Văn bản → Văn bản tỉnh Sơn La

Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh lãnh đạo thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoá XI


 

 
 
TỈNH ỦY SƠN LA
 
*
Số : 13 - NQ/TU
 
  
 
                     
                   ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM           
 
                              Sơn La, ngày 27 tháng 3 năm 2012
 
NGHỊ QUYẾT 
CỦA BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ TỈNH
lãnh đạo thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư
Ban Chấp hành Trung ương khoá XI
 
Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay
___
 
 Để tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoá XI họp từ ngày 27 đến 31.12.2011 tại Thủ đô Hà Nội đã quyết định ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TW “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 15-CT/TW ngày 24.02.2012 và Kế hoạch số 08-KH/TW ngày 12.3.2012 về việc thực hiện Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 16.01.2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Với quyết tâm thực hiện thật tốt Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thảo luận và quyết định ban hành Nghị quyết lãnh đạo thực hiện như sau:
 
 
            I- TÌNH HÌNH CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH
 
1- Từ khi thành lập đến nay, quán triệt và thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ tỉnh luôn được chú trọng xây dựng, đạt được những kết quả toàn diện cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ và đã lãnh đạo nhân dân các dân tộc đấu tranh giành được độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh luôn đặc biệt quan tâm lãnh đạo thực hiện nghiêm túc những chủ trương, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư các khoá về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đạt được nhiều kết quả tích cực; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ không ngừng được nâng cao; số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên bao gồm các dân tộc trong các lĩnh vực công tác được quan tâm xây dựng với 4.183 cơ sở đều có đảng viên đạt 100% tổng số cơ sở và cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh năm 2011 đạt 68,8%; phương thức lãnh đạo của Tỉnh uỷ và các cấp uỷ từng bước được đổi mới; hệ thống chính trị được xây dựng từ tỉnh đến cơ sở, được thường xuyên chăm lo, củng cố, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác, hiệu lực quản lý, tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; đa số cán bộ, đảng viên của Đảng bộ tỉnh có ý thức rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, gắn bó với nhân dân và cơ sở, có ý thức trách nhiệm với nhiệm vụ được giao, được nhân dân tin tưởng.
 Những thành tựu quan trọng và khá toàn diện mà Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Sơn La đã giành được trong những năm qua, đặc biệt là việc hoàn thành nhiệm vụ có ý nghĩa lịch sử di dân tái định cư Dự án thuỷ điện Sơn La, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, đưa Sơn La ra khỏi tình trạng tỉnh đặc biệt khó khăn, giải quyết có hiệu quả tệ nạn và tội phạm ma tuý, không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, giữ vững ổn định chính trị xã hội, củng cố vững chắc khối đại đoàn kết các dân tộc, tăng cường quan hệ đoàn kết hữu nghị đặc biệt và hợp tác toàn diện Sơn La – các tỉnh Bắc Lào là thành qủa của toàn Đảng bộ, nhân dân các dân tộc và các lực lượng vũ trang của tỉnh, trong đó có sự đóng góp to lớn của đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng bộ.
            2- Bên cạnh kết quả đã đạt được, công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ tỉnh vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém:
Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có đảng viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, không thực hiện đúng các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng, tự phê bình và phê bình hạn chế; ngại học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý toàn diện; sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, cơ hội, thực dụng, kèn cựa địa vị, đố kỵ, bè phái, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tuỳ tiện vô nguyên tắc; có đảng viên, cán bộ vi phạm chủ trương, chính sách  của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phải xử lý kỷ luật.
Việc đào tạo, quy hoạch, tuyển dụng, bố trí và xây dựng đội ngũ cán bộ đủ về số lượng, có chất lượng, cơ cấu hợp lý, phù hợp với đặc điểm của tỉnh, ngành và từng huyện, thành phố còn nhiều mặt hạn chế, dẫn đến sự hẫng hụt, không đồng bộ, thiếu chủ động trong bố trí, phân công cán bộ, nhất là ở các vị trí quản lý, lãnh đạo, các cơ quan nhà nước các cấp.
Công tác nhận xét, đánh giá cán bộ của một số cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị chưa chính xác, còn nể nang, né tránh hoặc thiếu công tâm, khách quan, nên bố trí, sử dụng cán bộ có mặt còn bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu triển khai toàn diện nhiệm vụ chính trị.
 
 
Nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách ở một số cấp ủy, cơ quan, đơn vị thực hiện chưa tốt, chấp hành quy chế không nghiêm, không xác định rõ cơ chế trách nhiệm của tập thể và cá nhân, nên công việc có lúc, có nơi còn trì trệ, chậm tiến độ, chất lượng hạn chế, tạo kẽ hở cho lối làm việc tắc trách, đùn đẩy trách nhiệm.
 
3- Tình hình hạn chế, yếu kém trên đây có nguyên nhân khách quan,  là do việc thực hiện đổi mới kinh tế phải vừa làm, vừa rút kinh nghiệm trong điều kiện của một tỉnh miền núi, còn đặc biệt khó khăn, trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn thấp, nên chưa lường hết được những tác động của mặt trái cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế; cũng như trong phạm vi toàn Đảng, toàn quốc, Đảng bộ tỉnh Sơn La chưa có sự chuẩn bị kỹ về lập trường, tư tưởng và cách thức tiếp cận mới cho cán bộ, đảng viên và thực tế khó hình dung hình hài của kinh tế thị trường, đòi hỏi đổi mới tư duy kinh tế của tổ chức đảng và đảng viên phải có một quá trình luôn tìm tòi sáng tạo; Đảng, Nhà nước còn thiếu những cơ chế, chính sách đồng bộ, khoa học để định hướng hoạt động và chủ động ngăn ngừa những vi phạm có thể mắc phải.
Trong quá trình phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, tỉnh Sơn La đang trong quá trình xây dựng, phát triển với nhiều chương trình, dự án đầu tư lớn, nhiều chương trình mục tiêu quốc gia, trong khi trình độ quản lý kinh tế của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ, nhất là ở cơ sở còn nhiều bất cập; một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý nắm giữ khối lượng tài sản, nguồn vốn lớn của tập thể, nhà nước và nhân dân,  đã không chiến thắng được bản thân, để chủ nghĩa cá nhân, vụ lợi, thực dụng phát triển.
 
Các thế lực thù địch và phản động gia tăng hoạt động “diễn biến hoà bình”, lấy hoạt động tư tưởng-văn hoá là mũi đột phá hòng làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về lý luận và tư tưởng, tạo ra khoảng trống để dần đưa hệ tư tưởng tư sản vào và tiến tới xoá bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở nước ta; “coi kích động vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo là bốn đòn đột phá khẩu, bốn mũi xung kích để chọc thủng mặt trận tư tưởng chính trị” nhằm tạo ra sự bùng nổ mạnh mẽ các phong trào phản kháng xã hội với các nội dung và hình thức khác nhau, gây bạo loạn lật đổ, nhất là chia rẽ dân tộc, phá hoại mối quan hệ gắn bó giữa cấp uỷ, chính quyền với nhân dân, gây mất ổn định chính trị-xã hội, an ninh biên giới.  
 
 
Nhưng chủ yếu là do những nguyên nhân chủ quan:
Một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu; việc tổ chức quán triệt, thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các nghị quyết, chỉ thị, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng của một số cấp uỷ, tổ chức đảng chưa đến nơi, đến chốn; khả năng cụ thể hoá và vận dụng chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước vào thực tiễn địa phương, ngành, cơ sở của một số cấp uỷ, tập thể lãnh đạo còn hạn chế. Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số nơi còn hình thức, tự phê bình và phê bình còn yếu, cá biệt còn bị vi phạm.
Có rất nhiều vấn đề mới đặt ra cả về lý luận và thực tiễn đòi hỏi cấp uỷ và từng đảng viên phải giải đáp, giải quyết đúng đắn các mối quan hệ lớn và các vấn đề mới nảy sinh, vừa đảm bảo rất khẩn trương, quyết đoán nhưng thận trọng và chắc chắn.
Công tác quản lý, giáo dục cán bộ, đảng viên có nơi, có lúc còn bị buông lỏng, kỷ luật, kỷ cương không nghiêm; một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý nói không đi đôi với làm hoặc làm chiếu lệ, thiếu mẫu mực cả về trình độ, tầm tư duy, trách nhiệm, năng lực toàn diện nên không phát huy tác dụng đầu tầu, lôi cuốn cán bộ và nhân dân; việc xử lý cán bộ vi phạm, uy tín giảm sút và năng lực yếu còn thiếu kiên quyết.
Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống có nơi, có lúc còn hình thức, chưa hiệu quả; công tác kiểm tra, giám sát, giữ gìn kỷ cương, kỷ luật ở một số tổ chức đảng chưa thường xuyên, chưa kiên quyết; vai trò giám sát của nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị- xã hội ở một số địa phương, cơ sở còn chưa được phát huy, hiệu quả chưa cao.
 
II- MỤC TIÊU, PHƯƠNG CHÂM
 
1- Mục tiêu
 
Tạo được sự chuyển biến rõ rệt, khắc phục được những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng Đảng bộ tỉnh và từng tổ chức đảng thực sự trong sạch vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, thực hiện tốt các nguyên tắc tổ chức và phương thức hoạt động của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức kỷ cương, liêm chính, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, giữ vững ổn định chính trị; củng cố niềm tin trong Đảng và nhân dân, động viên được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới vì mục tiêu sớm đưa Sơn La trở thành tỉnh phát triển khá trong khu vực miền núi phía Bắc.
 
2- Phương châm
 
2.1- Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, khách quan, không nể nang, né tránh.
2.2- Triển khai các giải pháp phải bảo đảm đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, khả thi, kết hợp “chống và xây”, “xây và chống”, nói đi đôi với làm, tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc, trì trệ nhất.
2.3- Chỉ đạo tổ chức thực hiện với trách nhiệm và quyết tâm chính trị cao trong toàn Đảng bộ, cấp uỷ viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành, đơn vị, nhất là người đứng đầu phải thật sự gương mẫu làm trước để cho cấp dưới noi theo.
2.4- Phải bình tĩnh, tỉnh táo, làm kiên quyết, kiên trì, không nóng vội, cực đoan, giữ đúng nguyên tắc hoạt động của Đảng; thường xuyên kiểm tra, giám sát chặt chẽ, không để rơi vào trì trệ, hình thức; không để các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội lợi dụng, kích động, xuyên tạc, đả kích, gây rối nội bộ.
III- NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP
1- Nhiệm vụ trọng tâm
 1.1- Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin trong đảng và nhân dân.
Tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết của cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; kiên định đường lối đổi mới, chống giáo điều, bảo thủ, trì trệ hoặc chủ quan, nóng vội, đổi mới vô nguyên tắc. Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng, bản lĩnh chính trị, tấm gương đạo đức trong sáng và năng lực hoạt động, công tác của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Kiên quyết đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng; đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, sự thống nhất về nhận thức, tư tưởng và hành động trong Đảng bộ; làm thất bại âm mưu và hoạt động “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch, phòng ngừa nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”.
Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tư tưởng, tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Mỗi cán bộ, đảng viên đều phải tự học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ lý luận chính trị, cập nhật những kiến thức mới và không ngừng nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý toàn diện.
Đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp uỷ, tổ chức đảng, chất lượng tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng. Thật sự phát huy dân chủ trong sinh hoạt đảng, từ sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt cấp uỷ ở cơ sở đến sinh hoạt Ban Thường vụ tỉnh uỷ, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh; đồng thời giữ nghiêm kỷ luật trong Đảng. Thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ. Chống chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, đố kỵ, hẹp hòi, cục bộ, bè phái, kiêu ngạo, tự phụ, thành kiến, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy tội, chạy bằng cấp, kèn cựa địa vị, kích động gây mất đoàn kết nội bộ, lạm dụng chức quyền, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, xa dân, vô cảm, làm việc vô nguyên tắc.
Thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát, phòng ngừa sai phạm trong tổ chức đảng và đảng viên gắn với thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí; chú trọng kiểm tra, giám sát người đúng đầu tổ chức đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội các cấp trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.
1.2- Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp của tỉnh, đáp ứng yêu cầu sớm đưa Sơn La trở thành tỉnh phát triển khá trong khu vực miền núi phía Bắc và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước.
Thực hiện tốt Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; đổi mới tư duy, cách làm, khắc phục những yếu kém trong từng khâu của công tác cán bộ. Đánh giá và sử dụng đúng cán bộ; kịp thời thay thế cán bộ yếu kém về phẩm chất, năng lực, không hoàn thành nhiệm vụ, uy tín giảm sút.
Tăng cường công tác giáo dục, quản lý cán bộ. Thực hiện luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý theo quy hoạch ở các ngành, các cấp; khắc phục tư tưởng cục bộ, khép kín. Chú trọng quy hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý các cấp, đội ngũ chuyên gia đầu ngành. Đổi mới, trẻ hoá đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý.
Tập trung kiện toàn, củng cố, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên ở các loại hình cơ sở. Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng và xây dựng đội ngũ cán bộ, trong đó đặc biệt chú trọng cán bộ ở cấp huyện và cơ sở, cán bộ có trình độ cao, cán bộ trẻ, cán bộ nữ, nhất là cán bộ là người dân tộc thiểu số, chuyên gia trên các lĩnh vực; thực hiện chuẩn hoá, trẻ hoá cán bộ theo tiêu chuẩn từng chức danh, đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển của tỉnh.
Kiện toàn, nâng cao chất lượng các cơ quan tham mưu, đội ngũ cán bộ làm công tác tham mưu, nhất là ở cấp tỉnh.
1.3- Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.
Tiếp tục xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và mô hình tổ chức của các tổ chức trong hệ thống chính trị. Rà soát, làm rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức bộ máy các cơ quan trực thuộc uỷ ban nhân dân các cấp; thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy.
Tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ đối với công tác dân vận, thường xuyên chăm lo củng cố mối liên hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; gắn công tác xây dựng Đảng với công tác vận động quần chúng. Coi trọng và nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội tham gia vào công tác xây dựng Đảng, phát huy vai trò nòng cốt tập hợp, đoàn kết nhân dân xây dựng cơ sở chính trị; thực hiện dân chủ, giám sát và phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh.
Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp uỷ, đổi mới phong cách công tác, chấn chỉnh lề lối làm việc, nâng cao trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, đảng viên. Khắc phục tình trạng Đảng bao biện, làm thay hoặc buông lỏng lãnh đạo các cơ quan quản lý nhà nước. Phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức đảng, đảng viên, cấp uỷ viên hoạt động trong các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong Đảng, khắc phục tình trạng rườm rà, bất hợp lý về thủ tục, giảm bớt giấy tờ, hội họp; sâu sát thực tế, cơ sở; nói đi đôi với làm.
2- Các nhóm giải pháp và những việc cần làm ngay
2.1- Tự giác, trung thực tự phê bình và phê bình, nêu cao tính tiền phong, gương mẫu của cấp trên và người đứng đầu
Các cấp ủy, tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng bộ, từ tỉnh đến cơ sở đều phải xem xét lại mình, tự giác điều chỉnh, biết trân trọng và phát huy những cái tốt, khắc phục ngay những điểm yếu và cái xấu, cảnh giác trước mọi cám dỗ và tránh rơi vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, tiến hành kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo các nội dung Nghị quyết Trung ương đã nêu, không đứng ngoài “phán” và “đợi chờ” coi như tổ chức và cá nhân mình vô can. 
Phải kiểm điểm rõ về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; về thực hiện Quy định về những điều đảng viên không được làm; trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và từng đảng viên, của người đứng đầu về tình trạng để cán bộ, đảng viên suy thoái; những hạn chế, yếu kém trong công tác cán bộ, nhất là trong quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, bổ nhiệm, đề bạt, luân chuyển, bố trí cán bộ, trong đó có một số trường hợp bố trí cán bộ chưa đúng, ảnh hưởng đến uy tín cơ quan lãnh đạo, quản lý, sự phát triển của ngành, cơ sở; những hạn chế, khuyết điểm trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”; chấp hành kỷ luật phát ngôn không nghiêm, nội bộ đang họp ở ngoài đã biết, nội bộ họp xong ra ngoài biết hết, tự đặt mình lên trên tập thể và vượt quyền hạn được giao; những vi phạm trong thực hiện quyền hạn và trách nhiệm cá nhân theo chức trách, nhiệm vụ được giao.
Tập thể Ban Thường vụ tỉnh uỷ, các đồng chí Uỷ viên Ban Thường vụ tỉnh uỷ, Uỷ viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh kiểm điểm trước với tinh thần gương mẫu để cấp ủy, cán bộ, đảng viên cấp dưới noi theo. Tiến hành kiểm điểm tự phê bình và phê bình phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nhất là những mặt còn yếu kém, không nể nang, né tránh; việc tổ chức kiểm điểm phải dân chủ, nghiêm túc, thẳng thắn với tinh thần xây dựng, đúng yêu cầu, nội dung, cách làm, thời gian mà Trung ương và Bộ Chính trị đã đề ra, đã được Tỉnh uỷ cụ thể hoá và hướng dẫn sát với tình hình nhiệm vụ của Đảng bộ tỉnh.
2.2- Về tổ chức, cán bộ và sinh hoạt đảng
Trên cơ sở hướng dẫn của Trung ương, xây dựng quy định ban chấp hành đảng bộ góp ý kiến, thể hiện sự tín nhiệm đối với tập thể và từng đồng chí uỷ viên ban thường vụ cấp uỷ; triển khai quy định lấy phiếu tín nhiệm hằng năm đối với các chức danh lãnh đạo trong cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị-xã hội các cấp; kịp thời thay thế những cán bộ tín nhiệm thấp và không hoàn thành nhiệm vụ được giao, không chờ hết nhiệm kỳ và hết tuổi công tác; thí điểm giao quyền cho bí thư cấp uỷ lựa chọn, giới thiệu để bầu uỷ viên thường vụ cấp uỷ; cấp trưởng có trách nhiệm lựa chọn, giới thiệu để bầu cử, bổ nhiệm cấp phó; thí điểm chế độ tiến cử, chế độ tập sự lãnh đạo, quản lý; thực hiện quy trình giới thiệu nhân sự theo hướng những người được dự kiến đề bạt, bổ nhiệm phải trình bày chương trình hành động trước khi xem xét quyết định.
Rà soát, bổ sung, hoàn thiện quy hoạch cán bộ các cấp; xây dựng đề án quy hoạch ban chấp hành đảng bộ các cấp, ban thường vụ cấp uỷ các cấp, các chức danh lãnh đạo cấp uỷ (nhiệm kỳ 2015-2020), hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân (nhiệm kỳ 2016-2020). Thực hiện tốt Đề án quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ dân tộc thiểu số, cán bộ nữ, cán bộ có trình độ cao và cán bộ cơ sở, gắn quy hoạch cán bộ với việc tăng cường điều động và luân chuyển cán bộ về xã theo Nghị quyết số 35-NQ/TU của Ban Thường vụ tỉnh uỷ, gắn kết cấp trên và cấp dưới, giữa huyện này với huyện khác, ngành này với ngành khác để đào tạo cán bộ cho chức danh đương nhiệm hoặc chức danh sẽ đảm nhiệm sau điều động và luân chuyển theo quy hoạch, đảm bảo cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp trên phải qua chức vụ lãnh đạo, quản lý chủ trì ở cấp dưới. Trước hết, triển khai ngay rà soát, đánh giá việc bố trí, sử dụng cán bộ trong thời gian qua, làm rõ ưu điểm, mặt mạnh và hạn chế, khuyết điểm; tiến hành bố trí, phân công, sắp xếp lại cán bộ nhằm phát huy cao nhất năng lực, sở trường của cán bộ, đảm bảo có cơ cấu cán bộ hợp lý trong từng huyện, thành phố, ngành, cơ quan, đơn vị.
Thực hiện nghiêm Quy định của Trung ương về thẩm quyền và trách nhiệm của người đứng đầu cấp uỷ, tổ chức đảng; xây dựng tiêu chuẩn chức danh cán bộ, tiêu chí đánh giá cán bộ phù hợp với quy định của Trung ương và đặc điểm, tình hình thực tế của tỉnh, phục vụ việc quy hoạch, quản lý, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ.
Chấn chỉnh tổ chức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ và sinh hoạt cấp uỷ, đảm bảo thực hiện nghiêm túc Quy định số 45-QĐ/TW, Quyết định số 46-QĐ/TW, Quy định số 47-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI; rà soát, bổ sung, sửa đổi quy chế làm việc của cấp uỷ, tổ chức, đơn vị phù hợp với quy định của Đảng, rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của tập thể và cá nhân, khuyến khích người đứng đầu dám nghĩ và dám làm vì lợi ích của Đảng, của dân.
Triển khai Hướng dẫn của Trung ương thực hiện Quy chế chất vấn tại các kỳ họp ban chấp hành đảng bộ các cấp. Bổ sung việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI vào chương trình kiểm tra, giám sát hằng năm của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Ban Thường vụ tỉnh uỷ.
Uỷ ban Kiểm tra tỉnh uỷ phối hợp Ban cán sự đảng Uỷ ban nhân dân tỉnh, Ban Chỉ đạo tỉnh về phòng chống tham nhũng, Ban cán sự đảng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, Ban cán sự đảng Toà án nhân dân tỉnh, Văn phòng tỉnh uỷ đôn đốc, kiểm tra, xem xét việc giải quyết những vụ việc có thông tin hoặc đơn thư phản ánh, tố cáo, khiếu nại, nhất là những vụ việc bức xúc mà dư luận xã hội quan tâm. Thường xuyên kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện của cán bộ diện Ban Thường vụ tỉnh uỷ quản lý trong việc chấp hành các quy định của Đảng và Nhà nước, Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức.
Thường xuyên đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (khoá X) về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, Chỉ thị số 10-CT/TW của Ban Bí thư về nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, Hướng dẫn số 09-HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương về nội dung sinh hoạt chi bộ và Hướng dẫn kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4; tiếp tục nghiên cứu, kiện toàn mô hình tổ chức đảng ở cơ sở, nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên mới, tăng cường quản lý đảng viên, làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ.
Xây dựng quy chế, cơ chế để nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Thực hiện hướng dẫn của Trung ương kiểm tra việc cán bộ chủ chốt và cán bộ dân cử các cấp thực hiện chế độ tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân dân.
Kiện toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo tỉnh về phòng chống tham nhũng và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử để nâng cao hiệu quả phòng ngừa tổ chức đảng và đảng viên sai phạm.
2.3- Về cơ chế, chính sách
Rà soát bổ sung kế hoạch cải cách hành chính nhà nước, nhất là đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính của tỉnh; loại bỏ những văn bản không còn phù hợp, cản trở việc thực thi công vụ của cán bộ, công chức và giao dịch của công dân, các thủ tục liên quan đến thực hiện quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân để tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khoá X) về cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành của chính quyền các cấp.
Tiến hành đánh giá, sàng lọc, sắp xếp phù hợp, bố trí đúng người, đúng việc, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực; xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan hành chính nhà nước; cải cách chế độ công vụ, công chức; cải cách tài chính công; giải quyết tốt mối quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân, huy động sự tham gia có hiệu quả của người dân và xã hội vào hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước đảm bảo lành mạnh hoá các mối quan hệ xã hội, ngăn chặn kiên quyết và chấm dứt tình trạng chạy theo danh lợi, chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy tội, chạy bằng cấp, chạy hết chỗ này đến chỗ khác.
Ban hành các văn bản cụ thể hoá về quy định trách nhiệm, quyền hạn của người đứng đầu các cơ quan hành chính nhà nước trong mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân; quy định về thực hiện và kiểm soát việc kê khai tài sản theo quy định của Đảng và Nhà nước; về tiêu chuẩn, chức danh cán bộ, công chức  để cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh và thực hiện tinh giản biên chế… Thực hiện tốt chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về chế độ tiền lương, nhà ở của cán bộ, công chức. Xây dựng kế hoạch, hướng dẫn việc kiểm tra, giám sát thường xuyên cán bộ diện cấp uỷ quản lý chấp hành quy định của Đảng và Nhà nước, của cấp uỷ cấp trên về công tác cán bộ, Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức.
2.4- Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng
Thực hiện tốt Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14.5.2011 của Bộ Chính trị, thường xuyên học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức và tác phong Hồ Chí Minh trong sinh hoạt chi bộ, đảng bộ nhằm chấn chỉnh lề lối làm việc và nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, kết hợp chặt chẽ sự cố gắng tự thân của mọi người với sự giúp đỡ chân thành của tập thể, để mỗi người đủ sức tự vươn lên trong một tập thể cùng phát triển tốt đẹp; xây dựng và tổ chức thực hiện chuẩn mực đạo đức phù hợp với đặc điểm của từng chi bộ, cơ quan, đơn vị. Các cấp uỷ, tổ chức đảng chỉ đạo lựa chọn một số vấn đề bức xúc, nổi cộm thuộc lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống để chi bộ, đảng bộ bàn biện pháp phấn đấu, khắc phục, tạo chuyển biến, tiến tới giải quyết dứt điểm trong một thời gian nhất định. Trong đó, cần tập trung làm ngay những vấn đề sau: tổ chức học tập quán triệt sâu sắc Quy định số 47-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về những điều đảng viên không được làm trong toàn thể hệ thống chính trị và trong toàn dân; thực hiện đúng các quy định về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, mừng thọ… phù hợp với nếp sống văn hoá mới, phù hợp với phong tục tập quán, đời sống chung trong xã hội, tiết kiệm, chống lãng phí; sử dụng xe công, tài sản công đúng quy định của Nhà nước, thật sự tiết kiệm, không dùng xe công vào việc riêng; thực hiện tốt các quy định, chuẩn mực về văn hoá họp, văn hoá ứng xử, văn hoá giao tiếp, văn hoá công sở, văn hoá gia đình và khu dân cư, văn hoá trong tự phê bình và phê bình.
Cán bộ chủ chốt và cán bộ dân cử các cấp thường xuyên tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân dân, chủ động nắm bắt tâm tư, đánh giá, dự báo diễn biến tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và có biện pháp giải quyết kịp thời; thường xuyên giám sát, kiểm tra đối với sinh hoạt của cấp uỷ, tổ chức đảng  và chi bộ, kịp thời nhắc nhở những người ít phát biểu trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên và thực hiện chức trách, nhiệm vụ, đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, viên chức, kịp thời chấn chỉnh, uốn nắn, xử lý nghiêm minh các sai phạm.
Đổi mới và triển khai mạnh mẽ công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên, tạo niềm tin trong Đảng và nhân dân các dân tộc, vừa thuyết mimh đường lối và nghị quyết của Đảng, vừa tìm tòi sáng tạo và giải đáp đúng đắn tình hình, nhiệm vụ mới.
Tổ chức các hội nghị thông báo tình hình quốc tế, trong nước và trong tỉnh đến các đồng chí nguyên là cán bộ chủ chốt của tỉnh; văn nghệ sỹ, trí thức tiêu biểu; già làng, trưởng bản, trưởng dòng họ, người có uy tín trên địa bàn tỉnh.
Thành lập Hội đồng nghiên cứu và tổng kết thực tiễn của tỉnh uỷ để giúp Tỉnh uỷ, các cấp uỷ và tổ chức đảng luôn xử lý tốt mối quan hệ gắn bó một cách biện chứng giữa khoa học lý luận và khoa học chính trị, nâng cao tầm trí tuệ của Đảng bộ tỉnh và đội ngũ đảng viên. Xây dựng nội dung, chương trình bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Xây dựng mỗi chi bộ và đảng viên có tủ sách đầu giường, có ý thức “tự giác, tự thân” học tập, nghiên cứu khoa học và cập nhật kiến thức mới, tiếp tục đổi mới tư duy về lĩnh vực hoạt động của mình làm sao cho đúng đắn và hiệu quả nhất. Tiến hành cuộc vận động xây dựng tủ sách đầu giường và tủ sách phòng làm việc nhằm xây dựng được giá trị nhân cách tiêu biểu cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của đảng bộ tỉnh là sự hiếu học, sự trọng học, tôn sùng trí tuệ, học vấn và tài năng để lãnh đạo thắng lợi nhiệm vụ chính trị sớm đưa Sơn La trở thành một tỉnh phát triển khá trong khu vực các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta.
Lãnh đạo các cơ quan thông tấn báo chí tuyên truyền sâu rộng nội dung Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, chỉ thị, kế hoạch của Bộ Chính trị, nghị quyết và các văn bản chỉ đạo tổ chức thực hiện của Tỉnh uỷ; phát huy vai trò, trách nhiệm của báo chí trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí; công tác tuyên truyền phải bảo đảm chính xác, trung thực với thái độ khách quan, xây dựng, gắn “xây” với “chống”; coi trọng xây dựng bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên, đủ sức chống lại hoạt động “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch và ngăn ngừa nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; coi trọng nêu gương người tốt, việc tốt, lấy nhân tố tích cực để đẩy lùi tiêu cực, đồng thời phê phán, đấu tranh với những biểu hiện sa sút, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống vụ lợi, cá nhân, ích kỷ, vi phạm những chuẩn mực đạo đức.
Bảo vệ, khen thưởng, động viên kịp thời những người dám đấu tranh chống các hành vi, biểu hiện sai trái, bảo vệ cái đúng, sự thật, những người làm báo tích cực, dũng cảm trong đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí; xử lý nghiêm việc đưa tin sai sự thật, vu cáo, bịa đặt gây hậu quả xấu.
IV- TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh giao:
1- Ban Thường vụ tỉnh uỷ trực tiếp lãnh đạo thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay và Nghị quyết này.
2- Ban Tuyên giáo tỉnh uỷ, Ban Tổ chức tỉnh uỷ, Uỷ ban Kiểm tra tỉnh uỷ, Ban Dân vận tỉnh uỷ, căn cứ vào Nghị quyết của Trung ương, chỉ thị, kế hoạch của Bộ Chính trị, chỉ đạo hướng dẫn của các ban đảng Trung ương, Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh và Hướng dẫn của Ban Thường vụ tỉnh uỷ tham mưu với Ban Thường vụ tỉnh uỷ cụ thể hoá để lãnh đạo tổ chức thực hiện.
3- Ban Tổ chức tỉnh uỷ tham mưu với Ban Thường vụ tỉnh uỷ, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về việc thực hiện một số chủ trương của Trung ương về công tác cán bộ, chính sách cán bộ; phối hợp với Uỷ ban Kiểm tra tỉnh uỷ, các tổ chức đảng có liên quan làm tốt công tác rà soát, đánh giá cán bộ theo Nghị quyết Trung ương 4, phục vụ công tác quy hoạch cấp uỷ và các chức danh chủ chốt.
4- Ban cán sự đảng Uỷ ban nhân dân tỉnh:
- Chỉ đạo rà soát kế hoạch cải cách hành chính nhà nước của tỉnh; trình cấp có thẩm quyền cho ý kiến để loại bỏ những văn bản không còn phù hợp, cản trở việc thực thi công vụ của cán bộ, công chức và các thủ tục liên quan đến thực hiện quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân.
- Trên cơ sở hướng dẫn của Trung ương, trình cấp có thẩm quyền để ban hành các văn bản cụ thể hoá về quy định trách nhiệm, quyền hạn của người đứng đầu các cơ quan hành chính nhà nước trong mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân; quy định về quản lý đầu tư, xây dựng cơ bản, sử dụng vốn, tài sản nhà nước, thực hiện và kiểm soát việc kê khai tài sản theo quy định của Đảng và Nhà nước; về biên chế cán bộ, công chức, tiêu chuẩn, chức danh để cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh và thực hiện tinh giản biên chế.
5- Đảng đoàn Hội đồng nhân dân tỉnh phối hợp với Ban Tổ chức tỉnh uỷ, trên cơ sở hướng dẫn của Trung ương tham mưu với Ban Thường vụ tỉnh uỷ cụ thể hoá về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do hội đồng nhân dân các cấp bầu; lãnh đạo chặt chẽ quá trình lấy ý kiến sửa đổi, bổ sung Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật theo đúng hướng dẫn của Trung ương Đảng và Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
6- Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội tỉnh, Ban Thường vụ tỉnh đoàn căn cứ chức năng, nhiệm vụ xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết này.
7- Mỗi huyện uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc và mỗi đảng viên xây dựng kế hoạch và chương trình hành động triển khai thực hiện Nghị quyết một cách khẩn trương, nghiêm túc, thiết thực, có sự phân công trách nhiệm cụ thể, chặt chẽ, phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương, đơn vị, lựa chọn những việc cần làm ngay để chỉ đạo giải quyết kịp thời.
8- Ban Tổ chức tỉnh uỷ chủ trì, phối hợp với Văn phòng và các ban đảng tỉnh uỷ theo chức năng, nhiệm vụ được phân công theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết này; định kỳ báo cáo kết quả thực hiện với  Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh.
Nghị quyết này được phổ biến đến chi bộ, toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân./.
 
T/M TỈNH UỶ
BÍ THƯ
(đã ký)
 
 
 
 
 
 
Thào Xuân Sùng
 
 
 

 

Số lần đọc : 2388   Cập nhật lần cuối: 18/06/2012

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 12862286

Số người Onlne: 35