Tin tức → Sơn La - Tây Bắc

Chỉ số CCHC và chỉ số SIPAS năm 2020 của tỉnh Sơn La


 

 

 

 

 
CHỈ SỐ  CCHC VÀ CHỈ SỐ SIPAS NĂM 2020

 

của tỉnh Sơn La trong cả nước và vùng Trung du và miền núi phía Bắc

 
 
Chiều ngày 24/6, tại trụ sở Chính phủ, Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ tổ chức Hội nghị trực tuyến công bố Chỉ số cải cách hành chính năm 2020 của các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (PAR INDEX 2020) và Chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước năm 2020 (SIPAS 2020). 

 

 
 
 
 Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình, Trưởng ban Ban Chỉ đạo cải cách hành chínhcủa Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà cùng các đồng chí chủ trì Hội nghị trực tuyến
 
1. Các bộ ngành trung ương. Giá trị trung bình Chỉ số CCHC của 17 bộ, cơ quan ngang bộ năm 2020 là 87.56%/ trên giá trị tối đa, tăng 1.93% so với năm 2019. Ngân hàng nhà nước Việt Nam đứng đầu, với chỉ số 95,88%. Với chỉ số 83,24%, Bộ Giáo dục và Đào tạo đứng cuối. Phân tích giá trị trung bình của các chỉ số thành phần theo từng lĩnh vực cho thấy, có 5/7 chỉ số thành phần có giá trị trung bình tăng so với năm 2019 và có 2/7 chỉ số thành phần có giá trị trung bình giảm so với năm 2019, đó là các chỉ số thành phần “Cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước” và “Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức”. 
2. Các tỉnh, thành phố. Chỉ số CCHC 2020 của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt giá trị trung bình là 83.72%, cao hơn 2.57% năm 2019. Với chỉ số 91,04%, Quảng Ninh tiếp tục dẫn đầu, tỉnh Quãng Ngãi đứng cuối với chỉ số 73,25%. Phân tích các chỉ số thành phần cho thấy, giá trị trung bình của các chỉ số thành phần đều có sự cải thiện đáng kể; có 7/8 chỉ số thành phần có giá trị trung bình tăng cao hơn so với năm 2019. Đáng chú ý, năm 2020 có 6/8 chỉ số thành phần đạt giá trị trung bình trên 80%, trong khi năm 2019 có 5 chỉ số thành phần và năm 2018 chỉ có 3 chỉ số thành phần thuộc nhóm này. Chỉ số thành phần duy nhất có giá trị trung bình giảm là “Đánh giá tác động của CCHC đến người dân, tổ chức và các chỉ tiêu phát triển KT-XH tại địa phương”, đạt 70.25%, thấp hơn 7.64% so với năm 2019. Thực tế cho thấy, năm vừa qua do có sự tác động mạnh mẽ từ dịch bệnh Covid-19 nên hầu hết các địa phương đều đạt các chỉ số phát triển kinh tế - xã hội thấp hơn nhiều so với kỳ vọng, dẫn đến các tiêu chí đánh giá về nội dung này đạt tỷ lệ điểm rất thấp
Chỉ số SIPAS năm 2020 của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nằm trong khoảng từ 75.68% đến 95.76%, với giá trị trung vị (của tỉnh đứng giữa) là 85.17% so với giá trị tối đa. Quảng Ninh đứng đầu với chỉ số 95,76%; với chỉ số 75,68%, tỉnh Bình thuận đứng cuối. Theo đó, năm 2020, 84,71% người dân, tổ chức hài lòng về việc tiếp cận dịch vụ công nói chung; 88,45% người dân, tổ chức hài lòng về thủ tục hành chính nói chung; 86,53% người dân, tổ chức hài lòng về công chức nói chung; 89,73% người dân, tổ chức hài lòng về kết quả dịch vụ nói chung mà họ nhận được; 85,48% người dân, tổ chức hài lòng về sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước nói chung trong phạm vi cả nước.
3. Vùng TD&MNPB
Vùng có 14 tỉnh, giá trị trung bình chỉ số CCHC của vùng là 83,80%, cao hơn mức trung bình cả nước 0,08%. 10 tỉnh có giá trị cao hơn trung bình cả nước, 4 tỉnh thấp hơn. Cả nước có 2 tỉnh nhóm A, 56 tỉnh nhóm B và 5 tỉnh nhóm C. Vùng có 13 tỉnh thuộc nhóm B, 01 tỉnh nhóm C, không có tỉnh nhóm A. Có 01 tỉnh thuộc tốp 10 tỉnh dẫn đầu, 05 tỉnh thuộc tốp 20.
Chỉ số Sipas của vùng đạt giá trị trung bình 85,69%, cao hơn giá trị trung vị cả nước là 0,52%. Vùng so với cả nước: có 01 tỉnh/5 tỉnh thuộc nhóm cao nhất, 7 tỉnh/27 tỉnh thuộc nhóm tương đối cao, 5 tỉnh/24 tỉnh thuộc nhóm khá, 1tỉnh/7 tỉnh thuộc nhóm trung bình. Vùng có 2 tỉnh thuộc tốp 10, 4 tỉnh thuộc tốp 20.
Chỉ số CCHC, tỉnh Phú Thọ dẫn đầu vùng, Bắc Kạn đứng cuối. Chỉ số Sipas tỉnh Bắc Giang đứng đầu, tỉnh Cao Bằng đứng cuối.
4. Tỉnh Sơn La. Điểm CCHC của Sơn La đạt 84,84%, tăng 2,91%, thứ hạng tăng 3 bậc, từ vị trí 23 (2019) lên 20 (2020). Trong vùng TD&MKNPB, tỉnh Sơn La tiếp tục giữ vị trí thứ 5, sau Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Giang, Lào Cai. Chỉ số Sipas của Sơn La là 89,83%, giảm nhẹ so với năm 2019. Thứ hạng trong cả nước, giảm nhẹ 1 bậc, từ  từ vị trí thứ 5 xuống thứ 6, thứ hạng trong vùng giảm 01 bậc, từ vị trí dẫn đầu xuống thứ 2, đứng sau Bắc Giang.
 

Một số Biểu đồ

 

 
Biểu đồ các tỉnh vùng TD&MNPB
1. Chỉ số CCHH
 
 
2. Chỉ số Sipas
                                                                                                   

 

Số lần đọc : 155   Cập nhật lần cuối: 28/06/2021

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 11229781

Số người Onlne: 49

Thông tin doanh nghiệp