Nghiên cứu → Doanh nghiệp - Sáng tạo

Bức tranh thị trường EDTECH Việt Nam (P1)


 

 

 

 

BỨC TRANH THỊ TRƯỜNG EDTECH VIỆT NAM (P1) 
Với khoảng 24 triệu học sinh, sinh viên, hơn 90% trong số này sử dụng điện thoại di động, máy tính hoặc laptop để phục vụ học tập, Việt Nam được xem là một thị trường rất tiềm năng cho công nghệ giáo dục.
 
Trong những năm gần đây, các Chính phủ trên thế giới đã đầu tư rất nhiều vào công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT) trong trường học. Do đó, chất lượng tài nguyên giáo dục của trường học, bao gồm cả CNTT-TT và kết nối, đã tăng lên rất nhiều. Tuy nhiên, có nhiều cáo buộc rằng việc áp dụng công nghệ kỹ thuật số trong trường học đã không mang lại kết quả tốt hơn với chi phí thấp hơn như kỳ vọng. Ví dụ, có một mối liên hệ yếu hoặc thậm chí tiêu cực giữa việc sử dụng CNTT-TT trong giáo dục và kết quả học tập của học sinh trong môn toán và môn đọc, ngay cả khi đã tính đến sự khác biệt trong thu nhập quốc dân và tình trạng kinh tế xã hội của học sinh và trường học.
Một phần lý giải cho điều này nằm ở việc tập trung chủ đạo vào phần cứng, công nghệ và kết nối, cả giữa các nhà cung cấp hàng hóa và dịch vụ và giữa các nhà hoạch định chính sách. Trường học và hệ thống giáo dục thông thường vẫn chưa sẵn sàng để nhận ra tiềm năng của công nghệ. Khoảng cách về kỹ năng kỹ thuật số, của cả giáo viên và học sinh, những khó khăn trong việc tìm kiếm tài nguyên học tập kỹ thuật số và phần mềm chất lượng cao giữa vô số tài nguyên và phần mềm chất lượng kém, thiếu mục tiêu học tập rõ ràng và không đủ sự chuẩn bị về mặt sư phạm để kết hợp các công nghệ một cách hiệu quả vào các bài học và chương trình giảng dạy, đã tạo ra một khoảng cách giữa kỳ vọng và thực tế.
Bất chấp những thách thức này, tiềm năng của việc sử dụng công nghệ kỹ thuật số để cải thiện chất lượng giáo dục và học tập không thể bị phủ nhận hoàn toàn. Một trong những cách dễ thấy nhất là thông qua sự phổ biến của E-learning, sự sẵn có và sử dụng các tài nguyên giáo dục mở và các hình thức khóa học mới (các khóa học trực tuyến mở đại chúng-OOCs) được cung cấp cho giáo viên, trường học và cá nhân tham gia vào quá trình học tập tự định hướng.
 
E-learning là sự đổi mới của thời đại kỹ thuật số đã thu hút được mức đầu tư mạo hiểm cao nhất cho đến nay. Nó cũng được cho là hứa hẹn một cuộc cách mạng trong ngành sư phạm, vì có thể tùy chỉnh, tự điều chỉnh nhịp độ và dựa trên vấn đề. Nó mở rộng việc học ra ngoài lĩnh vực của các hệ thống giáo dục chính thức, tạo điều kiện cho các chương trình đào tạo của công ty và học tập dành cho người lớn (hay đúng hơn là học tập suốt đời). Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, E-learning có tiềm năng chuyển đổi giáo dục từ xa và làm cho giáo dục trở nên toàn diện hơn, bằng cách tiếp cận những công dân có hoàn cảnh khó khăn và kém may mắn hơn.
Khái niệm Edtech
Edtech (công nghệ giáo dục), xét về mặt thuật ngữ và cấu trúc, có thể bao hàm hai thành phần cơ bản, đó là giáo dục và công nghệ. Tuy nhiên, Edtech là một khái niệm không tách rời giữa công nghệ và giáo dục mà nó là một thực thể đan xen để tạo ra một thị trường, một đại dương xanh mới.
Theo định nghĩa trước đây, Edtech được hiểu là việc áp dụng công nghệ để thúc đẩy giáo dục. Điều này đúng nhưng chưa đủ. Hiệp hội Truyền thông và Công nghệ giáo dục (AECT), định nghĩa Edtech là “tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập và cải thiện hiệu suất bằng cách tạo ra, sử dụng và quản lý các quy trình và tài nguyên bằng công nghệ thích hợp”. Các nhà giáo dục lại có cách hiểu đơn giản hơn nhiều về thuật ngữ này. Họ cho rằng Edtech là sự chuyển đổi việc dạy và học từ sách truyền thống sang dạng kỹ thuật số. Đối với họ, sự khác biệt chính nằm ở cách truyền tải kiến thức (nhờ đổi mới công nghệ) để việc giảng dạy trở nên hiệu quả hơn. Tóm lại, Edtech là một quá trình tích hợp công nghệ vào giáo dục để xây dựng trải nghiệm dạy/học tốt hơn, mang lại kết quả học tập cao hơn. Ví dụ, một số bệnh viện đang đào tạo các y tá mới bằng các khóa học an toàn trực tuyến sử dụng hình ảnh động.
Lịch sử ngành Edtech Việt Nam
Nghiên cứu về Edtech ở Việt Nam bắt đầu từ những năm 2000 dưới dạng hội nghị, hội thảo, sự kiện, chuyên đề và chủ yếu được áp dụng trong các trường đại học. Từ năm 2016, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có những thông tư hướng dẫn về phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong việc quản lý, tổ chức đào tạo trực tuyến, đánh dấu sự trỗi dậy về số lượng dự án và sản phẩm Edtech được đầu tư công lẫn đầu tư tư nhân với các hệ thống E-learning, chương trình đào tạo trực tuyến, số hóa nội dung, mã nguồn mở, trí tuệ nhân tạo,...
Đến năm 2019, đại dịch COVID-19 đã thúc đẩy toàn xã hội chuyển dịch và chấp nhận việc học tập trực tuyến. Các ứng dụng giáo dục đào tạo được cài đặt trên nhiều thiết bị di động thông dụng (M- learning), các khóa học tương tác thực tế ảo có thể diễn ra bất cứ nơi nào (U-learning), khóa học trực tuyến mở đại chúng (MOOC), khóa học trực tuyến tư nhân nhỏ (SPOC), công nghệ trí tuệ nhân tạo, thực tế ảo/ thực tế tăng cường, người máy, mô hình lớp học tương tác trực tuyến (live-class),. đã khắc phục được nhiều hạn chế của hình thức đào tạo truyền thống và được kỳ vọng đáp ứng được nhu cầu giáo dục và học tập tại Việt Nam. Năm giai đoạn phát triển của Edtech Việt Nam được trình bày trong Hình 1 dưới đây:


Hình 1. Năm giai đoạn phát triển Edtech của Việt Nam

Nguồn: Nguyễn Trí Hiển, Vietnam Edtech Overview, báo cáo trình bày tại Hội thảo Ứng dụng công nghệ 4.0 trong giáo dục - Edtech Festiaval 2021

 
 
Giai đoạn đầu tiên (2000-2004):  Khi Internet thâm nhập vào thị trường Việt Nam, một số trường học bắt đầu ứng dụng Edtech vào giảng dạy. Đây được coi giai đoạn sơ khởi và việc nghiên cứu và ứng dụng chủ yếu được thực hiện trong các viện trường. Đại học Xây dựng, Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học quốc gia Hà Nội, Đại học Mỏ địa chất là những đơn vị tiên phong ứng dụng Moodle vào giao bài tập về nhà cũng như ứng dụng một số hệ thống như Hot Potatoes và một số hệ thống khác để xây dựng những bộ câu hỏi trắc nghiệm hay sử dụng Camtasia để đưa một số hệ thống bài giảng vào môi trường giáo dục. Ở thời điểm này, hệ thống E­learning chủ yếu được các nhóm sinh viên làm đồ án và các thầy giáo hướng dẫn nghiên cứu để hỗ trợ đào tạo, quản trị đào tạo, chuyển giao tri thức trong trường đại học hiệu quả hơn.
Giai đoạn thứ 2 (2007-2008): Một số sản phẩm từ những công trình nghiên cứu khoa học của sinh viên và một số sản phẩm thực tế được tung ra thị trường. Các đơn vị đầu tiên đưa sản phẩm ra thị trường là HOCMAI, TOPICA, TruongXua, Kienthucviet. Thời điểm này chỉ có khoảng dưới 10 đơn vị có sản phẩm Edtech.
Giai đoạn thứ 3 (2010-2012):chương trình E­learning đã có thể sử dụng trên máy tính bảng và điện thoại thông minh. Các ứng dụng giáo dục mới ra đời và nội dung đào tạo tiếng Anh bắt đầu nhận được sự quan tâm của đông đảo người học. Đây là giai đoạn bùng nổ về số lượng các dự án và sản phẩm Edtech. Chỉ trong 2 năm, khoảng 200 sản phẩm Edtech được tung ra thị trường. Một số tên tuổi ra đời trong giai đoạn này là Hoc360, Kyna, vnEdu, Dream Viet Education Rockit Online đã đẩy mạnh làn sóng ứng dụng công nghệ vào giáo dục. Ở giai đoạn này, thị trường vẫn chưa sẵn sàng trả phí.
Giai đoạn thứ 4 (2015-2017): Thị trường Edtech tiếp tục phát triển nhanh chóng cùng với sự quan tâm mạnh mẽ của người tiêu dùng đối với các công nghệ tiên tiến như thực tế tăng cường, thực tế ảo, trí tuệ nhân tạo và trò chơi hóa. Các khóa học trực tuyến mở đại chúng bắt đầu trở thành một phân khúc thị trường mới và người dùng sẵn sàng trả phí cho các sản phẩm Edtech.
Giai đoạn 5 (từ năm 2020):  Đây là một cột mốc tạo ra sự bùng nổ mới, 1 đại dương xanh mới cho thị trường Edtech. Sự phát triển của thị trường E­learning Edtech tiếp tục được thúc đẩy bởi các yếu tố chính, bao gồm:
- Đại dch COVID lan rng đã thúc đẩy thtrường Edtech tạo nên sự đột phá vì tất cả mọi người đều hiểu đào tạo từ xa là gì hoặc ứng dụng hình thức dạy học qua Zoom và các hình thức dạy học khác;
- Nhu cu ngày càng cao vni dung đa phương tiện, các lựa chọn học tập tiết kiệm thời gian chi phí thấp;
- Các sáng kiến mnh mca Chính phtrong việc thúc đẩy khởi nghiệp và ứng dụng CNTT-TT;
- Hàng lot chính sách ca Chính phcũng như Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng tới việc phát triển giáo dục số.
 
Hình 2. Chính sách và quy định liên quan đến Công nghệ giáo dục


Hình 2. Chính sách và quy định liên quan đến Công nghệ giáo dục

       

        Chính sách và quy định của Chính phủ

Từ năm 2000, Chính phủ đã xác định rằng học tập trực tuyến có tiềm năng thúc đẩy sự tăng trưởng của nền giáo dục và đã ban hành một số chính sách để thúc đẩy sự phát triển của E-learning tại Việt Nam. Chỉ thị 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nêu rõ: “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học. Phát triển các hình thức đào tạo từ xa phục vụ cho nhu cầu học tập của toàn xã hội. Đặc biệt, tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ cho giáo dục và đào tạo, kết nối Internet tới tất cả các cơ sở giáo dục và đào tạo“. Thực hiện Chỉ thị trên, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành 2 chỉ thị: Chỉ thị 29/2001/CT-BGDĐT về việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục giai đoạn 2001-2005 và chỉ thị số 55/2008/ CT-BGDĐT về việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục giai đoạn 2008-2012.
Sau đó, Chính phủ đã ký một thỏa thuận với nhà khai thác viễn thông Viettel để cải thiện cơ sở hạ tầng CNTT-TT của hệ thống trường học, cung cấp truy cập Internet miễn phí (72% trong số đó là băng thông rộng) cho tất cả 29.500 trường học với hơn 26 triệu học sinh và giáo viên trong cả nước. Vào tháng 5 năm 2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo và Viettel đã ký Thỏa thuận giai đoạn 2 sử dụng cơ sở hạ tầng đã triển khai để tăng cường Giáo dục điện tử với nhiều ứng dụng CNTT-TT như Sách điện tử, Trường học điện tử, E-learning trong giai đoạn 2014-2020.
Việc triển khai E-learning trong hệ thống giáo dục ở Việt Nam vẫn chưa thực sự phát triển, phần lớn là do quá chú trọng vào phần cứng và còn nhiều nhầm lẫn giữa số hóa nội dung giáo dục và giáo dục trực tuyến. Chỉ đến khi khu vực tư nhân tham gia và chuyển hướng khu vực này, tập trung nhiều hơn vào người học và coi giáo dục ngày càng là một dịch vụ khách hàng mang lại lợi nhuận, thì thị trường E­learningở Việt Nam mới bắt đầu bùng nổ.
Năm 2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 19/2015/TT-BGDĐT về việc thay đổi quy chế văn bằng, bãi bỏ việc hiển thị các chương trình khác nhau và chấm dứt phân biệt đối xử giữa văn bằng chính quy và đào tạo từ xa. E-learning trở nên hấp dẫn hơn đối với những người muốn theo đuổi bằng cấp và các công ty Edtech tại Việt Nam đã ngay lập tức vươn lên để nắm bắt cơ hội.
Quyết định Số 117/QĐ-TTg ngày 25/01/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động day-học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2025” với mục tiêu tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin nhằm đẩy mạnh triển khai chính phủ điện tử, cung cấp dịch vụ công trực tuyến trong hoạt động quản lý điều hành của cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo ở trung ương và các địa phương; đổi mới nội dung, phương pháp dạy-học, kiểm tra, đánh giá và nghiên cứu khoa học và công tác quản lý tại các cơ sở giáo dục đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân góp phần hiện đại hóa và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.
Nghị định số 86/2018/NĐ-CPngày 6/6/2018 Quy định về hợp tác đầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục cho phép liên kết đào tạo trực tuyến và liên kết đào tạo trực tiếp kết hợp trực tuyến trình độ đại học, thạc sỹ và tiến sỹ. Do đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 38/2020/TT- BGDDT ngày 6/10/2020 quy định về liên kết đào tạo với nước ngoài trình độ đại học, thạc sỹ, tiến sỹ theo hình thức trực tuyến và trực tiếp kết hợp trực tuyến. Theo đó, Liên kết đào tạo trực tuyến là hình thức hợp tác giữa cơ sở giáo dục đại học nước ngoài và cơ sở đào tạo Việt Nam nhằm thực hiện chương trình đào tạo thông qua môi trường mạng và sử dụng CNTT-TT đa phương tiện để cấp văn bằng giáo dục đại học cho người học.
Chương trình “Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 3/6/2020 xác định giáo dục là lĩnh vực thứ 2 trong 8 lĩnh vực cần ưu tiên chuyển đổi số. Rất nhiều tỉnh đã thành lập công ty hỗ trợ chuyển đổi số như Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Phòng, Vĩnh Phúc.
Bộ Giáo dục và Đào tạo bắt đầu quan tâm hơn nữa đến hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ trong giáo dục. Ngày 15/9/2020, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư Số 32/2020/TT-BDGĐT Ban hành điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học cho phép học sinh học sinh các cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông có thể sử dụng điện thoại di động trong giờ học. Đây là bước tiến mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc sử dụng các nền tảng, các hệ thống, các thiết bị phục vụ cho quá trình dạy và học. Đặc biệt, ngày 20/3/2021, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư Số 09/2021/TT- BGDĐT quy định về quản lý và tổ chức dạy học trực tuyến trong cơ sở giáo dục phổ thông và cơ sở giáo dục thường xuyên. Thông tư đưa ra các quy định về hoạt động dạy học trực tuyến, kiểm tra, đánh giá trong dạy học trực tuyến, học liệu dạy học trực tuyến và quản lý và lưu trữ hồ sơ dạy học trực tuyến. Ngoài ra, còn có các Bộ khác như Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đều đã có các chính sách về nguồn vốn cho giáo dục thông minh, chuyển đổi số giáo dục./.
                                                                            Theo Nguyễn Lê Hằng
                                                                                               Bản tin Khởi nghiệp sáng tạo số 29/2021
 
Tài liệu tham khảo:
OECD (2016), Innovating Education and Educating for Innovation: The Power of Digital Technologies and Skills, OECD Publishing, Paris
Nguyễn Trí Hiển, Vietnam Edtech Overview, báo cáo trình bày tại Hội thảo Ứng dụng công nghệ 4.0 trong giáo dục - Edtech Festiaval 2021

 

 

Số lần đọc : 334   Cập nhật lần cuối: 06/09/2021

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 11669099

Số người Onlne: 27