Nghiên cứu → Khoa học - Công nghệ

Đạo văn trong nghiên cứu KH&CN


ĐẠO VĂN TRONG NGHIÊN CỨU KH&CN

                                                                                                    Phan Đức Ngữ
          1. Thế nào là đạo văn trong nghiên cứu KH&CN
Theo Công ước Berne tháng 10 năm 2004 mà Việt Nam gia nhập,  Luật sở hữu trí tuệ, Luật dân sự của nước ta thì quyền tác giả được nhà nước bảo hộ. Các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ gồm 02 nhóm: Nhóm sao chép, lưu hành, sử dụng với mục đích thương mại phải xin phép, phải trả thù lao và phải được sự đồng ý của tác giả (Chủ yếu là tác phẩm  văn học, nghệ thuật, âm nhạc...). Nhóm sao chép, lưu hành, sử dụng để nghiên cứu, giảng dạy, không phải với mục đích thương mại (chủ yếu là các công trình khoa học, kể cả bài báo khoa học)  thì không phải xin phép, nhưng phải chú dẫn rõ nguồn. Nếu không thực hiện đúng như vậy thì việc sao chép, lưu hành, sử dụng là vi phạm bản quyền, tác giả có quyền khởi kiện.
Trong tiếng Việt còn có từ đạo văn chỉ việc ăn cắp bản quyền  tác phẩm văn học nghệ thuật, âm nhạc, công trình khoa học.(Sau đây xin đề cập riêng lĩnh vực KH&CN).  Ăn cắp bản quyền thấp nhất là ăn cắp câu văn, hoặc đoạn văn, số liệu; cao hơn là ăn cắp bố cục, ý tưởng, nội dung quy trình công nghệ; cao nhất là ăn cắp toàn bộ công trình, sáng chế, giải pháp hữu ích... Trên thế giới, có nước quy định sự tương đồng 5% nội dung là đạo văn; Có nước quy định 10-20% là đạo văn (Họ có phương pháp sàng lọc khoa học để phát hiện mức độ tương đồng).
          Việt Nam chưa có quy định cụ thể về mức độ đạo văn trong lĩnh vực KH&CN. Nghị định mới nhất Quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan (Nghị định Số: 131/2013/NĐ-CP) cũng mới quy định áp dụng cho lĩnh vực văn học nghệ thuật. Một số trường đại học chủ động quy định sự tương đồng 20% trở lên là đạo văn (cao hơn khung của một số nước).
          2. Các hình thức và mức độ đạo văn trong nghiên cứu KH&CN
          Đạo văn trong nghiên cứu khoa học ở Việt Nam là khá phổ biến, có thể nói là phổ biến hơn trong lĩnh vực văn học nghệ thuật. Đạo văn phổ biến nhất là trong việc làm luận văn của giới sinh viên. Cách đây chưa lâu, ngày 29/5/2015,  hội thảo toàn quốc về "Liêm chính học thuật" lần đầu tiên đã được tổ chức tại trường ĐH Hoa Sen (TP HCM), thu hút  hơn 20 trường tham gia. Các trường đã chia sẻ thông tin về mức độ đạo văn của sinh viên. Nếu lấy mức tương đồng 20% thì trên 70% sinh viên là có đạo văn.
          Đạo văn trong giới học viên cao học làm luận án thạc sỹ, tiến sỹ cũng không ít. Vào mạng là thấy rất nhiều bài viết  về tình trạng này. Buồn nhất là học viên cao học lại đi đạo văn của sinh viên, tiến sỹ đi đạo văn của thạc sỹ... Sinh viên đi làm luận án thuê cho thạc sỹ, tiến sỹ. Trên mạng, trước cổng trường nhiều trường đại học, viện nghiên cứu đào tạo có quảng cáo, có cò mồi  dịch vụ làm luận văn, luận án... 

 

          Đạo văn trong việc viết sáng kiến để xét danh hiệu thi đua.  Theo quy định  tại Nghị định 13/2012/NĐ-CP ngày 02 tháng 3 năm 2012của Chính phủ về việc ban hành Điều lệ sáng kiến, thì sáng kiến phải có tính mới, tức là những thông tin liên quan chưa bộc lộ trong sách báo, tài liệu ở mức độ có thể bắt chước. Mặt khác, đã được áp dụng hoặc áp dụng thử tại cơ sở và có khả năng mang lại lợi ích thiết thực. Nhưng thực tế việc báo cáo và xét công nhận sáng kiến trong khu vực sản xuất kinh doanh thì thiết thực hơn, còn khu vực hành chính sự nghiệp bị lạm dụng, bị lạm phát, nhất là trong ngành giáo dục-đào tạo. Tình trạng "đạo văn", thật giả, vàng thau, lẫn lộn. Hàng vạn sáng kiến kinh nghiệm chấm, nghiệm thu xong…cất tủ, chẳng ứng dụng được và cũng chẳng ai quan tâm ứng dụng. Ngày 31/12/2015, Bộ GĐ-ĐT ban hành Thông tư số 35/2015/TT-BGDĐT v/v Hướng dẫn công tác thi đua, khen thưởng ngành Giáo dục. Theo đó, có một số điểm mới về áp dụng tiêu chuẩn xétDanh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở”  và Danh hiệu "Chiến sỹ thi đua cấp Bộ".Cụ thể, một trong những tiêu chí hàng đầu lâu nay là "sáng kiến" cấp cơ sở, cấp bộ, thì nay các thành tích tương ứng cũng được áp dụngđể thay cho sáng kiến. 
          Đạo văn trong nghiên cứu  KH&CN dưới hình thức đề tài, dự án KH&CN trong khu vực công lập là vấn đề cần được quan tâm hơn cả. Vì dù sao, các loại đạo văn nói trên chủ yếu là vi phạm tiêu chuẩn liêm chính. Còn đạo văn trong nghiên cứu KH&CN khu vực công lập  không những vi phạm tiêu chuẩn liêm chính, mà còn làm thiệt hại không ít tiền của của nhà nước và nhân dân. Có ý kiến cho rằng, đây cũng là một hình thức tham nhũng.  
          Suy cho cùng, sản phẩm của đề tài, dự án KH&CN hoặc là tri thức hữu dụng mới, hoặc công nghệ hữu dụng mới, hoặc cả hai. Tri thức mới để nâng cao sự  hiểu biết,  thúc đẩy tư duy phát triển trong một lĩnh vực nào đó.  Công nghệ mới để ứng dụng làm ra sản phẩm, tạo việc làm và thu nhập. Nếu báo cáo có dài hàng trăm trang mà không cung cấp được tri thức mới, không tạo ra được công nghệ mới thì chả khác gì đạo văn, có khi lại tiêu tốn hàng nhiều trăm triệu đồng, thậm chí nhiều tỷ đồng của nhà nước.
          Về cụ thể, đạo văn trong nghiên cứu KH&CN khu vực công lập thể hiện  dưới nhiều cấp độ khác nhau.
          Đạo văn phổ biến nhất là sao chép câu văn, đoạn văn không ghi rõ nguồn. Thậm chí là sao chép một phần nội dung của tác giả khác làm của mình. Hoặc xáo xào của nhiều tác giả, chứ không có gì mới. Nếu Việt Nam áp dụng tỷ lệ tương đồng 10-20% là đạo văn như nhiều nước, thì  đạo văn trong nghiên cứu KH&CN ở Việt Nam chắc là vào loại nghiêm trọng.
          Trùng lặp nhiệm vụ KH&CN giữa các cấp, các ngành không tránh khỏi dẫn đến đạo văn. Đây là một cách đạo văn hợp pháp (vì nhiệm vụ nào cũng được cấp có thẩm quyền phê duyệt).  Trong những trường hợp như vậy, từ ý tưởng, bố cục  cho đến hành văn  vấn đề nghiên cứu cơ bản giống nhau, chỉ khác là số liệu đưa vào khác nhau. Tổ chức, cá nhân nghiên cứu sau đạo văn của  tổ chức, cá nhân nghiên cứu trước. Hoặc cùng một tổ chức, cá nhân nghiên cứu vấn đề tương tự ở nhiều địa phương khác nhau thì lần nghiên cứu sau tự đạo văn của lần nghiên cứu trước.
          Đối với đề tài, dự án KH&CN trong lĩnh vực kỹ thuật,  hình thức đạo văn nghiêm trọng nhất là  ăn cắp quy trình công nghệ.  Đó là việc sử dụng  quy trình công nghệ của người khác đã được thương mại hóa, được chuyển giao ứng dụng, sau khi thêm bớt, chỉnh sửa đôi chút để biến thành của mình để nghiệm thu, thanh toán. Phân tích chứng nhận các chỉ tiêu của sản phẩm sản xuất thử nghiệm cũng là một vấn đề. Mục tiêu của đơn vị chủ trì và chủ nhiệm đề tài, dự án KH&CN công lập là sản phẩm đạt các chỉ tiêu để nghiệm thu. Trong môi trường cạnh tranh không lành mạnh, để thu hút khách hàng, các tổ chức làm nhiệm vụ dịch vụ chứng nhận rất dễ chiều theo yêu cầu của  khách hàng. Có những đề tài khoa học trong lĩnh vực công nghệ thông tin, sản phẩm chính là phần mềm, chủ nhiệm đề tài đi thuê người khác xây dựng trọn gói. Thậm chí có trường hợp chủ nhiệm đi thuê trọn gói để người khác thực hiện đề tài giống như hình thức cai. Nhà nước chưa có quy định rạch ròi về các trường hợp này, nhưng theo chúng tôi đây cũng là hình thức đạo văn.
          Đối với đề tài, dự án KH&CN trong lĩnh vực Khoa học xã hội và Nhân văn, rất dễ bị đạo văn ở phần điều tra xã hội học và phần kiến nghị đề xuất. Điều tra xã hội học rất dễ bị hợp lý hóa ở khâu nhận thực hiện hợp đồng thuê khóan chuyên môn theo đầu phiếu. Còn việc đề xuất, kiến nghị  rất dễ đi sao chép cơ chế, chính sách, giải pháp đã có của Trung ương và địa phương, thậm chí còn chung chung hơn cơ chế, chính sách, giải pháp đã có.
          III. Nguy cơ và hệ lụy của việc gia tăng đạo văn trong nghiên cứu KH&CN.
          Đạo văn trong nghiên cứu KH&CN ở nước ta (hiểu theo  nghĩa rộng từ làm luận văn, luận án,  báo cáo sáng kiến, thực hiện đề tài, dự án KH&CN các cấp)  đã tương đối phổ biến và có nguy cơ tiếp tục gia tăng. Có hai nhóm nguyên nhân.
          Một là, do đặc trưng của nhóm đối tượng  bản quyền. Chỉ có sáng chế, giải pháp hữu ích mới có giá trị chuyển nhượng, mới bắt buộc đăng ký bảo hộ quyền sỡ hữu trí tuệ.  Còn các công trình KH&CN thuộc nhóm đối tượng có bản quyền, nhưng không bắt buộc phải  đăng ký. Khác với các tác phẩm văn học, nghệ thuật, nhất là tác phẩm âm nhạc,  việc khai thác sử dụng chủ yếu mục đích thương mại, nên phải xin phép và phải trả thù lao bản quyền, còn đối với các công trình KHCN, việc khai thác, sử dụng  chủ yếu là để nghiên cứu, giảng dạy, nên không cần xin phép, miễn là chú dẫn rõ nguồn. Nhưng người Việt, từ bậc học phổ thông đến bậc đại học, thậm chí học viên cao học, nghiên cứu viên  chưa được trang bị  đầy đủ kiến thức, kỹ năng khai thác, sử dụng tài liệu tham khảo sao cho đúng quy định. Xã hội Việt Nam  cũng đang bị lệch chuẩn nhiều thứ, kể cả liêm chính học thuật. Xã hội chưa thực sự đề cao liêm chính học thuật, thậm chí coi đạo văn là chuyện  bình thường, chấp nhận và không lên án mạnh mẽ. Cả người có công trình và người đạo văn công trình đều không quan tâm nhiều đến việc tranh chấp bản quyền.
          Hai là, do nhà nước thiếu chế tài cụ thể. Nhà nước mới có quy định về việc vi phạm bản quyền và các hình thức xử lý (phạt hành chính) trong lĩnh vực văn học nghệ thuật. Trong lĩnh vực này cũng đã có các tổ chức bảo vệ bản quyền, bảo vệ quyền lợi của tác giả. Còn trong lĩnh vực nghiên cứu KH&CN, Nhà nước chưa có quy định về việc vi phạm bản quyền và xử lý như thế nào. Cả nước có hàng trăm trường đại học, hàng trăm viện nghiên cứu và rất nhiều tổ chức KH&CN, nhưng  mới có một số đơn vị có quy định nội bộ về việc đạo văn và hình thức xử lý. Còn Bộ KH&CN, Bộ GD&ĐT và các bộ chuyên ngành có nhiều đề tài, dự án KH&CN đều chưa có quy định. Về mặt danh nghĩa, cũng chưa có tổ chức nào đứng ra bảo vệ quyền tác giả trong lĩnh vực KH&CN như là trong lĩnh vực Văn học &Nghệ thuật.
          Đối với nghiên cứu KH&CN trong khu vực công lập,  nguy cơ đạo văn còn nghiêm trọng hơn là có căn nguyên khác. Đó là, nghiên cứu KH&CN trong khu vực công lập do nhà nước đầu tư và nắm sản phẩm (chiếm 80% đầu tư và sản phẩm KH&CN của xã hội). Các tổ chức KH&CN và nhà khoa học quan tâm là làm sao kết quả được nghiệm thu để bàn giao cho nhà nước. Họ quan tâm  chủ yếu đến thu nhập trong quá trình nghiên cứu, chứ không quan tâm nhiều đến  bản quyền (về pháp lý là thuộc quyền sở hữu của nhà nước), cũng không quan tâm nhiều đến sản phẩm có giá trị thương mại, giá trị chuyển nhượng ra sao.
          Đề tài, dự án KH&CN các cấp, nghiệm thu xong  rất ít được xuất bản như tác phẩm văn học, nghệ thuật, âm nhạc, nên rất khó để cho cộng đồng khoa học và cả xã hội kiểm soát về mức độ đạo văn. Ngay cả việc công bố kết quả nghiên cứu dưới hình thức bài báo khoa học cũng không bắt buộc, có thì được cộng điểm khi nghiệm thu. Việc đăng ký tiến bộ kỹ thuật hay cao hơn là  sáng chế, giải pháp hữu ích cũng không bắt buộc, nếu có thì được cộng điểm. Nhưng theo quy định hiện hành của Bộ KH&CN, điểm của hai mục này( bài báo khoa học và đăng ký  sở hữu trí tuệ) tối đa cũng chỉ có trên 10 điểm/100 điểm. Có nghĩa, không có hai sản phẩm quan trọng hàng đầu này thì  cũng không sao, kết quả vẫn có thể được nghiệm thu (vì chỉ cần đạt 70 điểm/100 điểm), thậm chí vẫn có thể đạt loại khá (80 điểm -dưới 90 điểm).
          Đạo văn trong nghiên cứu KH&CN khu vực công lập  nghiêm trọng và có nguy cơ phát triển nhất là cấp tỉnh, thành phố. Một mặt vì Đề tài, dự án KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước ở địa phương chỉ có cấp tỉnh, số lượng rất lớn, chiếm hơn 50% số lượng đề tài, dự án các cấp trong cả nước. Mặt khác, các hội đồng KH&CN ở địa phương là hội đồng thời vụ, không chuyên nghiệp, không có điều kiện tra cứu, nắm bắt tư liệu, thông tin để đối chiếu như ở cấp nhà nước hay cấp bộ chuyên ngành. Các sản phẩm đề tài, dự án KH&CN cấp tỉnh, thành phố chỉ được nghiệm thu mà hầu như không được công bố, nên không bị áp lực kiểm soát của cộng đồng khoa học và xã hội.
          Hậu quả  thì đã rõ.  Cán bộ KH&CN Việt Nam  thì nhiều (Thạc sỹ trên 10 vạn,  Tiến sỹ trên 2,5 vạn); Nghiên cứu  cũng nhiều (chỉ riêng nhà nước đầu tư mỗi văm trên dưới 2000 đề tài các cấp, với kinh phí trên 3000 tỷ đồng. Nhưng đã đạo văn thì không đủ điều kiện và cũng không dám công bố khoa học. Có lẽ vì vậy mà công bố khoa học  của Việt Nam  ít, nhất là công bố trên các tạp chí có uy tín của thế giới (so với các nước). Sản phẩm công nghệ, tiến bộ kỹ thuật trong nước cũng ít. Bằng sáng chế thuần Việt càng ít. (Mấy năm gần đây, tuy có chuyển biến, nhưng bằng sáng chế đăng ký tại Việt Nam chủ yếu là của người nước ngoài, chiếm 90%, còn của người Việt chỉ có trên dưới 200 bằng, chiếm 10%). Đáng lưu ý là, các công bố khoa học và bằng sáng chế chủ yếu là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu tự do, còn đề tài, dự án KH&CN do nhà nước đầu tư  rất ít sản phẩm được công bố trên các tạp chí có uy tín, rất ít sản phẩm được đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ dưới hình thức sáng chế.
          Nguy hại hơn là cả xã hội và  một bộ phận không nhỏ các nhà khoa học  bị tha hóa, ngộ nhận sai lệch về tính nghiêm túc của nghiên cứu KH&CN. Người ta thấy nghiên cứu KH&CN không đến nỗi khó, tìm kiếm thu nhập trong nghiên cứu KH&CN khu vực công lập càng không đến nỗi khó. Hàng năm, ở các cấp, các ngành  người ta đua nhau đề xuất và đăng ký chủ trì hàng ngàn đề tài khoa học. Nhưng sản phẩm tri thức mới, công nghệ mới đều không có mấy ...       
          IV. Đôi điều bàn luận.
          Để cho nghiên cứu KH&CN ở các cấp, các ngành nước ta có chất lượng, hiệu quả  thì một trong  nhữnggiải pháp  không thể thiếu là kiểm soát, kìm hãm, tiến tới làm giảm tệ nạn đạo văn trong nghiên cứu.
          -Trước hết, diễn đàn báo chí, diễn đàn chuyên môn cần tăng cường tuyên truyền cổ vũ cho liêm chính học thuật. Trong nội bộ các tổ chức KH&CN và cơ quan quản lý KH&CN cũng cần đưa nội dung liêm chính học thuật vào sinh hoạt chính trị của tổ chức đảng, cơ quan, công đoàn. Tăng cường phát hiện, phanh phui, lên án các vụ đạo văn trong nghiên cứu KH&CN.  Xây dựng thế hệ trẻ  có tâm thế sáng tạo, nói không với đạo văn trong nghiên cứu KH&CN.
          - Hướng dẫn kỹ lưỡng học sinh, sinh viên, học viên, nghiên cứu viên về  kỹ năng sử dụng, khai thác các tài liệu tham khảo theo đúng quy định. Cần phổ biến ứng dụng phầm mềm để kiểm soát mức độ tương đồng trong nghiên cứu KH&CN.
          - Nhà nước cần có quy định về việc đạo văn (vi phạm bản quyền) và hình thức xử lý trong nghiên cứu KH&CN. Các trường đại học, viện nghiên cứu, tổ chức KH&CN  cũng cần có quy định nội bộ. Ví dụ, đạo văn  như thế nào thì không được bảo vệ luận văn tốt nghiệp đại học, không được bảo vệ luận án thạc sỹ, tiến sỹ, không được nghiệm thu đề tài, dự án KH&CN. Trách nhiệm của các hội đồng nghiệm thu, nhất là Chủ tịch hội đồng và các ủy viên phản biện  khi phát hiện đề tài, dự án được nghiệm thu có đạo văn.
          - Tái cơ cấu đầu tư cho nghiên cứu KH&CN, giảm tỷ lệ đầu tư của nhà nước, tăng tỷ lệ đầu tư của xã hội, nhất là của các doanh nghiệp, của tư nhân.  Xóa bỏ tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào ngân sách. Tiếp tục đổi mới  cơ chế quản lý đối với nhiệm vụ do nhà nước đầu tư dưới hình thức đặt hàng: Kết quả nghiên cứu do nhà nước đầu tư cần bắt buộc công bố dưới hình thức bài báo khoa học; sản phẩm đăng ký dưới hình thức tiến bộ kỹ thuật, sáng chế, giải pháp hữu ích (đối với nhiệm vụ thuộc lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ); Dưới hình thức dự thảo đề án trình cấp có thẩm quyền (đối với  nhiệm vụ  KH&CN  vụ phục vụ hoạch định chủ trương, cơ chế, chính sách hoặc  tiêu chuẩn, quy chuẩn...). Điểm của các mục này cần được nâng lên  nhiều so với hiện nay. Thậm chí không nghiệm thu nếu không thực hiện được các mục này, hoặc thực hiện không đạt yêu cầu do đạo văn./.
          

Số lần đọc : 1923   Cập nhật lần cuối: 11/08/2016

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 3767272

Số người Onlne: 67