thuế đánh vào các mặt hàng buôn bán chính của họ như thuế thuốc phiện, thuế muối, thuế rượu, thuế lâm sản, khai mỏ, thuế cờ bạc… còn một số loại thuế khác như thuế thuyền bè, thuế môn bài, thuế lưutrú của Hoa kiều, v.v… Riêng về thuế đinh người Hoa phải nộp gấp đôi, gấp ba so với các dân tộc khác, họ phải nộp 4,50đ, trong khi số tiền người Thái phải nộp là2,70đ; người Mông, Dao nộp theo hộ là 2,50đ; Khơ mú 1,50đ[3].
Sau chuyến đi thị sát ngày 7-12/9/1914, Phó Công sứ Sơn La H.Virgtte đã nhận định:“…Ở Tạ Bú chỉ có 3 người Trung Quốc là thương gia, một số khác thì làm ruộng, còn lại đều là những kẻ không có nghề nghiệp. Họ thuê phụ nữ và trẻ con Thái làm việc, còn mình thì đi buôn lậu thuốc phiện.… Tôi đã đề nghị bổ nhiệm một trưởng phố người Hoa để thực hiện những chỉ đạo đến cộng đồng người dân ở Tạ Bú… Tình hình ở Tạ Chan cũng giống như ở TạBú,… viên tạo bản ở đây rất phục tùng người Trung Quốc. Anh trai của ông ta cũng từng là tạo bản và có nhiều ý đồ xấu nên đã bị cách chức… Phìa Mường Trai Cầm Văn Minh mới lên thay Cầm Văn Tứtạo cho tôi một ấn tượng tốt…”[4].Trong những bản báo cáo của Công sứ Sơn La Gilles gửi về Phủ Thống sứ Bắc kỳ thời gian này đều có nội dung đề cập đến tính chất hoạt động nguy hiểm của các thương gia và những đối tượng buôn lậu thuốc phiện người Hoa, trong đó bản báo cáo 48C ngày 5-9-1914 đã yêu cầu chính quyền phải có những biện pháp cứng rắn chống lại sự chi phối của người Hoa, đặc biệt là ởmột số khu trung tâm như Tạ Bú, Vạn Yên, Sơn La[5].Để hạn chế thế lực của thương nhân người Hoa, người Phápcòn tìm cáchcắt giảm lương bổng hoặc cách chức những quý tộcđịa phương có quan hệ mật thiết với người Hoa, khiến họ càng bất mãn hơn với chính quyền thực dân.
Tình hình Sơn La cũng giống như ởBắc Lào, đều có nhiềuHoa kiều sinh sống.Sau khi Pháp nắm quyền thu thuế từ tay người Xiêm, Hoa kiều ở Làophải chịu mức thuế theo đầu người cao hơn. Ngoài ra họcòn phải nộp những khoản thuế lớn từ việc buôn bán thuốc phiện, rượu và muối, đồ sắt, gia súc, cánh kiến...Trong khi Công sứ Pháp tại Sầm Nưa là Lambertlại phát động một chiến dịch nhằm ngăn chặn các hoạt động buôn lậu của thương nhân người Hoa, tịch thu nhiều hàng hóa và thuốc phiện của họ, khiến việc buôn bán gặp nhiều trở ngại, cộng với những điều khoản do liên quân tám nước áp đặt ở Trung Quốc[6] khiếngiới thương nhân Hoa kiềuởĐông Dương hết sức bất bình.Sự gia tăng của xu hướng chống Pháptrong giới Hoa kiều còn do tác độngcủacuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911 ở Trung Quốc;thành công của cuộc bạo động giành chính quyền hứa hẹn rất nhiều quyền lợicho những thương nhân Hoa kiều, nhất là đối vớinhữngdư đảng quân Cờ Đen vốn sẵn cómối thâm thù với thực dân Pháp.
Ban đầu người Pháp cho rằngcuộc khởi nghĩa của Lường Sámở Sầm Nưa chỉ là cuộc nổi loạn của những kẻ buôn lậu nhằmtrả thù công sứ Lambert vì ông ta đã ra lệnh trấn áp nạn buôn lậu thuốc phiện. Nhưng sự lan rộng của phong trào đã khiến người Pháp phải nghi ngờ rằng nó được hậu thuẫn hoặc chịu ảnh hưởng của phong trào chấn hưng Trung Hoa (Tung Meng Hui) ở Trung Quốc.TheoGeoffrey C.Gunn - Đại học Queensland, trong “Cuộc nổi dậy ở Bắc Lào của Lu và Trung Hoa Dân Quốc (1914-1916)”,tại thời điểm Lường Sám tấn công Sơn La, lực lượng của “phiến quân”có khoảng 200 người Trung Quốc và 600-700 người Lào. Đến tháng 6/1915, khi trở về Thượng lào, quân của Lường Sám phát triển lên tới 3.000 quân, trong đó có khoảng 500 người được vũ trang tốt. Với lực lượng đó, nghĩa quân Lường Sám phải được sự hỗ trợ kinh tế rất lớn của một số nhân vật cấp cao ở nội địa Trung Quốc lúc đó.Cũng theo Geoffrey C.Gunn,tại Sầm Nưa Lường Sám còn ra một bản thông cáo với đại ý mình đang thi hành mệnh lệnh của cấp trên ở Trung Quốc đánh chiếm đồn Sầm Nưa vàkêu gọi mọi người đứng lên chống Pháp, nhằm thành lập một quốc gia với tên là “Phu Nan Khui”[7].
Diễn biến và lực lượng tham gia
Cuộc bạo động vũ trangnhen nhóm và bùng nổ ở Bắc Lào được chuẩn bịtrước đótrong nhiều tháng, có sự phối hợp ởTây Bắc Việt Nam, chủ yếu là Sơn La. Người lãnh đạo cuộc nổi dậy là Lương Tam(Liang San), tên thật là Lương Bảo Định,(Liang Pao Tenh), gọi theo tiếng Thái là Lường Sám. Ông từng là thuộc hạ của của Lưu Vĩnh Phúc, khi quân Cờ Đen giải tán, Lường Sámnương náu ở Mai Châu, Đà Bắc (Hòa Bình). Khoảng đầu năm 1914 ông sang Sầm Nưa tự xưng là Lương Đô đốc (Liang Tou Tou) kêu gọi Hoa kiều và người Lào cùng đứng lên chống Pháp.
Ngày 28-9-1914, lợi dụnglúc nước Pháp đang lo đối phó với quân Đức trong Chiến tranh thế giới thứ Nhất, khoảng 100 Hoa kiều và 600 người Khơ-múcùng một số thủ lĩnh người địa phương dưới sự chỉ huy của Lường Sámđã nổi lên ở Sầm Nưa giết chết công sứ Pháp là Lambert. Quân nổi dậychiếm được thành Sầm Nưa và120 khẩu súng trường, 49 kg thuốc phiện, hơn 100.000 đồng tiền Đông Dương[8].Sau một thời gianchiếm giữ đồn Sầm Nưa, Lường Sám tiến quân về Sơn La phối hợp với một số thủ lĩnh Thái ở đâyđánh chiếm khu hành chính Pháp trên đồi Khau Cả.
Nhờ liên hệ trước với một số Hoa kiều vàquý tộc Thái ởTây Bắc nên cuộc nổi dậy của Lường Sám nhanh chóng nhận được sự hưởng ứng rộng rãi, nhất là từ một số chức dịch, quý tộc Thái đã thất thế. Ở châu Mường La nhờ cóMùng Ửng, người Hoa, sinh sống lâu năm ở Tạ Bú đã kết thân với Cầm Văn Tứ- một thổ tùcó thế lực, từng là phìa Mường Trai bị người Pháp cách chức nên có tư tưởng chống Pháp. Cầm Văn Tứcòn cố gắngthuyết phục một số thủ lĩnh người Thái khác hưởng ứng phong trào nhưng không thành.Tại Thuận Châu có Bạc Cầm Châu là tri châu cũ bị Pháp cách chứccũng tham gia hưởng ứng;ởYên Châu, Tạ Khoa có tri châu Hoàng Văn Bun; ở Sông Mã có Lường Văn Nó -phìa Mường Lầm, Cầm Văn Ý - phìa Mường Hung và Cầm Văn Nối - phìa Chiềng Cang;ở Chim Vàn, Bắc Yên có Mùi Văn Plối là tổng cơ và các ông Đinh Văn Píp, Đinh Văn Cu đứng đầu. Phong trào chuẩn bị nổi dậy chống Pháp còn có ảnh hưởng lên các châu phía Bắc như Tuần Giáo, Điện Biên.Tại Mộc Châu, Hầu Sám, một Hoa kiều sinh sống lâu năm tại đây đã liên hệvới tri châuSa Văn Cả cùng chuẩn bị khởi sự thì bị lộ nên phải rút sang Lào hợp với quân của Lường Sám.Trước khí thế rầm rộ chuẩn bị hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Lường Sám ở Sơn La, thực dân Pháp đã tăng cường bố phòng, tìm cách ly gián, khống chế các thủ lĩnh châu mường.
Đầu tháng 12-1914 quân của Lường Sám vượt sông tập kích vào vị trí Chiềng Khương. Từ Chiềng Khương, quân khởi nghĩa tiến về chiếm Mai Sơn, được La Thanh Phủ (Lò Sếnh Phủ) một người Hoa sinh sống lâu năm ở Mai Sơn phối hợp, cung cấp thêm lương thực, thực phẩm rồi cùng chuẩn bị tiến vềtỉnh lỵ Sơn La.Ngày 11-12-1914 nghĩa quân từ Mai Sơn kéo về đánh chiếm tỉnh lỵ Sơn La. Sau vài giờ giao chiến, nghĩa quân đã dồn quân Pháp vào khu trại lính. Công sứ Gilles, phó công sứVirgtte… chạy cả vào thành cố thủ chờ quân tiếp viện. Quam tô mương ghi lại cảnh chiến đấu ác liệt trong trận này: “quân của Lường Sám đánh vào Sơn la chiếm được đồi Khau Cả nơi có dinh chánh sứ, nhà giám binh và kho bạc… chánh sứ và tuần phủ Cầm Bun Hoan rút vào trại lính cố thủ. Lường Sám dùng rơm trộn lẫn ớt đốt lùa vào trong trại lính. Chánh sứ, Bun Hoan và lính Tây ở trong trại bị sặc, cũng may trời đổ mưa to làm đống rơm ớt tắt nên thoát chết…”[9].
Cuộc chiến đấu ở đồi Khau Cả diễn ra quyết liệt. Để cứu nguy cho Sơn La, quân Pháp ở Hà Nội đã phái 80 lính do quan hai Monceau chỉ huy từ Yên Bái tiến lên Sơn La. Quân của Cầm Văn Tứ tổ chức mai phục chờ đánh viện binh địch nhưng không thành. Quân Pháp có thêm quân cứu viện, trong ngoài cùng đánh khiến quân của Lường Sám rơi vào thế bất lợi. Này 25-12-1914 nghĩa quân Lường Sám rút về Sông Mã rồi tiến đánh đồnĐiện Biên Phủ, sau đó rút sang Lào tiếp tục hoạt động. Toàn quyền Đông Dương cử đại tá Friquegnon trực tiếp chỉ huy 3.000 lính khố đỏ kéo lên Sơn La, Lai Châu và Thượng Lào truy quétnghĩa quân Lường Sám. Quân khởi nghĩa còn tổ chức nhiều trận đánh lớn nhỏ cho đến đầu năm 1916 mới rút hẳn về Vân Nam, Trung Quốc[10].
Kết quả và một số tác động đến xã hội Sơn La
 
Sau khiquân của Lường Sám rút khỏi Sơn La, công sứ Gilles tức giận hạ lệnh giết hại nhiều Hoa kiều ở Sơn La, quân lính được trả 12 đồng bạc trắng cho mỗi đầu người chém được. Tỉnh lỵ Sơn La lại diễn ra cảnh chém giết, cướp bóc hỗn loạn:“Quan sứ và Quan hai mở cuộc điều tra … Lập tức các quan ra lệnh cho một toán lính đi ra phố, lùng những người khả nghi. Ai kháng cự quân lính có quyền chém lấy đầu mang về đề lao ...”[11].Sau sự kiện này, Hoa kiềuở Sơn La bị chính quyền thực dân quản lý rất chặt chẽ:“Người Hoa luôn phải chịu sự quản lý, theo dõi đặc biệt, không có hành động gì quá đáng, thái độ đúng mực, không mắc sai phạm gì về hình sự lẫn dân sự”[12].“Người Hoa từ 13 năm nay tập trung ở 2 trung tâm là Vạn Yên và Sơn La. Từ sau sự kiện Sầm Nưa, họ không hề tham gia vào một cuộc biểu tình chính trị nào”[13].
Tháng 4-1915chính quyền thực dân bắt đầumở phiên tòa đặc biệt để xét xử những người tham gia sự kiện Lường Sám ở Sơn La. Trong số100 người bị bắt có 48 người được đưa ra xét xử trước hội đồng chiến tranh. Trong đó có 16 bản án tử hình, 8 án khổ sai, 5 án tù và 9 người được trắng án[14].Những quý tộc Thái tham gia cuộc khởi nghĩa như Bạc Cầm Châu, Lường Văn Nó cùng hàng chục thủ lĩnh khác bị địch xử bắn; Cầm Văn Tứ, Lường Văn Hôm bị lưu đày ở Thái Nguyên;nhiều người khác bị cách chức như Cầm Văn Ý phìa Mường Hung, Cầm Văn Nối phìa Chiềng Cang, Hoàng Văn Bun tri châu Yên; Phápcòn cho quân về bản Vàn (xã Chim Vàn ngày nay) khủng bố dân bản và bắt, giết các ông Mùi Văn Plối, Đinh Văn Píp, Đinh Văn Cu...Sự đàn áp và theo dõi khắt khecủa thực dân pháp khiến một số người Hoa phải cải họ làm người Thái để tránh rắc rối, đồng thời làm thế lực kinh tế của thương nhân người Hoa giảm đi đáng kể. Đến năm 1932 trong số 175 người lĩnh môn bài kinh doanh trong toàn tỉnh Sơn Lathì chỉ có 64 người Hoa[15].
          Đội ngũ lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa chủ yếu là dư đảng quân Cờ Đen và những thương nhân Hoa kiều nổi lên đấu tranh vì quyền lợi kinh tế theo xu hướng bạo động, với cách thức dùng quyền lợi kinh tế để lôi kéo lực lượng tham gia. Do đó không thể coi toàn bộ cuộc khởi nghĩa của Lường Sám như là sự thể hiện của tinh thần chống Pháp của toàn thể nhân dân Tây Bắc. Việc gán ghépcuộc khởi nghĩa Lường Sám vào phong trào yêu nước của nhân dân Sơn La và Tây Bắc đầu thế kỷ XX cần được đánh giá thỏa đáng ở từng khía cạnh. Nếu như mục đích của giới lãnh đạo Hoa kiều là mưu cầu quyền lợi cho mình thì động cơ hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của một số quý tộc địa phương lại cần được nhìn ở góc độ khác, bởi ít nhiều trong họ vẫn có tư tưởng yêu nước, mong muốn giành độc lập cho quê hương, nhưng do chưa đủ lực nên phải liên kết với phong trào của Lường Sám. Tiêu biểu cho xu hướng này chính là Cầm Văn Tứ và Lường Văn Hôm (người trực tiếp liên lạc giữa Sơn La với nghĩa quân Lường Sám ở Sầm Nưa). Sau khi bị đày sang Thái Nguyên, hai ông tiếp tục tham gia cuộc khởi nghĩa của binh lính năm 1917 do Đội Cấn chỉ huy. Sau vụ binh biến Cầm Văn Tứ và Lường Văn Hôm đều bị thực dân Pháp kết án tử hình.
          Thất bại của cuộc khởi nghĩa Lường Sám đã cho thấy những hạn chế của phương pháp đấu tranh bạo động do thương nhân Hoa kiều khởi xướng khi đó, đồng thời cũng cho thấy những bất cập trong quá trình lãnh đạo, tập hợp lực lượng của phong trào. Với phương thức trả lương và thuốc phiện cho những người tham gia đã biến người nông dân tham gia cuộc khởi nghĩa trở thành kẻ đánh thuê dưới sự lãnh đạo của một số quý tộc người Thái, Mường.Cùng với sự chuẩn bị vội vã, khởi sự trong lúc thực dân Pháp đang còn mạnh và có sự đề phòng khiến cuộc khởi nghĩa nhanh chóng đi đến thất bại và bị đàn áp trong bể máu.Tuy vậy, cuộc khởi nghĩa cũng đã gây ra những ảnh hưởng nhất địnhđối với chính quyền thực dân ở Sơn La.
Sau sự kiện khởi nghĩa của Lường Sám, chính sách của người Pháp đối với giới quý tộc, chức dịch người địa phương trong bộ máy cai trị của chính quyền thực dân đã có sự thay đổi. Từ thái độít đề phòng, vì “từ lâu họđã không dám chống lại chúng ta”[16], rằng “họ không có tham vọng gì”[17]. Thì một vài năm sau khi sự kiện Lường Sám xảy ra, Công sứ Sơn La Louis Renéđã phải thú nhận:“...Tôi không tin vào lòng trung thành đối với chúng ta của đám dân thường người Thái, đó là một tình cảm vượt ngoài ý thức quần tụđi theo các thủ lĩnh của họ. Tôi cũng không tin vào lòng trungthành của tầng lớp thượng lưu quý tộc cầm quyền. Số lượng những phìa, tri châu và quý tộc bị xử bắn hoặc bịđi đầy sau vụ bạo loạn năm 1915 đã quáđủđể minh chứng điều đó. Vậy không nên làm phật ý tầng lớp quyền quý này một cách thường xuyên vôích bằng cách giảm bớt những đặc quyền của họ do cơ chếđãđể lại. Cần phải sưu tập tài liệu kỹ lưỡng trước khi tiến hành việc cắt giảm theo kiểu đó, và khi những đặc quyền đó tỏ ra đúng đắn, thì chúng ta nên chấp nhận”[18].Đó là cách mà thực dân Pháp thực hiện để ngăn ngừa những quý tộc Thái tham gianhững cuộc nổi dậy tương tự như sự kiện Lường Sám năm 1914, thay vì nghiêm khắc xử lý đối với những tên tay sai hủ bại, thì nay, thực dân Pháp lại tiếp tục dung dưỡng, thả lng cho chúng mặc sức đục khoét nhân dânngày một nặng nề hơn. Và hậu quả là như chúng đã dự đoán: “Cần phải thừa nhận không giấu diếm rằng sẽđến một ngày nào đó, người Thái sẽ nổi dậy hoàn toàn chống lại chếđộ hiện hành, nhưng nếu chúng ta không ngăn được điều đó, thì phải làm cho ngày đó lùi xa lâu chừng nào càng tốt...”[19].
Sự kiện Lường Sám đã cho thấy sự phân hóa sâu sắc trong nội bộ tầng lớp quý tộc ở Sơn La lúc bấy giờ.Dưới chính sách cai trịcủa thực dân Pháp đã dần hình thành hai thế lực đối nghịch: Một bên là những quý tộc, chức dịch lớp trêncó quyền lợi gắn chặt với chính quyền thực dân, sẵn sàng câu kết với kẻ thù để đảm bảo quyền lợi của bản thân; một bên là những quý tộc lớp dướibị chèn ép, sớm đứng về phía quần chúng nhân dân chống lại chính sách cai trị hà khắc. Đây là cơ sở hình thành nên bộ phận trí thức xuất thân từ giới quý tộc thất thế, những thành phần tiến bộ nhất trong xã hội Sơn La đương thời, có đủ trình độ để tiếp thu tư tưởng cách mạng trong những thập niên cuối củanửa đầu thế kỷ XX./.
 
     Hà Ngọc Hòa
 Hội Sử học Sơn La

 



[1] Sđd
[2] Bản dịch Báo cáo của Tòa Công sứ Sơn La về tình hình kinh tế - chính trị năm 1922, lưu tại Hội Khoa học Lịch sử Sơn La.
[3] Dẫn theo Lịch sử Đảng bộ huyện Mai Sơn, tái bản năm 2018, tr.32.
[4] Bản dịch Báo cáo chuyến đi thị sát của ngày 7-12/9/1914 của Phó Công sứ Sơn La H.Virgtte, lưu tại Hội Sử học Sơn La.
[5] Bản dịch Báo cáo tình hình chính trị Sơn La từ 15/8/1914 đến 15/8/1915 của công sứ Pháp gửi Thống sứ Bắc Kỳ, lưu tại Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Sơn La.
[6]Ngày 7/9/1901, sau khi tấn công vào Bắc Kinh, liên quân 8 nước đã ép triều đình Mãn Thanh ký vào bản “Nghị hòa đại cương” phải bồi thường chiến phí tới 450.000 vạn lượng bạc cùng nhiều điều khoản hết sức nặng nề.
[8] Les operation menees par les troupes indochinoises en Asie durant la grande guerre (1914 - 1919)
 
[9] Nguyễn Văn Hòa, Những hiểu biết về đường chinh chiến dựng mường thời ông cha của người Thái vùng Tây Bắc Việt Nam, bản PDF lưu tại Hội Sử học Sơn La, Tr.120.
[10]Cầm Trọng, Cuộc nổi dậy chống Pháp ở miền Bắc (1914 – 1916) và sự tham gia của Lương Văn Hôm, Cầm Văn Tứ trong cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên năm 1917, bản PDF lưu tại Hội Khoa học Lịch sử Sơn La.
[11] Trận Sơn La, Hà Thành Ngọ báo số 1813, 19/09/1933.
[12] Bản dịch Báo cáo kinh tế chính trị từ 30/6/1922 – 30/6/1923 của công sứ Sơn La gửi thống sứ Bắc Kỳ lưu tại Hội Khoa học Lịch sử Sơn La.
[13] Bản dịch Báo cáo năm 1928 của công sứ Sơn La gửi thống sứ Bắc Kỳ, lưu tại Hội Khoa học Lịch sử Sơn La.
[14] Bản dịch Báo cáo tình hình chính trị Sơn La từ 15/8/1914 đến 15/8/1915 của công sứ Pháp gửi Thống sứ Bắc Kỳ, lưu tại Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Sơn La.
 
[15]Tỉnh Sơn La 110 năm, NXB Chính trị Quốc gia, 2010, tr.70.
[16]Khảo lược về tỉnh Vạn Bú năm 1901 của công sứ Sevenier, bản lưu tại Hội Sử học Sơn La.
[17]Bản dịch Báo cáo tình hình chính trị của công sứ Pháp ở Sơn La tháng 1/1914, lưu tại Hội Sử học Sơn La.
[18] Dẫn theo Khổng Đức Thiêm, Tổ chức xã hội cổ truyền và bộ máy quản lý nhà nước tại tỉnh Sơn La dưới các chế độ cũ, https://nghiencuulichsu.com/2016/06/24/to-chuc-xa-hoi-co-truyen-va-bo-may-quan-li-nha-nuoc-tai-tinh-son-la-duoi-cac-che-do-cu/
[19] Sđd
 
 
 

Số lần đọc : 167   Cập nhật lần cuối: 01/07/2020

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 9877536

Số người Onlne: 33