Nghiên cứu → Đa chiều

Các hình thức tổ chức kinh tế và mối liên kết trong sản xuất nông nghiệp ở Sơn La


 CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC KINH TẾ VÀ MỐI LIÊN KẾT

TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở SƠN LA

 
                        Phan Đức Ngữ
                     PCT Liên hiệp các hội KH&KT
 
          1. Sự chuyển mình của nông nghiệp.
          Nông nghiệp, Nông thôn Việt Nam từ khi đổi mới đến nay, đã có bước chuyển mình lịch sử, thoát khỏi sự trì trệ, khủng hoảng để phát triển nhảy vọt; Việt Nam từ chỗ thiếu ăn đã trở thành nước xuất khẩu lúa gạo hàng đầu thế giới, nhiều ngành hàng nông lâm thủy sản đã tạo lập được uy tính thương hiệu ở khu vực và thế giới. Tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam đã giảm nhanh chóng từ 50% hồi đầu những năm 1990 xuống còn 8,4% (2016). Giáo dục, y tế, văn hóa, xây dựng nông thôn mới khởi sắc.
          Nông nghiệp và nông thôn Sơn La cũng có bước phát triển vượt bậc. Từ chỗ thiếu đói triền miên, phải dựa vào cân đối và cứu trợ của Trung ương, Sơn La đã vươn lên tự cân đối được lương thực bằng tăng năng suất, sản lượng tại chố kết hợp với cơ chế thị trường; Đồng thời vốn rừng được bảo vệ tốt hơn, chuyển từ trạng thái giảm sút tỷ lệ độ che phủ rừng sang tăng ổn định tỷ lệ che phủ rừng. Nhiều ngành hàng khai thác lợi thế được phát huy (Chè, bò sữa, cà phê, cây ăn quả, rau hoa, thủy sản vùng lòng hồ, du lịch cộng đồng...). Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, từ 60% (đầu năm 90) xuống 29% năm 2016 (Theo tiêu chí mới). Bộ mặt nông thôn được cải thiện. Tái định cư thủy điện Sơn La trên quy mô lớn được bảo đảm ổn định và từng bước phát triển.
          2. Sự thay đổi căn bản hình thức tổ chức kinh tế đã tạo ra động lực.
          Sự thay đổi căn bản cơ cấu thành phần kinh tế và các hình thức tổ chức kinh tế đã tạo ra động lực to lớn để nước ta cũng như Sơn La phát triển kinh tế xã hội, phát triển nông nghiệp. Đó là sự chuyển đổi chiến lược từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu hành chính bao cấp sang kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập. Mô hình tổ chức sản xuất đã có sự chuyển đổi căn bản, chuyển từ doanh nghiệp nà nước và HTX là chính sang đa thành phần: Kinh tế nhà nước (bao gồm doanh nghiệp và phi doanh nghiệp), Kinh tế tập thể (HTX), tổ hợp tác, doanh nghiệp cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, trang trại (tiểu chủ), hộ nông dân tự chủ. Từ chỗ kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể chiếm tỷ lệ chi phối, đến nay (2015-207) cơ cấu kinh tế đã có sự thay đổi căn bản như sau:
          Cả nước: Đến tháng 5 năm 2017) cả nước gần 93 triệu dân, có hơn 500 ngàn DN (chỉ tính số DN đang hoạt động, không tính số DN đã giải thể và số DN ngừng hoạt động ). HTX có 20 ngàn cơ sở. Tổ hợp tác có 150 ngàn (chỉ tính số THT hoạt động theo đúng Nghị định 151/2007/NĐ-CP của Chính phủ). Hộ cá thể có gần 19 triệu hộ (công thương nghiệp có 5 triệu hộ, nông nghiệp 13,8 triệu hộ.). Trang trại có 33.500 trang trại nông lâm nghiệp, thủy sản.
          Cơ cấu GDP theo các thành phần kinh tế (2015): Kinh tế nhà nước (gồm doanh nghiệp và phi doanh nghiệp): 38, 61%; Kinh tế tập thể: 4,01%; Kinh tế Tư nhân 7,88%; Kinh tế cá thể (hộ tự chủ) 31,33%. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: 18,17%.
          Sơn La: Tình hình chung của Sơn La cơ bản cũng tương tự như cả nước. Doanh nghiệp cả tỉnh từ chố chỉ có mấy chục doanh nghiệp, hiện đã có trên 2000 doanh nghiệp (Đây là số liệu sở kế hoạch và Đầu tư. Số liệu Cục thống kê thấp hơn). HTX từ chỗ hàng ngàn cơ sở, nay có 343 đơn vị đang hoạt động, gồm 254 HTX dịch vụ nông nghiệp, chiếm 74,05%; các HTX phi nông nghiệp chiếm 25,95% (gồm 19 HTX công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, điện nước; 18 HTX xây dựng; 08 Quỹ tín dụng nhân dân;42 HTX thương mại, dịch vụ du lịch, quản lý chợ 02 HTX vận tải). Tổ hợp tác có 205, chủ yếu là trong nông nghiệp (155). Trang trại có 50 trang trại nông lâm nghiệp. Nông dân cá thể (hộ tự chủ) có gần 20 vạn hộ; kinh doanh công thương nghiệp có gần 2,8 vạn hộ.
          Kinh tế nhà nước (tính theo cơ cấu GDP): 36,83%; Kinh tế tập thể:0,24%; Kinh tế tư nhân: 16,47%; Kinh tế cá thể (hộ tự chủ) 45,80%. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 0,65%.
          3. Xu hướng tiến bộ.
          3.1. Doanh nghiệp, HTX, Trang trại, Hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi đều có xu hướng phát triển.
          Trong nền kinh tế tỉnh Sơn La, DN có xu hướng phát triển nhanh. Từ mấy chục doanh nghiệp vào những năm 80, đã tăng lên 350 doanh nghiệp (2005), hơn 700 doanh nghiệp (2010), hơn 2000 doanh nghiệp (2017). Doanh nghiệp nông lâm nghiệp thủy sản sau một thời gian giảm sút do chuyển đổi mô hình tôt chức hoặc giải thể, đến năm 2005 chỉ còn 20 đơn vị. Năm 2010 đã tăng lên 29 đơn vị và năm 2017 đã tăng lên 113 đơn vị. Nhiều ngành hàng chủ lực nông lâm nghiệp do doanh nghiệp phát huy được vai trò đầu tầu, tạo dựng được uy tín, thương hiệu, như Chè, Mía đường, bò sữa, ngô giống, rau hoa, thủy sản...
          - HTX sau một thời gian dài liên tục giảm sút, gần đây đã tăng khá, năm 2017 có 343 HTX, tăng 2,1 lần năm 2010. Từ năm 2010-2017 bình quân tăng 34 HTX/năm. Riêng 5 tháng đầu năm 2017, tăng 82 HTX, gồm 78 HTX NN, 4 HTX phi NN. Đã có 30 hợp tác xã cây ăn quả và 16 hợp tác xã rau củ, 5 HTX thủy sản
          - Kinh tế trang trại phát triển khá. Những năm 90, cả tỉnh Sơn La đã có gần 5 ngàn trang trại từ 02 ha trở lên. Năm 2010, do tiêu chí thay đổi, nâng lên, cả tỉnh còn 114 trang trại. Hiện nay, do tiêu chí tiếp tục thay đổi nên số trang trại giảm xuống. Mặt khác do thống kê chưa đầy đủ. Ví dụ, có nhiều hộ nuôi ong mật, nuôi ba ba gai hàng năm doanh thu 1-2 tỷ đồng, nhưng chưa được thống kê. Nếu trang trại hiểu theo nghĩa tiểu chủ hoặc sản xuất hàng hóa doanh thu cỡ trên dưới 1 tỷ thì số lượng khá lớn. Số hộ sản xuất kinh doanh giỏi tăng nhanh. Từ năm 2010-2016, cả tỉnh đã có hơn 2 ngàn lượt hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi cấp toàn quốc, gần 15 ngàn lượt hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi cấp tỉnh.
          3.2..Hình thức liên kết, tập trung đất đai, tập trung sản xuất đa dạng.
          a.Các hộ nông dân trực tiếp quản lý và sử dụng đất đai.
          Cùng với quá trình thu hẹp phạm vi và quy mô hoạt động của Hợp tác xã và doanh nghiệp nhà nước, đã xuất hiện nhiều loại hình và thành phần kinh tế. Trong nông nghiệp, chủ thể phổ biến nhất là hộ nông dân (20 vạn hộ, chiếm hơn 85% dân số toàn tỉnh), được nhà nước giao đất, giao rừng, làm chủ mảnh đất của mình.         Tuy nhiên, tính chất kinh tế hộ ngày nay khác với kinh tế cá thể. Số làm ăn đơn lẻ, thuần tuý cá thể chỉ có ở những vùng sâu, vùng xa tự cung tự cấp. Còn lại ở những vùng sản xuất hàng hoá nông dân thường tham gia vào các mối quan hệ kinh tế thị trường với các ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, các công ty chế biến, bao tiêu sản phẩm…
          Hình thức kinh tế hợp đồng giữa hộ nông dân với doanh nghiệp đã và đang trở thành phổ biến trong các ngành hàng bò sữa, bò thịt, chè, cà phê, sắn công nghiệp, mía và bông công nghiệp, rừng kinh tế…
          Một số hộ đã phát triển trở thành trang trại, có sử dụng lao động xã hội (gọi là tiểu chủ).
          b.Nông dân tham gia HTX
          -Hộ xã viên vẫn trực tiếp quản lý và sử dụng đất đại. Một loại HTX chỉ làm một phần dịch vụ đầu vào. Quan hệ giữa hộ xã viên và HTX là quan hệ hợp đồng đơn giản thông qua mua bán dịch vụ. Một loại HTX vừa dịch vụ đầu vào vừa dịch vụ đầu ra. Sản phẩm sản xuất theo tiêu chuẩn , HTX thống nhất cung ứng dịch vụ, chế biến, bao tiêu sản phẩm. Quan hệ giữa HTX và hộ xã viên trong khâu nông nghiệp là quan hệ hợp đồng. HTX chỉ quản lý thống nhất khâu chế biến, kinh doanh sản phẩm cuối cùng.
          - Hộ xã viên góp đất để sản xuất kinh doanh chung. Gần đây đã xuất hiện mô hình HTX nông dân góp đất để đầu tư nhà lưới, nhà kính, ứng dụng công nghệ cao, tổ chức sản xuất kinh doanh chung (như một số HTX rau sạch, rau an toàn)
          - HTX cổ phần. Có một số HTX, ngoài vốn điều lệ ra, các hộ xã viên đóng góp thêm vốn tuỳ khả năng, được chia lợi nhuận theo vốn và mức tiêu thụ dịch vụ. Có thể nói đây là loại hình HTX cổ phần. (Bàu cử thì theo đầu phiếu, còn lợi nhuận chia theo vốn góp có xu hướng tăng lên).
          c.Doanh nghiệp trực tiếp nắm đất, giao cho hộ công nhân sử dụng.
           Hộ công nhân sản xuất trên đất của doanh nghiệp, quan hệ với doanh nghiệp theo phương thức hợp đồng mua đứt bán đoạn (hộ công nhân mua dịch vụ của doanh nghiệp, bán sản phẩm cho doanh nghiệp), không còn chế độ tiền lương, nhưng công nhân có đóng góp cổ phần, vẫn duy trì chế độ bảo hiểm và tổ chức công đoàn. Doanh nghiệp vẫn nắm được sản phẩm để chế biến và kinh doanh, chia lãi theo cổ phần. Hình thức này phổ biến ở những ngành hàng mà các doanh nghiệp có nguồn gốc là doanh nghiệp nhà nước (như vùng bò sữa của Công ty giống bò sữa, vùng chè của các Công ty chè Môc Châu, vùng ngô của Công ty cổ phần Chiềng Sung, vùng ngô, chè Công ty cổ phần Tô Hiệu. …)
          d. Doanh nghiệp hợp đồng đầu tư trên đất của dân.    
          Quan hệ kinh tế là mua đứt bán đoạn. Doanh nghiệp cung ứng dịch vụ, bao tiêu sản phẩm theo hợp đồng. Nông dân không có quan hệ cổ phần và chia lợi nhuận. Riêng về tín dụng, nông dân vay trực tiếp của ngân hàng hay vay thông qua doanh nghiệp là tuỳ từng gia đoạn và dự án. Đây là hình thức hợp tác với nông dân của các doanh nghiệp nhà nước thành lập về sau như Công ty cà phê, cây ăn quả, Công ty mía đường, Công ty chè Sơn La (nay đã giải thể). Với hình thức này, doanh nghiệp nắm sản phẩm rất khó, nhất là khi bản thân doanh nghiệp cũng không giữ chữ tín. Vì vậy mà một số doanh nghiệp đã bị phá sản hoặc phải chuyển sang hình thức mua bán nợ. Nhưng kinh tế thị trường đã làm xuất hiện đối tác khác, vì vậy mà sản xuất của nông dân vẫn duy trì được.
          Gần đây xuất hiện một số hình thức quan hệ mới. Ví dụ, các nhà kinh doanh mặt hàng ngô trước đây chỉ thu gom sản phẩm, nhưng nay một số đã chuyển sang mua luôn cả nương ngô rồi thuê lại nông dân chăm sóc. Có nhiều chủ hàng cung ứng luôn ngô giống tiêu chuẩn cho nông dân.
          đ. Doanh nghiệp thuê đất của dân.
          Doanh nghiệp hợp đồng thuê đất của dân, thuê dân sản xuất và trả công lao động theo cơ chế thoả thuận. Quy trình sản xuất do doanh nghiệp điều hành. Sản phẩm là của doanh nghiệp. Hình thức này mới hình thành gần đây trong ngành trồng rau, trồng hoa chất lượng cao như trường hợp Công ty rau quả nhiệt đới và một số Công ty khác ở Mộc Châu, Thành phố Sơn La. Riêng ở Mộc Châu, các Công ty đã thuê đất của dân ở các khu vực Chiềng ly, Bó bun, Bản áng 180 ha. Trung tâm KHCN (Sở KH&CN) cũng thuê đất của dân. Mức thuê đất bằng giá trị 4-5 tấn ngô/năm. Nông dân trở lại làm việc cho doanh nghiệp vừa có thu nhập, vừa học tập được công nghệ mới để chuyển sang làm vệ tinh cho doanh nghiệp.
          e. Nông dân góp cổ phần bằng đất và trở thành công nhân.
           Gần đây, xuất hiện một hình thức mới, hiện đại hơn. Đó là nông dân góp đất để trở thành công nhân và cổ đông trong ngành hàng cao su. Người lao động được hưởng lương theo sản phẩm, được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các phúc lợi khác, và tương lai còn được chia lãi theo cổ phần. Nông dân có xu hướng ủng hộ mô hình này, vì họ không phải tách khỏi ruộng đất, tách khỏi làng bản. Hiện đã có trên 5 ngàn hộ tham gia, trong đó đã có gần 4 ngàn nông dân trở thành công nhân, gấp 5 lần số công nhân nông nghiệp còn lại của tỉnh từ trước tới nay. Khi Sơn La phát triển 5 vạn ha thì sẽ có thêm hàng vạn nông dân trở thành công nhân. Tỉnh Sơn La chủ trương khuyến khích nông dân góp vốn bằng đất để trở thành cổ đông, trở thành công nhân không những đối với các dự án đầu tư trong nông nghiệp mà cả trong các lĩnh vực khác. Đây là một điều kiện để các dự án đầu tư được hưởng ưu đãi của địa phương. Đây cũng là một cách giúp nông dân tiến lên sản xuất lớn nhanh nhất.
          Hiện nay ngành hàng cao su Sơn La đang gặp khó khăn do giá thị trường xuống thấp (gần đây đã được nhích lên). Thời gia xây dựng cơ bản kéo dài gấp 1,5 lần các nơi khác, năng suất mủ khai thác thử thấp so với mặt bằng chung. Cơ chế trả cổ tức theo vốn góp đang còn vướng mắc ...Nhưng giá trị và ý nghĩa của mô hình góp đất trở thành cổ đông, trở thành công nhân không thể phủ nhận.
          3.3. Ứng dụng tiến bộ KHCN, sản xuất theo tiêu chuẩn của thị trường.
          Sản xuất sạch theo tiêu chuẩn VietjGap, GloubGap, tham gia vào chuỗi giá trị, đăng ký tiêu chuẩn, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm là một xu hướng mới.Cả tỉnh đã xây dựng 18 chỗi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp an toàn ổn định, gồm 7 chuỗi rau, 02 chuỗi thịt lợn, 02 chuỗi thủy sản; đang xây dựng 10 chuỗi tiếp theo, gồm 8 chuỗi rau, 01 chuỗi quả, 01 chuỗi mật ong; một số điểm bán hàng nông sản an toàn được xây dựng và đang mở rộng.
          4. Một số vấn đề đặt ra.
          4.1. Tôn trọng quy luật khách quan, ý chí, nguyện vọng của doanh nghiệp, HTX và hộ dân.
          Trung ương đảng, cấp ủy địa phương trong từng giai đoạn đều có Nghị quyết về phát triển doanh nghiệp, kinh tế hợp tác, kinh tế hộ. Chính phủ và địa phương có đề án, chương trình phát triển HTX, khuyến khích doanh nghiệp, HTX đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp.
          Sơn La cũng đã đầu tư nhiều đề tài nghiên cứu về nông nghiệp ứng dụng CNC, mô hình HTX thủy sản, mô hình HTX dược liệu, các hình thức liên kết kinh tế trong nông nghiệp.
          Phát triển các loại hình tổ chức kinh tế, các hình thức liên kết kinh tế như trên đang là thực tế khách quan.
          4.2. Hiện thực hóa cơ chế, chính sách.
           4.2.1. Đối với doanh nghiệp, HTX.
          Hệ thống pháp luật, chính sách phát triển doanh nghiệp, HTX, trang trại khá đầy đủ, gồm 12 nhóm chính sách. Tỉnh Sơn La cũng có khá nhiều chính sách đặc thù để khuyến khích phát triển HTX, thu hút doanh nghiệp, HTX đầu tư vào nông nghiệp, khai thác lợi thế của địa phương.
          Nhưng thực tế, nhóm chính sách được HTX, trang trại, hộ nông dân tiếp cận nhiều nhất cũng mới được khoảng 3%, còn lại 0,2-1%. Riêng chính sách tín dụng ưu đãi, mới có 0,6% HTX tiếp cận được. Quỹ phát triển HTX mới được thành lập năm 2014, cũng rất ít HTX tiếp cận được. Các doanh nghiệp nhỏ, cũng như vậy, rất khó tiếp cận các chính sách, nhất là tín dụng ưu đãi
          Có vấn đề do bản thân cơ chế, chính sách chưa đồng bộ, có vấn đề do thủ tục hành chính chưa thuận lợi. Tất cả cần được rà soát, cải tiến.
          4.2.2. Đối với trang trại (tiểu chủ)
          Phát triển trang trại, các hộ nông dân tự chủ sản xuất kinh doanh giỏi là một xu hướng và khả năng thực tế của nông dân Sơn La. Tiêu chí để xác định trang trại đã nhiều lần thay đổi, làm cho việc thống kê khó khăn, số liệu của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn và số liệu của Cục thống kê rất khác nhau. Mặt khác, trang trại ở Sơn La hầu như chưa được hưởng chính sách khuyến khích, ữu đài gì mấy. Tỉnh cần vận dụng tiêu chí, cập nhật xu hướng để xác định danh mục các trang trại ở Sơn La, vận dụng để có cơ chế, chính sách bảo đảm cho chủ trang trại tiếp cận được trong thực tế.
          4.2.3. Các hộ nông dân tự cung tự cấp, tiểu sản xuất hàng hóa nhỏ lẻ.
          Trước mắt, cũng như lâu dài, một bộ phận nông dân Sơn La tham gia vào chuỗi liên doanh, liên kết với doanh nghiệp; Một bộ phận tham gia HTX; Một bộ phận tự trở thành doanh nghiệp hoặc tiểu chủ. Các xu hướng này cần tiếp tục được thúc đẩy, nhưng chủ yếu là ở các vùng có điều kiện sản xuất hàng hóa tương đối tập trung. Trong một thời gian dài, phần đông vẫn là hộ nông dân tự cung tự cấp, tiểu sản xuất hàng hóa nhỏ lẻ. Làm sao để họ trụ được, xóa được đói, giảm được nghèo, vươn lên khá? Như vậy, mô hình hộ nông dân tự cung tự cấp, tiểu sản xuất hàng hóa trong nền kinh tế thị trường là vấn đề đặt ra, cần được nghiên cứu
          4.2.4. Giải quyết lao động nông nghiệp
          Cơ cấu kinh tế Sơn La chuyển dịch khá nhanh. Tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ đã trên 70%, tỷ trọng nông nghiệp còn chưa đến 30% và đang có xu hướng giảm. Nhưng lao động nông nghiệp, nông thôn không giảm được mấy, vẫn đang ở mức rất cao, trên 80% (trong khi cả nước còn trên 45%). Đây là vấn đề đặt ra cần được giải quyết. Có lẽ ngoài thị thị trường lao động trong tỉnh, cần hướng tới thị trường các khu công nghiệp trong nước và thị trường nước ngoài. Vấn đề là tiêu chuẩn, chất lượng đào tạo nghề./
          

Số lần đọc : 3372   Cập nhật lần cuối: 06/07/2017

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 11063162

Số người Onlne: 31