Văn bản → Văn bản hệ thống Liên hiệp hội

Báo cáo Tình hình các Hội, Hiệp hội khoa học và kỹ thuật trên địa bàn tỉnh Sơn La


Tình hình các hội, hiệp hội Khoa học kỹ thuật trên địa bàn tỉnh. Quá trình vận động các hội, hiệp hội khoa học và kỹ thuật tiến tới thành lập Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Sơn La. Phương hướng, nhiệm vụ của Liên hiệp các hội Khoa học và kỹ thuật tỉnh Sơn La nhiệm kỳ 2010 – 2015

 

Phần thứ nhất.

Một số nét về tình hình các Hội, Hiệp hội KH & KTtrên địa bàn tỉnh Sơn La; Quá trình vận động thành lập Liên hiệp các Hội KH & KT tỉnh Sơn La.

 

              Đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thụât tỉnh Sơn La( bao gồm người có bằng trung cấp trở lên ) có trên 3,5 vạn người. Trong đó viên chức khoảng 2,3 vạn, tập trung chủ yếu ở ngành giáo dục 2 vạn, ngành y dược 3 ngàn; Công chức 2,3 ngàn; khối doanh nghiệp khoảng 1 vạn người. Bình quân mỗi năm tăng thêm khoảng 800 người. Cao đẳng và đại học có gần 2 vạn người. Có hơn 20 tiến sỹ, trên 300 thạc sỹ và tương đương.
            Tỉnh có 01 Trường Đại học Tây Bắc; 02 trường Cao đẳng, 03 trường trung học chuyên nghiệp. Các tổ chức khoa học và công nghệ của Trung ương đóng trên địa bàn có: Trung tâm khoa học Lâm nghiệp Tây Bắc, Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp. Tỉnh mới thành lập Trung tâm Ứng dụng và chuyển giao công nghệ trực thuộc Sở Khoa học và Công nghệ. Ngoài ra, có Trung tâm giống cây trồng và thuỷ sản, các Trung tâm Khuyến nông tỉnh, huyện, thành phố. Một số trung tâm phân tích, kiểm nghiệm, kiểm định, gần 30 trung tâm của các ngành y tế, giáo dục và đào tạo.
Các hội, hiệp hội khoa học và kỹ thuật được thành lập trong vòng 10 năm trở lại đây, mặc dù số lượng còn ít, còn gặp nhiều khó khăn, nhưng nhiều hội, hiệp hội vẫn tích cực hoạt động, đã có nhiều đóng góp cho việc phát triển kinh tế, văn hoá xã hội của tỉnh, được cấp uỷ và chính quyền ghi nhận.
 

I. Thực trạng của các Hội, Hiệp hội  khoa học và kỹ thuật
1. Hội Khoa học kinh tế tỉnh: 
Thành lập tháng 2.1993, đến nay đã có trên 270 hội viên với 17 chi hội, trong đó có 04 chi hội ở các huyện: Mộc Châu, Sông Mã, Mai Sơn, Thuận Châu. Kinh phí hoạt động của Hội được ngân sách tỉnh cấp 60 triệu đồng/năm. Thường trực Hội có 04 cán bộ chuyên trách ngoài biên chế, có chế độ phụ cấp không đáng kể.
Hoạt động chủ yếu của Hội: mỗi quý xây dựng một bản tin Khoa học kinh tế với khoảng 150 bản, nội dung chủ yếu là thông tin nghiên cứu khoa học, trao đổi kinh nghiệm, đề xuất các giải pháp, tư vấn các vấn đề về phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Về tổ chức nghiên cứu khoa học, hội đã đăng ký và thực hiện 3 đề tài cấp tỉnh, 3 cuộc hội thảo khoa học cấp tỉnh và nhiều cuộc hội thảo cấp ngành, qua đó đã góp phần tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, làm sáng tỏ các chủ trương, chính sách, các giải pháp của tỉnh về phát triển kinh tế - xã hội. Hội cũng có các hình thức nghiên cứu, phản biện xã hội, đề xuất đóng góp ý kiến để góp phần xây dựng các chương trình, các dự án kinh tế - xã hội cấp tỉnh, cấp ngành, cấp huyện, tổ chức một số cuộc nói chuyện chuyên đề, phổ biến kiến thức khoa học về kinh tế, bồi dưỡng nâng cao trình độ khoa học cho các hội viên.
2. Hội Dược học: 
Thành lập ngày 21.7.2001 do Trung ương Hội Dược học Việt Nam quyết định công nhận, hiện có 07 chi hội với 154 hội viên, thường trực hội đều kiêm nhiệm, không có chế độ phụ cấp. Kinh phí hoạt động chủ yếu từ các hội viên đóng góp. Hội đã bước đầu thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Hội là: tham gia tư vấn, phản biện, giám định xã hội đối với ngành nghề dược trong việc xây dựng và phát triển bộ phận dược, quản lý dược tư nhân, hội thảo các vấn đề về dược, cập nhật thông tin mới cho hội viên…
3. Hội Điều dưỡng:
Thành lập tháng 11.2001, có 17 chi hội với 565 hội viên chính thức, 900 hội viên danh dự, thường trực hội đều kiêm nhiệm, không có chế độ phụ cấp. Kinh phí hoạt động chủ yếu từ nguồn thu hội phí do hội viên đóng góp. Hội đã có một số hoạt động thiết thực để phát huy chức năng là giúp cho hội viên nâng cao trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp trong chăm sóc và phục vụ người bệnh.
            4. Hiệp hội Ngành nghề nông nghiệp, nông thôn:
Thành lập tháng 7.2002, Hội được thành lập trên cơ sở hợp nhất Hội nuôi ong, Hội làm vườn và Hội sinh vật cảnh. Bộ máy của Hội có bộ phận Thường trực gồm 03 cán bộ chuyên trách ngoài biên chế được hưởng phụ cấp và 9 cán bộ chuyên môn trong biên chế được hưởng chế độ như công chức, viên chức. Hiện nay Hội có 369 chi hội với 6.215 hội viên; Hội có trụ sở và được Nhà nước trang bị xe ô tô. Kinh phí được ngân sách tỉnh hỗ trợ trên dưới 300 triệu đồng/năm. Hội đã triển khai nhiều hoạt động: tổ chức cho cán bộ, hội viên tham gia sinh hoạt câu lạc bộ để nâng cao trình độ về làm vườn, nuôi ong, nuôi ba ba…, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống gia đình và tuyên truyền vận động nhân dân tích cực tham gia ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, làm kinh tế theo mô hình VAC…
5. Hội Khuyến học: 
Thành lập ngày 24.8.2002. Hội hiện có 201 chi hội với gần 140.000 hội viên. Thường trực Hội có 03 chuyên trách ngoài biên chế được hưởng chế độ phụ cấp và một số cán bộ chuyên môn trong biên chế được hưởng chế độ như công chức, viên chức. Hội có trụ sở và được nhà nước trang bị xe ô tô. Kinh phí hoạt động của Hội được ngân sách tỉnh hỗ trợ trên 250 triệu đồng/năm.
            Nhiệm vụ của Hội là tư vấn về sự nghiệp phát triển giáo dục, khuyến khích và hỗ trợ phong trào học tập nâng cao trình độ văn hoá, nghề nghiệp của mọi người trong nhà trường và  xã hội, xây dựng xã hội học tập.
Hội khuyến học tỉnh tương đối mạnh về hệ thống tổ chức ở cả 3 cấp tỉnh, huyện và cơ sở; Hội có quỹ khuyến học bằng nguồn hội phí và sự đóng góp của toàn dân và các doanh nghiệp. Hội có nhiều đóng góp trong quá trình hình thành và phát triển rộng khắp các trung tâm học tập cộng đồng và xây dựng xã hội học tập, gia đình hiếu học ở địa phương.
Hội là thành viên có uy tín, có đóng góp đáng kể trong công tác của Hội Khuyến học Việt Nam, được Hội Khuyến học Việt Nam đánh giá cao.
6. Hội Khoa học kỹ thuật về cầu đường: 
Thành lập ngày 22.7.2005. Hội hiện có 07 chi hội với 84 hội viên. Thường trực hội đều kiêm nhiệm, không được hưởng phụ cấp.
Nhiệm vụ của Hội là: tập hợp lực lượng khoa học kỹ thuật hoạt động trong lĩnh vực cầu đường để phát huy khả năng sáng tạo của hội viên; Tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học và kỹ thuật, trao đổi thông tin về thành tựu khoa học công nghệ cho hội viên và đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ về cầu đường.
            7. Hội Kiến trúc sư:
Thành lập ngày 19.10.2005, có 11 hội viên (08 hội viên chính thức, 03 hội viên danh dự). Thường trực Hội đều kiêm nhiệm, không có chế độ phụ cấp.
 Nhiệm vụ của Hội là thực hiện công tác nghiên cứu, lý luận và phê bình về kiến trúc, góp phần xây dựng phát triển nền kiến trúc Sơn La mang tính hiện đại, dân tộc; thực hiện chức năng tư vấn, giám định, phản biện về kiến trúc, quy hoạch xây dựng đô thị; tổ chức xây dựng đội ngũ kiến trúc sư, phát hiện, bồi dưỡng tài năng, nâng cao năng lực sáng tạo và kỹ năng nghề nghiệp cho kiến trúc sư trẻ.
8. Hội khoa học lịch sử: 
Thành lập tháng 12.2007, có gần 100 hội viên. Thường trực hội (Chánh, phó chủ tịch và thư ký) có 3 cán bộ kiêm nhiệm được hưởng chế độ phụ cấp, 1 Phó chủ tịch thường trực và 1 chuyên viên trong biên chế. Hội có trụ sở và được tỉnh uỷ trang bị xe ô tô.
            Nhiệm vụ của Hội là: Tham gia tư vấn, thẩm định và phản biện về khoa học lịch sử đối với các công trình, đề tài nghiên cứu của các cơ quan đảng, chính quyền, đoàn thể;
Đề xuất với Đảng, Nhà nước về các chủ trương, chính sách, chương trình, kế hoạch phát triển khoa học lịch sử, khoa học xã hội ở Sơn La.
Động viên quần chúng nhân dân tham gia công tác sưu tầm, bảo quản, bảo vệ tài liệu lịch sử, di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, tham gia nghiên cứu và biên soạn lịch sử địa phương, các ngành trong tỉnh.
Tuy mới thành lập, nhưng Hội khoa học lịch sử đang đảm nhiệm 2 đề tài khoa học cấp tỉnh và chủ trì biên tập 2 cuốn sách chính trị xã hội theo sự chỉ đạo của Ban thường vụ tỉnh uỷ (cuốn 40 năm Đảng bộ Sơn La thực hiện di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cuốn 50 năm Bác Hồ lên thăm Sơn La)

9. Hiệp hội các doanh nghiệp Sơn La.

            Thành lậpngày 27-2-2009. Đây là một tổ chức xã hội nghề nghiệp có vai trò tập hợp, liên kết, hỗ trợ và đại diện, nhằm tăng cường sức mạnh của cộng đồng các doanh nghiệp trong tỉnh để cùng tồn tại và phát trong nền kinh tế thị trường. Hiện nay, bộ phận thường trực của Hiệp hội đang kiêm nhiệm và có một số cán bộ giúp việc do Hiệp hội bố trí.
Qua một năm hoạt động, nhưng Hiệp hội đã thể hiện được uy tín, thu hút được sự quan tâm của cộng đồng doanh nghiệp.Từ 62 DN hội viên ban đầu, đến nay Hiệp hội đã phát triển lên gần 100 hội viên là những doanh nghiệp đầu đàn của tỉnh. Đã thành lập được Câu lạc bộ Nữ doanh nhân với 80 hội viên tham gia. Trong năm 2009, Hiệp hội đã mở được 3 lớp tập huấn cho các giám đốc, kế toán các doanh nghiệp: quản trị doanh nghiệp,doanh nhân giao tiếp và quản trị tài chính - quyết toán thuế; giúp cho các doanh nghiệp nâng cao kỹ năng phát triển vững mạnh hơn. Hiệp hội đã tạo điều kiện để các hội viên được tham gia các đoàn xúc tiến thương mại, tổ chức tham quan, khảo sát thị trường tại một số nước Châu Âu để học hỏi, tìm kiếm đối tác…. Bên cạnh đó, Hiệp hội còn thực hiện tốt công tác từ thiện xã hội, vận động các DN hội viên ủng hộ được 628 triệu đồng, xây dựng được 29 ngôi nhà tình thương và 6 phòng học THCS cho con em các dân tộc.
10. Chi hội khoa học về đất. 
Thành lập đầu năm 2009, gồm 20 hội viên. Là thành viên của Hội khoa học ngành đất đai. Đã bước đầu tham gia công tác tư vấn chuyên ngành, cập nhật trao đổi thông tin về tiến bộ khoa học kỹ thuật trong Chi hội.
 

            II. Đánh giá chung. 

Đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật của tỉnh tương đối đông và không ngừng tăng lên nhanh chóng cả trong khu vực hành chính, sự nghiệp và sản xuất kinh doanh; Trung thành với lý tưởng của đảng, tin tưởng tuyệt đối vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, vào sự nghiệp đổi mới do đảng khởi xướng. Có trình độ, năng lực, tâm huyết, có đóng góp to lớn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Các tổ chức khoa học và công nghệ tuy còn ít, nhưng cũng từng bước hình thành. Các tổ chức hội chuyên ngành phần lớn mới được gây dựng, phát triển còn chậm và chưa đều trong các ngành, lĩnh vực. Phần lớn hội viên phong trào, tập trung ở Hội khuyến học và Hội ngành nghề. Nếu thuần tuý hội viên cán bộ khoa học kỹ thuật thì còn ít (mới thu hút chưa được 5%).

 

            Trong số 10 Hội chuyên ngành thì có 04 hội được nhà nước hỗ trợ kinh phí. Trong đó 01 Hội có lãnh đạo chuyên trách trong biên chế, 03 Hội có lãnh đạo chuyên trách ngoài biên chế; 03 hội có cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ trong biên chế; Hiệp hội doanh nghiệp tự bố trí cán bộ chuyên môn giúp việc.06 hội khác có cán bộ thường trực kiêm nhiệm, không có chế độ phụ cấp, không có cán bộ giúp việc.
Hầu hết các hội đang nhờ trụ sở của các ngành. Có 03 hội được tỉnh uỷ, UBND tỉnh trang bị phương tiện ô tô.
Về hoạt động đã có 05 hội duy trì được hoạt động thường xuyên là Hội Khuyến học, Hội Khoa học kinh tế, Hội Ngành nghệ nông nghiệp và nông thôn, Hội Khoa học Lịch sử, Hiệp hội các Doanh nghiệp. Hoạt động và đóng góp của những hội này được tỉnh uỷ, UBND tỉnh ghi nhận, được các tổ chức Hội Trung ương đánh giá cao. Đặc biệt, Hiệp hội các Doanh nghiệp mới ra đời nhưng có tiềm năng và triển vọng hoạt động tốt, còn một số hội hoạt động còn nhiều khó khăn.
Việc ra đời của các Hội, Hiệp hội là một sự cố gắng lớn của những người tiên phong, nhiệt tình, tâm huyết. Tuy là một tỉnh nghèo, còn nhiều khó khăn, nhưng một số hội lớn bước đầu đã được tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh quan tâm hỗ trợ về tổ chức, biên chế, kinh phí, trụ sở, phương tiện làm việc. Nhân dịp Đại hội này, chúng ta bày tỏ sự trân trọng và cảm ơn các tổ chức hội và các hội viên tiên phong đã đặt nền móng để cho tổ chức Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật của tỉnh ra đời.
 

III. Quá trình vận động tiến tới thành lập Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật  tỉnh Sơn La.
Từ nhiều năm nay, Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương, cơ chế chính sách khuyến khích, tạo điều kiện để thành lập, phát triển các hội chuyên ngành và Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật. Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật được Đảng và Nhà nước công nhận là tổ chức chính trị - xã hội của giới trí thức khoa học và công nghệ.
 Trung ương Đảng đã có chủ trương tăng cường tổ chức và đẩy mạnh hoạt động của hệ thống tổ chức Hội trung ương và địa phương. Cụ thể, Trung ương đã có Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 11.11.1998 của Bộ Chính trị; Thông báo số 145-TB/TW ngày 9.7.2004 của Ban Bí thư; Thông báo số 104-TB/VPTW ngày 9.7.2007 của Văn phòng Trung ương Đảng vê ý kiến của đồng chí Trương Tấn Sang, Uỷ viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư về Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật…;
Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính Phủ) đã có quyết định số 121/HĐBT ngày 29-7-1983 cho phép Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam thành lập và hoạt động. Chính phủ đã có Nghị định số 88/2003/NĐ-CP ngày 30.7.2003 Quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý Hội. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có Chỉ thị số 14/2000/CT-TTg ngày 01.8.2000 về triển khai thực hiện các biện pháp nhằm đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam;
Bộ Nội vụ đã có Hướng dẫn số 180/BNV-TCPCP ngày 25.8.2003 về việc tạo cơ chế, chính sách để Liên hiệp hội Trung ương và Liên hiệp hội tỉnh hoạt động có hiệu quả. Bộ Tài chính cũng đã có văn bản hướng dẫn về một số chế độ tài chính đối với Liên hiệp hội;
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã có văn bản số 370/HD-LHH ngày 15.4.2005 về hướng dẫn thành lập Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, thành phố.
Liên hiệp hội Trung ương được thành lập từ năm 1983. Đến nay đã có gần 70 hội ngành trung ương và gần 60 Liên hiệp hội địa phương với gần 1 triệu hội viên. Toàn hệ thống có hơn 400 tổ chức khoa học công nghệ. Liên hiệp hội các cấp đã có nhiều hoạt động thiết thực, vận động, đoàn kết giới trí thức, tuyên truyền phổ biến kiến thức KH&CN, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tham gia tư vấn, phản biện xã hội, đóng góp xây dựng chủ trương, cơ chế chính sách lớn của đảng và nhà nước.
Cả nước hiện nay chỉ còn một số ít tỉnh chưa thành lập Liên hiệp hội và hiện cũng đang khẩn trương xúc tiến việc thành lập.
Ở tỉnh ta, trong quá trình vận động, khuyến khích phát triển các hội, hiệp hội  chuyên ngành, đến nay điều kiện đã chín muồi, được sự quan tâm của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh về việc thành lập Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật, để Liên hiệp hội trở thành một tổ chức chính trị - xã hội của giới trí thức khoa học và công nghệ; Làm đầu mối giữa các hội thành viên với các cơ quan Đảng, Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc tỉnh, với Liên hiệp Hội Trung ương trong công tác tập hợp, vận động trí thức, phát huy sự cống hiến của trí thức trong tỉnh.
Tỉnh uỷ đã có chủ trương thành lập Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật tỉnh từ năm 2008. Thể hiện ở Báo cáo số 306-BC/TU ngày 18 tháng 11 năm 2008 việc thực hiện Chỉ thị 45-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá VIII) về công tác Liên hiệp Hội; Báo cáo số 312-BC/TU ngày 01-12 -2008 về tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 2(khoá VIII) về khoa học - công nghệ; Chương trình số 18-CT/TU ngày 03-12-2008 về thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (phần về xây dựng đội ngũ trí thức);
Đầu năm 2008, Đoàn cán bộ của Đảng Đoàn Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam, do đồng chí Nguyễn Hữu Tăng, Phó chủ tịch, Bí thư Đảng đoàn làm trưởng Đoàn lên làm việc với Tỉnh uỷ và UBND tỉnh Sơn La. Tỉnh Sơn La đã thống nhất sớm thành lập Liên hiệp hội cấp Tỉnh. Và Sở khoa học và công nghệ được giao nhiệm vụ chuẩn bị đề án thành lập Liên hiệp hội trình Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, UBND tỉnh.
Sở Khoa học và Công nghệ đã tích cực chuẩn bị đề án cả về nội dung và nhân sự. Trong quá trình chuẩn bị đề án, Sở khoa học và công nghệ đã tranh thủ được sự tư vấn, giúp đỡ của Liên hiệp hội Trung ương. Liên hiệp hội Trung ương đã có công văn trao đổi với tỉnh uỷ, UBND tỉnh Sơn La về quy trình thành lập Liên hiệp hội cấp tỉnh. Sở Khoa học và Công nghệ cũng đã đi nghiên cứu tìm hiểu mô hình tổ chức và kinh nghiệm hoạt động của một số Liên hiệp hội các tỉnh bạn ( như Phú Thọ, Yên Bái, Hoà Bình…). Đã làm việc trực tiếp và trao đổi công văn với các hội chuyên ngành, với nhiều sở, ban, ngành, đoàn thể, tổ chức khoa học và công nghệ trong tỉnh. Đã tham mưu xây dựng báo cáo của Tỉnh uỷ tổng kết 10 năm về các hội chuyên ngành trong tỉnh. Qua làm việc với các Hội chuyên ngành, các Hội đều mong muốn và sẵn sàng tham gia tổ chức Liên hiệp hội. Các Hội chuyên ngành và nhiều sở, ban, ngành tích cực cử cán bộ tham gia Ban Chấp hành lâm thời và chủ động tham gia ý kiến về nhân sự Đại hội. Trước khi trình đề án ra Tỉnh uỷ, UBND tỉnh, Sở Khoa học và Công nghệ đã tổ chức tư vấn liên ngành với Ban Tổ chức tỉnh uỷ, Ban Tuyên giáo tỉnh uỷ, Sở Nội vụ, Sở Tư pháp. Hội nghị tư vấn liên ngành đã nhất trí cao và bổ sung các ý kiến để hoàn thiện Đề án thành lập Liên hiệp hội.
Đề án đã được Ban Thường vụ tỉnh uỷ thông qua vào tháng 11.2009; Ban Thường vụ đã ra Nghị quyết về chủ trương thành lập Liên hiệp hội và nhất trí giới thiệu danh sách Ban Chấp hành lâm thời của Liên hiệp hội; Giao Ban Tổ chức Tỉnh uỷ thông báo để UBND tỉnh và các sở, ban, ngành liên quan thực hiện. Ban Tổ chức Tỉnh uỷ đã có Thông báo số 691-TB/BTCTU ngày 24.11.2009 về Nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ để UBND tỉnh triển khai về mặt nhà nước và Thông báo số 691-TB/BTCTU gửi Sở Khoa học và Công nghệ để biết và thực hiện.
Ngày 13.01.2010, UBND tỉnh đã ra Quyết định số 99/QĐ-UBND tỉnh về việc cho phép thành lập Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật tỉnh, ngày 26.02.2010 ra Quyết định công nhận Ban Chấp hành lâm thời của Liên hiệp hội, giao nhiệm vụ cho Ban Chấp hành lâm thời chuẩn bị và tiến hành Đại hội theo đúng quy định của nhà nước.
Triển khai thực hiện Nghị quyết của Ban Thường vụ tỉnh uỷ và Quyết định của UBND tỉnh, Ban Thường vụ lâm thời của Liên hiệp hội đã xây dựng và trình Thường trực Tỉnh uỷ, Thường trực UBND tỉnh kế hoạch tổ chức đại hội; Phương án nhân sự có sự điều chỉnh cho phù hợp với sự thay đổi trong công tác tổ chức cán bộ của tỉnh.
Được Thường trực Tỉnh uỷ nhất trí về kê hoạch tổ chức đại hội và phương án nhân sự chính thức, Ban Thường vụ, Ban Chấp hành lâm thời Liên hiệp hội đã chuẩn bị và thông qua Báo cáo, Điều Lệ để trình Đại hội; Chương trình Đại hội, phân bổ chỉ tiêu đại biểu; Phân công các tiểu ban phục vụ Đại Hội; dự trù kinh phí trình Thường trực UBND tỉnh…
Sau khi hoàn tất các công việc chuẩn bị, Đại hội Liên hiệp hội lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2010-2015 đã được triệu tập, ngày 15.5.2010, Đại hội đã chính thức khai mạc tại Hội trường Tỉnh uỷ.
 

Nhân dịp này, Đại hội chúng ta thay mặt đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ toàn tỉnh xin trân trọng cảm ơn về sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo  của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh đối với việc thành lập và tổ chức Đại hội Liên hiệp hội; Trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của Liên hiệp hội Trung ương, của các sở, ban ngành, đoàn thể tỉnh; Đặc biệt hoan nghênh và cảm ơn sự sự hưởng ứng và tham gia tích cực của các Hội, Hiệp hội chuyên ngành.

 

 

Phần thứ hai. 

Mục tiêu, nhiệm vụ của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Sơn La,  

nhiệm kỳ 2010 - 2015

  

 Nhiệm kỳ I ( 2010-2015) là nhiệm kỳ đầu tiên vừa triển khai công việc, vừa hoàn thiện bộ máy của Liên hiệp hội. Bên cạnh thuận lợi, sẽ có nhiều khó khăn, vừa hoạt động vừa rút kinh nghiệm. Thuận lợi rất cơ bản là, ngày 16.4.2010, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng tiếp tục có Chỉ thị số 42-CT/TW về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Liên hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Bộ Chính trị xác định, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam có hệ thống từ Trung ương đến các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, là tổ chức chính trị - xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; Có chức năng tập hợp đoàn kết và phát huy trí tuệ của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam trong và ngoài nước, góp phần đưa khoa học và công nghệ trở thành động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Phát triển Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ. Nhà nước bảo đảm kinh phí và điều kiện hoạt động cho Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam ở Trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như các tổ chức chính trị xã hội khác….tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, với tinh thần phấn khởi tiếp thu quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng, Ban Chấp hành lâm thời trình ra Đại hội mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu của Liên hiệp các hội khoa học và Kỹ thuật tỉnh Sơn La nhiêm kỳ 2010-2015 như sau:  
 

I. Mục tiêu
1. Mục tiêu tổng quát :
 Là hình thành, củng  cố tổ chức chính trị- xã hội của giới trí thức khoa học công nghệ; Hoàn thiện một bước bộ máy, từng bước triển khai và mở rộng hoạt động chuyên môn; Tăng cường thu hút, tập hợp, vận động giới trí thức khoa học và công nghệ phát huy sự cống hiến góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; Tạo lập được các điều kiện để Liên hiệp hội phát triển mạnh hơn trong giai đoạn tiếp theo.
             2. Mục tiêu cụ thể:
Hình thành tổ chức Liên hiệp hội, xây dựng và hoàn thiện bộ máy Liên hiệp hội cả về tổ chức, biên chế, quy chế làm việc, trụ sở, phương tiện làm việc;
Cũng cố các Hội, Hiệp hội chuyên ngành đã có, duy trì và nâng cao được chất lượng hoạt động. thành lập được ít nhất 5 hội, 10-15 chi hội ở các ngành và huyện, thành phố;
Duy trì và phát triển thêm 5-10% hội viên. Riêng hội viên là trí thức khoa học và công nghệ, gấp 1,5- 2 lần hiện nay;
Từng bước triển khai đi vào nề nếp các hoạt động chuyên môn: thẩm định, giám định, nhất là phản biện xã hội; Tổ chức hội thi sáng tạo khoa học kỹ thuật, các hội thi chuyên đề; Xuất bản được ấn phẩm tạp san và trang Website điện tử của Liên Hiệp hội, tạo tiền đề tiến tới xuất bản tạp chí của Liên hiệp hội; Đề xuất, đăng ký chủ trì một số đề tài, dự án khoa học công nghệ và chuyển giao một số tiến bộ khoa học công nghệ; Tổ chức hội thảo khoa học; Tuyên truyền phổ biến kiến thức trên các phương tiện thông tin đại chúng.
 

II. Nhiệm vụ chủ yếu.
Để đạt được các mục tiêu trên, trong nhiệm kỳ 2010-2015, Liên hiệp hội cần triển khai các nhiệm vụ chủ yếu như sau:

1. Phát triển tổ chức, tập hợp, thu hút, tuyên truyền, giáo dục, vận động giới trí thức khoa học và công nghệ

a. Hoàn thiện bộ máy của Liên hiệp hội tỉnh.
Sau đại hội, Liên hiệp hội tỉnh sẽ trình Ban thường vụ tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh về bộ máy và biên chế. Bộ phận thường trực Liên hiệp hội chủ yếu là kiêm nhiệm hoặc chuyên trách ngoài biên chế. Nhưng ít nhất cần 01 Tổng thư ký chuyên trách trong biên chế. Văn phòng Liên hiệp hội tối thiểu 5 người (01 nhân viên đảm nhiệm công việc kế toán kiêm đánh máy, văn thư, lưu trữ, tạp vụ và tham gia một số công việc chuyên môn; 01 chuyên viên kiêm chánh văn phòng, giúp việc thường trực Liên hiệp hội về  công tác tổ chức và phong trào; 01 chuyên viên giúp việc về công tác phản biện, thẩm định, giám định xã hội; 01 chuyên viên giúp việc tổ chức các hội thi chuyên đề và hội thi sáng tạo khoa học kỹ thuật; 01 chuyên viên có trình độ biên tập và công nghệ thông tin để trực tiếp giúp việc biên tập, xuất bản bản tin, trang Web và quản trị mạng).
Ban chấp hành xây dựng và thông qua quy chế làm việc, phân công cụ thể từng chức danh trong bộ máy. Liên hiệp hội có các tiểu ban. Khi có điều kiện có thể thành lập một số đơn vị trực thuộc.
Đồng thời với việc trình về bộ máy và biên chế, Liên hiệp hội sẽ trình phương án, cơ chế nhà nước hỗ trợ kinh phí, trụ sở, phương tiện làm việc đối với hoạt động của Liên hiệp hội, nhất là trong giai đoạn đầu mới thành lập.

b. Cũng cố và phát triển các tổ chức hội. 
 Các hội khuyến học, hội ngành nghề, Hội lịch sử, Hội khoa học kinh tế có tổ chức bộ máy, biên chế tương đối vững, có số hội viên đông, có công việc tương đối ổn định, cần được phát huy. Còn lại các hội khác như Hội khoa học kỹ thuật về cầu đường, Hội khoa học về đất, Hội kiến trúc sư, Hội Điều dưỡng, Hội dược học, Hiệp hội các doanh nghiệp đều cần được cũng cố. Duy trì tốt chi hội nòng cốt và cũng cố các chi hội yếu, những nơi có điều kiện thì phát triển thêm một số chi hội mới.
Thành lập mới một số hội chuyên ngành ở các ban, ngành, huyện, thành phố, nhất là ở những ngành có tổ chức hội ngành dọc trung ương. Như Hội tin học mà đầu mối là ngành thông tin và truyền thông. Hội tiêu chuẩn và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, đầu mối là Chi cục tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng, thuộc sở khoa học và công nghệ. Hội bảo vệ môi trường, Hội y học cổ truyền. Một số hội chuyên ngành ở ngành giáo dục đào tạo, Trường đại học Tây Bắc, Trường cao đẳng Sơn La….; Ban liên lạc đội ngũ trí thức người Sơn La tại Hà Nội…Các hội , chi hội khoa học và kỹ thuật cấp thành phố, cấp huyện.
Phấn đấu đến năm 2015, duy trì và phát triển thêm 5-10% hội viên các hội chuyên ngành; Riêng hội viên là trí thức khoa học công nghệ thu hút được hơn 2.500 - 3.000 hội , gấp 1,5 - 2 lần so với hiện nay ( chưa kể hội viên phong trào của hội khuyến học và hội ngành nghề… ). Mức thu hút này còn thấp, mới được khoảng 300 hội viên/năm, trong khi cán bộ khoa học kỹ thuật của tỉnh tăng trên 800 người/ năm. Trên cơ sở đúc rút kinh nghiệm hoạt động của Liên hiệp hội, cũng cố và từng bước nâng cao chất lượng các hội chuyên ngành, những năm sau có thể phát triển và thu hút nhiều hội viên hơn.
Tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước trong giới trí thức khoa học và công nghệ. Vận động giới trí thức khoa học và công nghệ học tập nâng cao trình độ, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phát huy trí tuệ phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, khoa học công nghệ ở địa phương.
 Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của giới trí thức khoa học và công nghệ, nhất là quyền sở hữu trí tuệ, quyền đề xuất, đóng góp ý kiến về chủ trương, cơ chế chính sách phát triển khoa học công nghệ, sử dụng đội ngũ trí thức. Phối với với các ngành chức năng đề xuất với cấp có thẩm quyền tôn vinh, khen thưởng, cho đi tham quan, nghiên cứu, học tập trong và ngoài nước… đối với những trí thức có nhiều thành tích. Tạo điều kiện nâng cao trình độ nghề nghiệp, góp phần cải thiện đời sống tinh thần, vật chất của giới trí thức khoa học và công nghệ.
 

2. Công tác chuyên môn.

a. Tổ chức tư vấn, phản biện và giám định xã hội. 

Chính phủ đã có Quyết định số 22/2002/QĐ-TTG ngày 30.01.2002 về hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, các hội ngành Trung ương và Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, thành phố. Tư vấn là hoạt động trợ giúp về tri thức, kinh nghiệm, cung cấp các thông tin, tư liệu cùng các ý kiến phân tích, đánh giá và kiến nghị trong việc đề xuất, xây dựng hoặc thẩm định, phê duyệt đề án. Phản biện là hoạt động cung cấp các thông tin, tư liệu cùng các ý kiến phân tích, đánh giá tính khả thi và các kiến nghị về sự phù hợp của nội dung đề án đối với mục tiêu và các điều kiện ràng buộc ban đầu hoặc thực trạng đặt ra. Giám định xã hội là hoạt động theo dõi việc thực hiện đề án, đưa ra các ý kiến phân tích, đánh giá và kiến nghị kịp thời về việc tổ chức thực hiện, mục tiêu, nội dung hoặc chất lượng đề án. 
Tổ chức tư vấn, phản biện, giám định xã hội là một trong những chức năng và nhiệm vụ chủ yếu của Liên hiệp hội, đồng thời cũng là công việc khó, đòi hỏi phải có trình độ, năng lực, phương pháp và phải có khuôn khổ pháp lý. Trên cơ sở quy định của Chính phủ,  cần nghiên cứu xây dựng và trình Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Quy chế tư vấn phản biện, giám định xã hội của Liên hiệp hội. Xác định rõ danh mục các vấn đề, nội dung, hình thức, quy trình tổ chức tư vấn, phản biện và giám định xã hội.
Trước mắt, chủ động đề xuất, tham gia ý kiến về nội dung đại hội đảng các cấp, nhất là về lĩnh vực khoa học công nghệ và đội ngũ trí thức. Tham gia ý kiến về các chương trình, đề án, dự án lớn về phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, của các ngành.
Đề xuất, cử các chuyên gia tham gia các hội đồng tuyển chọn danh mục đề tài, dự án khoa học công nghệ cấp tỉnh, tuyển chọn tổ chức và cá nhân chủ trì thực hiện, tổng kết, nghiệm thu đề tài, dự án, tham gia thẩm định công nghệ và đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư.
Tuỳ yêu cầu từng thời gian, thành lập các hội đồng, các tiểu ban để phục vụ cho công tác tư vấn , giám định , phản biện xã hội, tổ chức hội thi sáng tạo khoa học và kỹ thuật. Các uỷ viên ban chấp hành tham gia vào các hội đồng, các tiểu ban; Các hội đồng và các tiểu ban có quy chế hoạt động riêng.
 

b. Nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất và đời sống.
Hàng năm Liên hiệp hội và một số Hội chuyên ngành tổ chức nghiên cứu 1-2 đề tài khoa học công nghệ cấp tỉnh và 2-3 cuộc hội thảo khoa học cấp tỉnh. Phối hợp với Liên hiệp hội Trung ương để tham gia một số phần việc nghiên cứu liên quan đến miền núi, dân tộc. Đặc biệt chú ý những vấn đề cần điều tra xã hội học, những vấn đề trực tiếp phục và hoàn thiện vụ chủ trương, cơ chế, chính sách của tỉnh, của Trung ương.  
Các hội chuyên ngành và các chi hội tham gia nghiên cứu và hội thảo khoa học cấp ngành, cấp cơ sở.
Tổ chức Hội thi sáng tạo khoa học kỹ thuật và các hội thi chuyên đề khác. Khi thành lập Liên hiệp hội, Liên hiệp hội sẽ đề xuất cùng với Sở Khoa học và Công nghệ trình UBND tỉnh chuyển chức năng tổ chức Hội thi sáng tạo khoa học kỹ thuật từ Sở Khoa học và Công nghệ sang Liên hiệp hội đảm nhiệm. Đây là một nhiệm vụ quan trọng cần phải được đặc biệt quan tâm để thúc đẩy phong trào sáng tạo trong giới trí thức và người lao động ở các cấp, các ngành, các doanh nghiệp. Liên hiệp hội có trách nhiệm chủ trì và phối hợp cùng sở khoa học và công nghệ, Liên đoàn Lao động Tỉnh, Tỉnh đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, cơ quan báo chí và nhiều ngành khác để tuyên truyền, vận động, hướng dẫn phong trào.
Đồng thời với việc tổ chức các hội thi sáng tạo khoa học và kỹ thuật, các hội thi chuyên đề, hàng năm, Liên hiệp hội phối hợp với Liên đoàn lao động tỉnh và sở khoa học và công nghệ xét đề nghị cấp Bằng Lao động sáng tạo; Phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, Hiệp hội các doanh nghiệp tổ Hội thi thắp sáng thương hiệu Sơn La nhằm thúc đẩy phong trào tôn vinh uy tín thương hiệu, phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp.
Định kỳ hàng năm, phối hợp với các ban, ngành liên quan tham mưu cho Tỉnh uỷ, HĐND, UBND, UB Mặt trận Tổ quốc tỉnh gặp gỡ để động viên, tôn vinh các cán bộ khoa học kỹ thuật, trí thức tiêu biểu.
 

 c. Phổ biến kiến thức khoa học công nghệ trong đồng bào các dân tộc.
Hàng năm, phối hợp tổ chức trình diễn, xây dựng mô hình để chuyển giao một số tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
Hàng năm biên tập xuất bản 4 - 6 số bản tin của Liên hiệp hội và xuất bản, cập nhật trang Web của Liên hiệp hội. Tuyên truyền 4 - 6 số chuyên đề trên các phương tiện thông tin đại chúng (Truyền hình, Báo Sơn la…).
 

3. Hợp tác trong nước và quốc tế.

 

Liên hiệp hội Sơn la làm tốt trách nhiệm là thành viên của Liên hiệp hội Việt nam và Mặt trận tổ quốc tỉnh. Tranh thủ sự chỉ đạo, hướng dẫn,giúp đỡ của Liên hiệp hội Trung ương, đồng thời tham gia tích cực vào các hoạt động của hệ thống tổ chức hội.
Tăng cường quan hệ trao đổi, học hỏi kinh nghiệm và hợp tác về những vấn đề liên quan với các Liên hiệp hội trong khu vực Tây Bắc và các tỉnh, thành phố khác..
Thông qua Liên hiệp hội Trung ương và các ngành chức năng của tỉnh, tranh thủ sự hợp tác với một số tổ chức quốc tế trong lĩnh vực khoa học và công nghệ.
 

III. Giải pháp
1. Thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, Điều lệ, quy chế làm việc, phát huy sự cống hiến của đội ngũ trí thức, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương. Thực hiện phương thức làm việc dân chủ, cởi mở, hợp tác, đoàn kết, khoa học, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Đề cao tính chủ động, sáng tạo, tự thân vận động. Đồng thời tranh thủ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, giúp đỡ của tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh, Liên hiệp hội Trung ương, sự phối hợp của các hội thành viên, sự phối hợp của các cấp, các ngành, nhất là Sở khoa học và công nghệ, Liên Đòan Lao động tỉnh, Tỉnh Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Liên hiệp hội thanh niên, sinh viên tỉnh. Tìm hiểu, trao đôỉ học tập các Liên hiệp hội có nhiều kinh nghiệm và thành tích.
2. Sớm xây dựng và trình Tỉnh uỷ, HĐND, UBND về bộ máy, biên chế và cơ chế hỗ trợ của tỉnh về kinh phí và phương tiện làm việc đối với Liên hiệp hội. Thu hút được một số cán bộ chuyên môn có trình độ, năng lực giúp việc ở Văn phòng Liên hiệp hội.
Xây dựng và thực hiện tốt quy chế làm việc của ban chấp hành Liên hiệp hội, phân công rõ công việc của từng uỷ viên BCH, uỷ viên Ban thường vụ, Chủ tịch và các Phó chủ tịch, Tổng thư ký, phát huy chức trách của Thường trực, Tổng thư ký, Ban thường vụ, các uỷ viên, các tiểu ban và Văn phòng Liên hiệp hội.
3. Hàng năm xây dựng kế hoạch hoạt động và kinh phí hỗ trợ từ nguồn ngân sách trình UBND tỉnh phê duyệt theo quy định của nhà nước. Đồng thời chủ động tìm các nguồn vốn khác để phục vụ cho công tác chuyên môn, nhất là thông qua nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế. Từng bước tạo lập nguồn kinh phí hoạt động ổn định vừa có thể phục vụ cho công tác chuyên môn, vừa có thể hỗ trợ cho các hội chuyên ngành, thù lao thêm cho các chức danh theo quy định của nhà nước.
Sớm nghiên cứu trình Tỉnh uỷ, HĐND, UBND về phương án thành lập Quỹ sáng tạo khoa học và kỹ thuật, huy động nhiều nguồn vốn tham gia tài trợ, đóng góp.
4. Khảo sát, có phương án cụ thể để cũng cố và phát triển có trọng tâm các hội và chi hội. Trước hết là cũng cố các hội, chi hội có đông đội ngũ trí thức. Phát triển các Hội đã có hệ thống Hội ngành dọc. Có hình thức làm việc với lãnh đạo các ban, ngành để giúp đỡ, tạo điều kiện cho các hội chuyên ngành duy trì và nâng cao được chất lượng hoạt động.
5. Tăng cường công tác tuyên truyền về hoạt động của Liên hiệp hội, các hội, chi hội, tuyên truyền về ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật. Sớm ra đời ấn phẩm tạp san và trang Wesite điện tử của Liên hiệp hội để tập hợp ý kiến, trao đổi, chia sẻ của giới trí thức trong tỉnh.
6. Quan tâm công tác thi đua khen thưởng. Giúp đỡ thiết thực các hội và chi hội. Phối hợp với các ngành chức năng đề xuất với cấp có thẩm quyền tôn vình , khen thưởng xứng đáng những tổ chức và cá nhân có nhiều thành tích trong nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ.
7. Chú trọng tổng kết, đúc rút kinh nghiệm về phương thức làm việc, nội dung hoạt động trong Ban chấp hành, Ban thường vụ, thường trực Liên hiệp hội, giữa Liên hiệp hội với các hội chuyên ngành.
Việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ trong nhiệm kỳ đầu của Liên hiệp hội sẽ có không ít khó khăn, đòi hỏi sự nổ lực, phấn đấu cao. Chúng ta được Tỉnh uỷ, HĐND, UBND quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện, được Liên hiệp hội Trung ương giúp đỡ; Được các Hội thành viên ủng hộ, tham gia tích cực, các sở, ban, ngành, giới trí thức khoa học công nghệ quan tâm. Tin tưởng chúng ta sẽ phấn đấu hoàn thành tốt mục tiêu, nhiệm vụ đề ra.

Số lần đọc : 2275   Cập nhật lần cuối: 19/06/2012

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 10923819

Số người Onlne: 55