Nghiên cứu → Đa chiều

Yersin và các viện Pasteur ở Việt Nam


 


 

 

YERSIN VÀ CÁC VIỆN PASTEUR Ở VIỆT NAM

Nguyễn Tấn Tuấn 

 

Thành lập từ những năm đầu thế kỷ 20, Viện Pasteur Nha Trang, và Viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh, về mặt khoa học gắn bó mật thiết với viện Pasteur ở Paris và Emile Roux (Pháp). Năm 1902 - 1904 nhà hoạt động khoa học Yersin đã tiến hành những cuộc thương thuyết để Viện Pasteur Nha Trang gắn liền với Viện Pasteur Paris Pháp.    

CÁC VIỆN PASTEUR VIỆT NAM

 


 

  Alexandre Yersin

 

Đầu thế kỷ 20, sau khi các viện Pasteur Hà Nội, Pasteur Đà Lạt và Pasteur Sài Gòn, được thành lập, gắn kết với nhau nhờ tình bạn giữa hai nhà khoa học Calmette và Yersin. Trong các tiểu sử viết về họ, Noel Bernard và Yersin bằng tuổi nhau, tính khí đối lập nhưng rất thân nhau. Nhà khoa học Calmette có vợ nên có thể chia sẻ với người bạn đời những vui buồn trong đời sống và quá trình nghiên cứu khoa học, ông là người phát minh thuốc B.C.G (một loại vacxin phòng bệnh). Khi Calmette trở về Pháp năm 1893, Viện Pasteur Sài Gòn vẫn chỉ là một tòa nhà của Bệnh Viện quân y Pháp để lại. 

Chi nhánh Viện Pasteur Hà Nội xuất phát từ Viện Pasteur Sài Gòn, chi nhánh Viện Pasteur Đà Lạt xuất phát từ Viện Pasteur Nha Trang, bốn Viện Pasteur ở Việt Nam thời ấy luôn duy trì những quan hệ mật thiết nhờ tình bạn tri kỷ của hai nhà khoa học hang đầu của các viện Pasteur.  

Thay thế Simon trở về Pháp năm 1901, Yersin nắm quyền lãnh đạo Viện Pasteur Sài Gòn và sau đó chuyển giao quyền của mình cho các phó giám đốc, kế tiếp nhau trong cương vị đó cho tới khi nhà khoa hoc Noel Bemard đến. Mỗi tháng Yersin từ Nha Trang bay vào Sài Gòn kiểm tra công việc. Những nhà khoa học Pháp về Pasteur sau nầy ai cũng  cảm phục Yersin. Đặc biệt là các nhà nghiên cứu như Henri Schein; Henri Jacotot ở Pasteur Nha Trang, Noel Bernard ở Pasteur Sài Gòn, đã hỗ trợ Yersin rất hiệu quả, họ đã tạo điều kiện, cho ông có thời gian ra Hà Nội giảng dạy và thoát khỏi các công việc hành chính của nhà quản lý. 

Khi Noel Bernad đến Sài Gòn năm 1910, hai Viện Pasteur Sài Gòn và Pasteur Nha Trang đã có cơ ngơi riêng, với những thiết bị hiện đại. Công ước 1905 quy định rõ vai trò của các Viện Pasteur cùng mối quan hệ của chúng với Viện Pasteur mẹ ở thủ đô Paris Pháp. Trong giai đoạn này có nhiều nghiên cứu mới khiến Yersin bị cuốn hút vào những lĩnh vực mà bản thân ông chưa chuẩn bị như  ngành chăn nuôi và trồng trọt. 

Yersin là nhà khoa học thích mạo hiểm phiêu lưu, không theo những lối mòn. Yersin đã biến các Viện Pasteur ở Việt Nam khi ấy chỉ là những phòng thí nghiệm làm công việc phân tích khoa học đơn thuần, thành nơi tạo ra những đề tài lớn để nghiên cứu và phát minh. Một trong những may mắn của Yersin thời ấy là được sự hỗ trợ đắc lực từ những người làm khoa học tâm huyết, đồng cảm với ông và hiểu biết mục đích của ông, Yersin đã dung hòa được công việc để tập trung  nghiên cứu vì lợi ích chung, các Viện Pasteur ở Việt Nam thời đó giữ được vị trí cơ sở nghiên cứu hang đầu, với những nhà khoa học có năng lực nhất ở Đông dương.  

Những năm cuối thế chiến thứ nhất (1914-1918), nhiều dự án khoa học được đặt ra ở các nước thuộc điạ của Pháp như: Mở rộng Viện Pasteur Sài Gòn, thành lập Viện Pasteur Hà Nội, bảo trợ các phòng thí nghiệm thuộc các cơ sở y tế tại những thành phố như Huế, Viantiane, Phnom Pênh … những dự án quy mô ấy đều hướng tới mục tiêu là đáp ứng nhu cầu của các quốc gia thuộc địa đang phát triển.


  Viện Pasteur Nha Trang là một cơ sở nghiên cứu và thí nghiệm khoa học chuyên về các căn bệnh nhiệt đới cùng các dược phẩm.  

QUAN TÂM ĐẾN NGƯỜI TRẺ   

Yersin về Pháp hỏi ý kiến của hai nhà khoa học Roux và Calmette của Viện Pasteur mẹ ở Paris, được sự thống nhất của họ, ông đã gác lại công việc quản lý, điều hành của mình và lao vào thử nghiệm di thực cây canhkina vào Việt Nam để sản xuất thuốc điều trị sốt rét. Yersin nhìn thấy tương lai các Viện Pasteur ở Việt Nam phải có một người đứng đầu trẻ hơn ông (khi ấy Yersin đã gần sáu mươi tuổi). Sau đó ông đã kiến nghị chính phủ Pháp bổ nhiệm Noel Bernard làm giám đốc các Viện Pasteur ở Việt Nam, còn ông chỉ làm một người cố vấn cho các Viện các Viện Pasteur (bao gồm các trại chăn nuôi và đồn điền phục vụ công tác nghiên cứu của Viện Pasteur). Trong cuốn tiểu sử Yersin, Noel Bernard đã viết rằng: “Chắc chắn không có nhiều những tấm gương chí công vô tư như thế: Yersin tự rút lui để nhường lại cho người khác quyền  mà ông từng thiết tha …”. 

 

Mỗi năm, Yersin thường dự và chủ trì các đại hội của Viện Pasteur ở Việt Nam. Ông cũng nhiệt tình đến dự các hội nghị khoa học khác khi được mời. Chẳng hạn như trường hợp Đại hội đồng các quyền lợi kinh tế và tài chính Đông Dương lập năm 1929, Toàn Quyền Pháp đã cử Alexandre Yersin làm thành viên hội đồng cấp tỉnh ở Việt Nam, Campuchia và Lào. Ngày 20 tháng 10 năm 1929, Yersin chủ trì phiên họp tư vấn đầu tiên của Đại hội đồng tại Hà Nội. Năm 1904, sau đó Yersin về Pháp và đóng góp nhiều sang kiến mới cho Viện Pasteur Paris. Trong quá trình nghiên cứu, thanh tra hoặc cố vấn cho các viện Pasteur ở Việt Nam, Yersin rất gắn bó với khoa vi khuẩn học. Tuy nhiên thời gian sau này ông lại say mê nghiên cứu hai lĩnh vực hoàn toàn mới là chăn nuôi và trồng trọt.    

LƯU GIỮ CÁC NGHIÊN CỨU 

 Yersin từng thành lập Sở Lưu trữ của các Viện Pasteur ở Đông Dương, trong đó lưu giữ nhiều công trình nghiên cứu, bài viết của các nhà khoa học đăng trên nhiều tạp chí tên tuổi của nước Pháp. Đặc biệt là các tập sách Ký biên niên Viện Pasteur Paris; tập san Hội bệnh học nước ngoài; tập san Lưu trữ y học thủy quân và thuộc địa; Ký biên niên Vệ sinh và Y học thuộc địa; Tạp chí y học; các báo cáo của Viện Hàn lâm khoa học…  

Nhiều đề tài nghiên cứu ở Việt Nam và toàn Đông Dương được công bố trong giai đoạn nói trên, cho thấy những cuộc nghiên cứu và phát hiện của ông. Năm 1926, ông cho ra mắt tạp chí “Tập lưu trữ của các Viện Pasteur Đông Dương”; tạp chí mỗi năm ra hai lần, in tại Sài Gòn, gồm những phát hiện mới về y học, vi khuẩn học, ký sinh vật học, côn trùng học, vệ sinh học và các phân tích, bình luận bài viết của các nhà khoa học ở Đông Dương. Những chi nhánh khác của viên Pasteur Paris cũng có tạp chí riêng như: Tập lưu trữ Viện Pasteur ở Tuins do Charles Nicolle - 1923, Viện Pasteur ở Hi lạp ra mắt số đầu tiên năm 1928. Viện Pasteur thành Lille và Lyon của Pháp cũng có tạp chí xuất bản những năm sau thế chiến thứ hai 1939 -1945. 

Tập Lưu trữ các Viện Pasteur ở Việt Nam công bố nhiều nghiên cứu rất quan trọng của những người đã cộng tác trực tiếp với nhà khoa học Yersin, đặc biệt là công trình nghiên cứu của Henri Jacotot, người say mê nghiên cứu các đề tài mà Yersin đã lựa chọn. Kể từ năm 1926, tạp chí nầy đã công bố các việc tổng kiểm tra hoặc hiệu chỉnh về bệnh dịch hạch trâu bò, bệnh tụ huyết trùng, bệnh barbone, bệnh surra, và cách điều trị các bệnh dịch hạch bò, bệnh sổ mũi hoại thư của trâu bò, bệnh dịch hạch heo, bệnh đậu cừu… số tạp chí ra cuối cùng của tập Lưu trữ các Viện Pasteur ở Việt Nam là vào năm 1941, nhưng đến tháng 8/1944 mới được in và phát hành. Do những biến động chính trị thời ấy đã không cho phép tạp chí in theo định kỳ và tới lần phát hành thứ 33 thì kết thúc.   

VIỆN PASTEUR CUỐI CÙNG  

Viện Pasteur cuối cùng ở Việt Nam được sáng lập là Viện Pasteur Đà Lạt. Viện này được đặt trên cao nguyên Lâm Viên (tỉnh Lâm Đồng), vùng đất thần tiên được nhà khoa học Yersin phát hiện một cách kỳ diệu vào ngày 21/6/1893, trong lần thám hiểm vùng đất Tây nguyên bí hiểm. Ban đầu ông chỉ cho xây vài căn nhà sàn bằng gỗ rừng tại Đà Lạt để nhân viên của mình tạm trú. Người ta phải lần theo những con đường mòn trong rừng, sau đó leo lên đến độ cao 1500 mét. Ở đây không khí mát mẽ, trong lành, nhiệt độ ôn hòa quanh năm.  

Từ đó nhà cầm quyền Pháp đã quyết định cho mở đường lên cao nguyên Lâm Viên (Đà Lạt), tạo diều kiện cho việc đô thị hóa diễn ra sau này. Năm 1924 Phủ toàn quyền Đông Dương cử Noel Bernard, giám đốc Viện Pasteur Sài Gòn đến Đà Lạt để nghiên cứu khí hậu, thổ nhưỡng nhằm chuẩn bị cho xây dựng thành phố Đà Lạt. 

Yersin đến cao nguyên Lâm Viên để nghiên cứu khoa học, nhưng bất ngờ ông đã phát hiện ra lợi ích của thứ khí hậu ở đây đối với việc chế tạo huyết thanh và vacxin phòng bệnh. Ông quyết định xây dựng tại Đà Lạt một xí nghiệp hiện đại để sản xuất công nghiệp vacxin. Cũng từ đó them một Viện Pasteur mới ở Việt Nam được hình thành vào ngày 01/01/1936. 

Viện Pasteur Đà Lạt thời ấy ngoài sản xuất các vacxin vi khuẩn, còn có nhiệm vụ khảo sát sinh vật học, giải phẫu bệnh học và kiểm tra vệ sinh dịch tể cho đồng bào các dân tộc thiểu số trên Tây nguyên. Có 1838 người được thực hiện năm 1936 và 5572 người vào năm 1940. Viện Pasteur Đà Lạt từ đó đã chính thức tham gia vào việc bảo vệ sức khỏe của cộng đồng ở Việt Nam cũng như toàn Đông Dương./.    

    (Theo tư liệu Viện Pasteur Paris- 1988) 


 

 

Số lần đọc : 1167   Cập nhật lần cuối: 30/12/2017

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 3767294

Số người Onlne: 84