Nghiên cứu → Đa chiều

Đại hội XIII của Đảng với Khát vọng Việt Nam


 



Đại hội XIII của Đảng với Khát vọng Việt Nam
 
Đã có rất nhiều bài viết của báo chí trong nước và nước ngoài cũng như ý kiến chia sẻ của các đại biểu dự Đại hội XIII của Đảng, các chuyên gia và các tầng lớp nhân dân, bạn bè trên thế giới về Đại hội Đảng ta vừa rồi. Theo bình luận chung, đó là một thành công mỹ mãn cả về chủ trương, đường lối và nhân sự của Đảng, thể hiện sự đoàn kết, nhất trí cao trong Đảng, đồng thời cũng là ý Đảng lòng dân, đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân. Trong giới hạn những bài tôi đọc được và nghe được, thì tâm đắc nhất là ba bài. Hai bài bình luận của nhà báo kỳ cựu Uông Ngọc Dậu được phát trên VOV1 và đăng trên VOV.VN Ngày 28/01 là bài “Nào người dậy sớm thức khuya”; Ngày 02/02/2021 là bài “Nhân dân trông mong đội ngũ rường cột tự trọng và kiêu hãnh!”. Cả hai bài đều đề cập đến vai trò, sứ mạng của những người cầm lái trước khát vọng của dân tộc, của nhân dân và bài thứ ba là bài trong chương trình phát thanh đặc biệt chào mừng thành công của Đại hội. Bàilên sóng từ 6h sáng 01/02/2021 trước thềm bế mạc Đại hội với sự tham gia của 2 vị khách mời là GS.TS. Phùng Hữu Phú và ông Lê Hải Bình. Ông Phú là Phó chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, nguyên Phó Trưởng ban thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương, nguyên Ủy viên BCH Trung ương (khóa IX, khóa X); còn ông Bình là Vụ trưởng Vụ Thông tin đối ngoại và hợp tác quốc tế - Ban Tuyên giáo Trung ương (mới được bầu ủy viên dự khuyết BCH Trung ương khóa XIII).  Buổi tọa đàm phân tích, đánh giá về những yếu tố làm nên thành công của Đại hội và kỳ vọng của nhân dân ta.
Với sự đồng cảm và tâm đắc, tôi xin  phát triển thêm đôi chút để góp phần chia sẻ một góc nhìn dưới giác độ lịch sử phát triển của vấn đề.
1. Khát vọng hùng cường hay phồn vinh hạnh phúc
“Từ khóa” mà báo chí và dư luận cũng như các cuộc tọa đàm, hội thảo trước, trong và sau Đại hội XIII của Đảng nhắc đến nhiều nhất là “khát vọng Việt Nam”. Cụ thể hơn, đó là khát vọng hùng cường. Nhà báo Uông Ngọc Dậu thì vừa phải hơn, cho rằng đất nước ta có thể vươn tới “ngưỡng” hùng cường, có lẽ, khát vọng này bắt nguồn từ lịch sử. Từ lâu, dân tộc ta, cha ông ta cũng đã có chí dám coi mình là cao vọng. Người Việt ta là dòng dõi con rồng cháu tiên, đâu có kém chi ai. Lịch sử đã ghi, Đại Cồ Việt là quốc hiệu được dùng trong 8 đời vua Hùng, 3 triều Đinh, Tiền Lê, Lý, với quãng thời gian dài 86 năm (968 - 1054). Quốc hiệu Đại Việt tồn tại tổng cộng trong thời gian 723 năm, bắt đầu từ thời vua Lý Thánh Tông đến thời vua Gia Long (10541804), qua các triều đại nhà Lýnhà Trầnnhà Hậu Lênhà Mạcnhà Tây Sơn và 3 năm đầu thời nhà Nguyễn (1802 – 1804). Như vậy, hơn một ngàn năm, dân tộc ta đã tự ý thức về năng lực và tầm cỡ phải vươn tới. Đến đời chúng ta, ngay sau 3 ngày Tuyên ngôn độc lập 1945, nhân năm học mới đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, qua thư gửi các cháu học sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã truyền lửa khát vọng cho thế hệ trẻ và toàn dân tộc về xây dựng đất nước tươi đẹp, giàu mạnh, vươn lên đài vinh quang, sánh vai với bạn bè, các cường quốc trên thế giới. Trong di chúc (1969) Bác đã gửi gắm mong muốn và cũng là di huấn cho toàn Đảng và nhân dân“phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủvà giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới".
 Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, bổ sung, phát triển năm 2011, đặt ra mục tiêu trong tương lai xa, có khác một chút là “xây dựng Việt Nam trở thành nước XHCN phồn vinh”. Còn báo cáo chính trị các kỳ đại hội Đảng trước đây do hoàn cảnh lịch sử phát triển của từng giai đoạn, và cũng do tầm nhìn đặt ra ngắn hơn, nên chưa kỳ nào Đảng ta đặt ra mục tiêu “hùng cường” hay “phồn vinh”. Trước năm 1996, Đảng mới đặt ra mục tiêu khiêm tốn là “ổn định kinh tế- xã hội”, “vượt qua khủng hoảng kinh tế -xã hội”. Từ năm 1996 đến 2011, Đảng đặt ra mục tiêu cao hơn, đó là “vượt qua trình trạng nước nghèo, kém phát triển”, “tạo nền tảng” để xây dựng nước ta “cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”. Đến Đại hội XII năm 2016, Đảng ta đặt ra mục tiêu cao hơn và trực tiếp hơn là “phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.”.
Đến Đại hội XIII lần này, với tầm nhìn dài hơn (25-30 năm), với tiềm lực, cơ đồ, vị thế, cơ hội mới, với ý chí và khát vọng của toàn dân tộc, Đảng ta đặt ra mục tiêu phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” như tầm nhìn của Cương lĩnh năm1991, 2011, nhưng có bổ sung “phồn vinh” thành “phồn vinh, hạnh phúc”. Định lượng cụ thể là “phấn đấu để đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng Xã hội chủ nghĩa”
Cương lĩnh 1991, 2011 cũng như Đại hội XIII lần này của Đảng chưa đặt ra mục tiêu “hùng cường” mà là mục tiêu “ phồn vinh, hạnh phúc”. Thế giới không có tiêu chí cụ thể về nước hùng cường. Đại thể, một nước “hùng cường” thì ở tầm thế giới hoặc chí ít là tầm khu vực, phải ở tốp cao thậm chí là tốp hàng đầu trên các mặt: (1) Quy mô GDP, thu nhập bình quân đầu người và số tỷ phú; (2) Các tập đoàn kinh tế, thương hiệu kinh tế; (3) Các trường đại học, viện nghiên cứu và tiềm lực Khoa học công nghệ; (4) Tiềm lực quốc phòng; (5) Vị thế và uy tín trên trường quốc tế... Vấn đề là, một nước như vậy là giàu, mạnh và uy lực, nhưng có thể là chưa hẳn đã đủ để tốt đẹp. Còn một nước “phồn vinh, hạnh phúc”,có thể chưa đạt tới hùng cường, nhưng đã đủ giàu mạnh, đã đủ tốt đẹp và tươi đẹp. Mục tiêu “phồn vinh, hạnh phúc”trong những thập kỷ trước mắt,có lẽ phù hợp với nước ta hơn.
Lần đầu tiên Đảng ta khơi dậy và truyền cảm hứng cho toàn dân tộc khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúcvới mục tiêu chiến lược được định lượng theo chuẩn chung của thế giới.Đó là:
Phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI nước ta trở thànhnước phát triển,theo định hướng xã hội chủ nghĩa, với các mốc cụ thể
- Đến năm 2025: Là nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp.
- Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao.
- Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập Nước: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Theo chuẩn chung của thế giới, (1)Nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp; (2) Nước đang phát triển thu nhập trung bình cao; (3) Nước phát triển, thu nhập cao thì đều có hệ thống tiêu chí cụ thể, trong đó cơ bản nhất là tiêu chí thu nhập bình quân đầu người (tính theo USD) và chỉ số phát triển con người HDI. Còn gắn với yếu tố công nghiệp thì còn thêm tiêu chí về phần thu nhập của của công nghiệp chế biến, chế tạo/người. Ví dụ, nước phát triển, thu nhập cao, tương ứng thu nhập/người từ 12.500 USD trở lên, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo trên 2.500 USD, HDI từ 0,8/10 trở lên.
Sau 35 năm đổi mới và phát triển, năm 2020 chúng ta đã đạt 2.789 USD (còn theo FMI thì gần 3.800 USD) gấp 35 lần năm 1975-1976; trong đó công nghiệp chế biến và chế tạo đạt dưới 500 USD, tương ứng 16%; HDI đạt 0,704. Trong giai đoạn tới (đến 2045) với tăng trưởng  6,5-7,0 %/năm được duy trì lên tục trong một thời gian dài thì thu nhập bình quân đầu người có thể đạt tới trên 12.500- 15.000 USD, tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo phải trên 25%, HDI trên 0,8. Đó là một sự nỗ lực, quyết tâm rất lớn.  Nhưng với mức đó, Việt Nam ở năm 2045 về mặt kinh tế, cũng mới bước vào ngưỡng của nhóm nước phát triển. Bởi vì hiện nay đã có gần 50 nước có thu nhập trên 12.500 USD, trong đó có gần 30 nước từ 20.000-50.000 USD, hàng chục nước trên 50.000-100.000 USD (bình quân đầu người). Tính ra, đến năm 2045, Việt Nam mới chỉ ngang bằng Mỹ năm 1955,  nhiều nước châu Âu năm 1970-1980, Nhật Bản, Singapor  vào năm 1985-1990, Hàn Quốc vào  năm 2000...Thứ hạng của nước ta hiện nay là 117/187, mới ở mức trung bình. Lúc đó, GDP bình quân đầu người của nước ta bước vào nhóm nước phát triển, thu nhập cao (nếu quốc tế không thay đổi tiêu chí xếp hạng), còn việc cải thiện về thứ hạng khả năng cũng không nhiều, vì phải cạnh tranh khi nhiều nước cũng vươn lên. Ví dụ, Trung Quốc sau hơn 30 năm đổi mới, với dân số khổng lồ hơn 1,4 tỷ người, đã tăng thu nhập bình quân đầu người từ 190 USD (1978) lên gần 11.000 USD (2020). Bởi vậy, đến giữa thế kỷ 21, mục tiêu xây dựng nước ta trở thành nước “phồn vinh, hạnh phúc” theo định hướng XHCN phù hợp hơn là mục tiêu “hùng cường”.
2. Khát vọng hạnh phúc
Tôi còn nhớ, ngay từ thời cách đây hơn 5 thập kỷ, vào năm 1968, trường phổ thông trung học quê tôi (lúc đó là trường cấp 3 với 10 năm học), có tổ chức thi học sinh giỏi môn văn lớp 9. Đề thi đại ý là “phân tích, chứng minh về nhận định cho rằng, truyện cổ tích và thần thoại thực chất là phản ánh ước mơ, khát vọng của nhân dân lao động về cuộc sống tốt đẹp, tự do, no ấm, hạnh phúc”. Có nghĩa, từ lâu, chúng ta đã hiểu ước mơ, khát vọng hạnh phúc là nhu cầu bản năng, nhu cầu tự nhiên của con người. Dân tộc ta, cha ông ta anh hùng, bất khuất trong chống giặc ngoại xâm, có những triều đại xuất hiện minh quân, nhưng rốt cuộc không thay đổi được chế độ quân chủ phong kiến và thuộc địa. Suốt chiều dài hàng ngàn năm lịch sử, nhân dân thấy bất lực trước đói khổ, bất công, nên phải gửi gắm qua thần thoại, cổ tích, nhờ các thần linh (Thần, Tiên, Phật) cứu giúp. Thông qua các đấng thần linh nhân dân ta gửi gắm mơ ước về người dẫn dắt trong thực tiễn cuộc sống. Từ ngày có Đảng (1930), Đảng đã trở thành người chỉ đường, dẫn lối. Nhất là từ khi nước ta giành được chính quyền (1945), thống nhất đất nước (1975), Đảng và Nhà nước ta lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc đã: (1) Thay đổi được chế độ xã hội, kết hợp giải phóng dân tộc với xây dựng đất nước theo định hướng XHCN; (2) Đảng không cứu vớt mà cũng không có khả năng cứu vớt con người như các đấng  thần linh, mà giác ngộ, lãnh đạo nhân dân trực tiếp làm cách mạng để tự xây dựng cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc cho mình; (3) Công nhận, tôn vinh  ước mơ, khát vọng sống, tự do và mưu cầu hạnh phúc là quyền cơ bản, thiêng liêng của nhân dân, Đảng, Nhà nước có trách nhiệm bảo vệ và phát huy. Ngay từ trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng (1930) cho đến Cương lĩnh 1991; Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011; Tuyên ngôn độc lập (1945), Hiến pháp đầu tiên (1946) cho đến các Hiến pháp sau này (1959, 1980, 1992, 2013), Báo cáo chính trị tại các kỳ Đại hội của Đảng, với các hình thức thể hiện khác nhau (trực tiếp, hay gián tiếp), đều đề cập đến hạnh phúc của nhân dân. Chả phải Quốc hiệu của nước ta từ năm 1945 là “Việt Nam Dân chủ cộng hòa” và từ năm 1976 đến nay là “Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, còn Tiêu ngữ là “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” đó sao. Nước thì độc lập, thế chế chính trị là cộng hòa, thể hiện bản chất và mục đích của Nhà nước là quyền dân chủ, tự do, công bằng cho tất cả mọi người;nay là cộng hòa XHCN, mang ý nghĩa thể hiện mục tiêu tiêu vươn tới một xã hội tốt đẹp hơn. Còn Dân thì làm chủ, tự do và hạnh phúc.Bác từng nói, nước độc lập mà dân không được tự do, ấm no, hạnh phúc thì độc lập cũng chẳng ý nghĩa gì. Đại hội XIII lần này của Đảng nhấn mạnh hơn đến hạnh phúc của nhân dân; cả trong quan điểm chỉ đạo, mục tiêu phát triển và định hướng phát triển đều có “từ khóa hạnh phúc” cùng một cặp với “phồn vinh”. Phồn vinh là vừa giàu có vừa tươi đẹp, vừa tốt đẹp. Các nhà khoa học đã nghiên cứu và thấy “hạnh phúc” là sự hài lòng, là sự cảm giác, tâm trạng nhiều hơn là sự thỏa mãn về nhu cầu vật chất. Kinh nghiệm của các quốc gia hàng đầu về hạnh phúc cho thấy, con người càng cảm thấy hạnh phúc và cũng được thế giới xếp hạng cao khi: (1) Tăng cao cả thu nhập cá nhân và phúc lợi xã hội, liên tục cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân; (2) Bảo đảm công bằng xã hội, an toàn, giảm thiểu tiêu cực và căng thẳng, xây dựng xã hội tử tế, tình thương, sẻ chia, không để ai bị bỏ lại phía sau; (3) Cảnh quan tươi đẹp, hạn chế ô nhiễm môi trường; (4) Quyền công dân, quyền con người được đề cao, tôn vinh, được bảo vệ, phát huy. Theo báo cáo hạnh phúc thế giới, Chỉ số hạnh phúc của Việt Nam năm 2020 xếp thứ 86 trên 204 quốc gia và 157 quốc gia được xếp hạng, đứng thứ 5 trong cộng đồng các nước ASEAN. Với thu nhập mới 2.789 USD/người, trong khi mức bình quân thế giới là trên 10.000 USD, thì thứ hạng hạnh phúc của Việt Nam như vậy là tích cực,  đã  phản ánh phần nào ưu việt của chế độ ta. Đặc biệt, chỉ số học vấn và tuổi thọ của Việt Nam được xếp hạng cao hơn chỉ số thu nhập. Xóa đói giảm nghèo của Việt Nam được thế giới đánh là thần kỳ: năm 1990 có tới trên 60%, năm 2020 giảm còn 2,75%. Người giàu của Việt Nam cũng tăng lên khá nhanh, bình quân 6-7%/năm. Năm 2019, cả thế giới có 513.244 người siêu giàu (có giá trị tài sản trên 30 triệu USD trở lên, tương đương khoảng 700 tỉ đồng), thì Việt Nam đã chiếm 488 người, trong đó có 5 tỷ phú đôla. Nhưng dù sao, Việt Nam đang đứng thứ hạng trung bình của 157 nước được xếp hạng.  Vẫn còn trên 60 vạn hộ với 3 triệu người nghèo. Dân tộc ta sao có thể hài lòng điều đó.
3. Kỳ vọng của nhân dân vào đội ngũ lãnh đạo
Trong vòng 25-30 năm, xây dựng Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao, phồn vinh, hạnh phúc theo định hướng XHCN không phải là dễ nhưng hoàn toàn có thể. Đó là là một quá trình phấn đấu cao, bền bỉ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Đại hội XIII của Đảng vẫn nhận định, bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn. Nguy cơ tụt hậu, rơi vào bẫy thu nhập trung bình còn lớn. Có biểu hiện chưa quan tâm đúng mức bảo đảm phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, về phát triển văn hoá, bảo đảm phúc lợi xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong phát triển kinh tế thị trường; chưa bảo đảm phát triển tổng thể, đồng bộ các vùng, miền, địa phương theo lợi thế so sánh và phát huy điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù. Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ cũng như những mâu thuẫn xã hội còn diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta. Bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định và thích ứng với biến đổi khí hậu là yêu cầu cấp thiết, đồng thời là những thách thức rất lớn đối với nước ta trong thời gian tới (Báo cáo chính trị Đại hội XIII). Nhưng có lẽ, như một số chuyên gia nhận định, thử thách địch họa đã đến ngưỡng, thử thách thiên tai, dịch bệnh đã đến ngưỡng, thử thách nhân tai cũng đã đến ngưỡng. Lẽ nào Đảng ta, dân tộc ta và nhân dân ta không thể vượt qua các nguy cơ để tiến lên. Vấn đề chủ yếu là ở đội ngũ cán bộ lãnh đạo.
Nhân sựBan Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm traTrung ương lần này chỉ bầu một lần với sự tập trung, tín nhiệm cao. Đặc biệt, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng 77 tuổi, thuộc diện đặc biệt nhất, được tín nhiệm rất cao bầu tái cử Tổng Bí thư nhiệm kỳ 3. Ngược lại, có một số ủy viên Trung ương (cụ thể là 02), đang trong độ tuổi sung sức đã không trúng cử. Đây là sự kiện có tầm lịch sử, tạo được phản ứng tích cực, nhân dân rất phấn khởi, thậm chí là phấn kích, báo chí nước ngoài bình luận  “không hề phản cảm”. Không phải ngẫu nhiên mà có hiện tượng đó. Một trong những dấu ấn quan trọng nhất mà Đảng ta tạo được phản ứng tích cực ở tầm truyền năng lượng và cảm hứng cho cả xã hội trong mấy năm vừa qua là tiến hành cuộc đấu tranh không có vùng cấm, không có ngoại lệ để phòng, chống không có vùng cấm nạn tham nhũng, cả tham nhũng kinh tế và tham nhũng quyền lực. Qua nhiều kênh thông tin, người ta biết, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng là một tấm gương, thực sự liêm chính trong cả công việc và đời sống, có bản lĩnh lãnh đạo tiến hành cuộc chiến phòng, chống tham nhũng quyết liệt nhất và có kết quả nhất từ trước tới nay. Ông giản dị, chân thành, dễ gần, ở nhà công vụ, không biệt thự cao cấp, không trang trại, vợ con không xe sang, không vun vén người thân trên đường quan lộ. Đám cưới con trai, ông không gửi thiệp mời rộng rãi cho các cán bộ cấp dưới mà chỉ gửi cho một ít người, và cũng chỉ gửi sau khi đám cưới. Ông từng bộc bạch trên diễn đàn, đại ý: Tiền thì ai chả thích, nhưng uy tín và danh dự còn quý hơn.
Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới là tấm gương cao quý nhất mà cán bộ, đảng viên chúng ta muốn nên người, muốn hoàn thiện bản thân thì suốt đời học tập và làm theo Người về tư tưởng, đạo đức, tác phong, cả cuộc đời chỉ vì nước, vì dân. Nhưng giữa kinh tế thị trường, hồng trận cuồn cuộn, có một tấm gương sống như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, chẳng phải cũng là hồng phúc cho Đảng, cho dân tộc, để cho đội ngũ cán bộ học tập đó sao.
Từ cổ, chí kim, Đông cũng như Tây, phàm là lãnh đạo cao cấp, người của dân chúng, thì phải vượt lên trên suy nghĩ và ham muốn thường tình. Nhân dân kỳ vọng, đội ngũ lãnh đạo của Đảng và Nhà nước kỳ này là như vậy, tâm huyết, liêm chính, nêu gương sáng vì nước vì dân, đủ sức truyền cảm hứng và dắt dẫn nhân dân hoàn thành mục tiêu, khát vọng xây dựng đất nước ta phồn vinh, hạnh phúc./.
                                                                                                 Phan Đức Ngữ(CVCC)
 

 

                                                                                             

Số lần đọc : 444   Cập nhật lần cuối: 15/02/2021

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 11668969

Số người Onlne: 24