Nghiên cứu → Đa chiều

Xu hướng ngành nghề và việc làm





XU HƯỚNG NGÀNH NGHỀ VÀ VIỆC LÀM

I. Khái quát về lao động và việc làm ở Việt Nam
Lao động cả nước có 54,4 triệu người, chiếm 57% dân số (2016). Hàng năm tăng thêm 1,6 triệu lao động trẻ. Lực lượng lao động thành thị 32,1%; nông thôn 67,9%. Khu vực công nghiệp và xây dựng 24,7%; khu vực dịch vụ 33,4%; khu vực nông lâm nghiệp 41,9%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo (có chứng chỉ, bằng cấp) đạt 20,6%. Chuyên môn bậc cao (cao đẳng, đại học trở lên) gần 5 triệu; Trung cấp hơn 2 triệu; Thợ thủ công gần 7 triệu; Thợ lắp ráp, vận hành máy móc 5 triệu; Dịch vụ 9 triệu; Ngành nghề nông thôn hơn 5 triệu; Ngành nghề giản đơn hơn 20 triệu (chủ yếu là sản xuất nông nghiệp).
Có hơn 1,2 triệu người thất nghiệp chiếm 2, 3%, thành thị 3,23%, nông thôn 1,84. Trong đó thanh niên (nhóm từ 15-24 tuổi) thất nghiệp cao nhất, 7,67%. Số người thất nghiệp có trình độ từ trung cấp trở lên là 358,4 ngàn người, trong đó: trình độ “đại học trở lên” gần 200 ngàn người, trình độ “cao đẳng” 82,6 nghìn người, trình độ “trung cấp” 92,7 nghìn người.  Có gần 1 triệu người thiếu việc làm, chiếm 1,66%.
Mức lương bình quân của lao động ở Việt Nam hiện trên 6 triệu đồng/tháng. Năng suất lao động xã hộicủa toàn nền kinh tế theo giá hiện hành ước tính đạt 84,5 triệu đồng/lao động(tương đương khoảng 3.853 USD/lao động), bằng 4,4% của Xin-ga-po; 17,4% của Ma-lai-xi-a; 35,2% của Thái Lan; 48,5% của Phi-li-pin và 48,8% của In-đô-nê-xi-a.
II. Xu hướng ngành nghề và nhu cầu nhân lực.
Tốc độ đầu tư và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam tiếp tục duy trì ở mức khá. Hiệp định đối tác kinh tế với các nước trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương (TPP), Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) có khả năng thúc đẩy các nước đầu tư vào Việt Nam. Đồng thời, có 08 ngành nghề mà lao động có kỹ năng tay nghề cao được phép di chuyển trong khối ASEAN là dịch vụ kỹ thuật, dịch vụ điều dưỡng, kiến trúc, giám sát thi công, kế toán, bác sĩ, nha sĩ, du lịch.
Theo dự báo của Tổ chức Lao động Thế giới (ILO), Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam có khả năng tạo thêm trên 6 triệu việc làm vào năm 2025, tăng 14,5%
Một số ngành được dự báo có nhu cầu nhân lực lớn như sau:
* Công nghệ thông tin. Nhóm ngành này trước đây chúng ta chỉ biết về phần cứng, phần mềm và mạng máy tính thì  nay đã xuất hiện thêm nhiều ngành mới liên quan như Bảo mật mạng, Lập trình ứng dụng di động, Lập trình game, Lập trình thiết kế game 3D, Lập trình thiết kế hiệu ứng hình ảnh và hoạt hình 3D… Từ đó khiến cho nhu cầu nhân lực của ngành tăng liên tục, trong khi số lượng sinh viên ra trường chưa đáp ứng được cả về lượng lẫn chất. Đối với ngành này, sau khi ra trường, sinh viên có thể làm việc tại các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp nước ngoài hoặc tự tạo việc làm. Hầu như bất cứ doanh nghiệp nào cũng cần nhân lực ở lĩnh vực này.Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, Việt Nam cần khoảng 1,2 triệu nhân lực ngành Công nghệ thông tin vào năm 2020, số nhân lực thiếu hụt lên tới trên 500.000 người.
* Ngành xây dựng. Hiện nay, Việt Nam được đánh giá là một trong ba quốc gia hứa hẹn về tăng trưởng ở châu Á. Bức tranh toàn cảnh về nền kinh tế Việt Nam có điểm nhấn về nhiều lĩnh vực trong đó có xây dựng. Ở Việt Nam những công trình kiến trúc mang tầm cỡ quốc tế ra đời ngày càng nhiều. Các tòa nhà cao tầng, nhà ở cho đến căn hộ, công trình đường bộ, đường sắt, công trình công cộng cũng ngày một nhiều hơn. Dự báo đến năm 2020, nhu cầu nhân lực ngành xây dựng mỗi năm tăng thêm 400.000 - 500.000 người. Nhu cầu về kỹ sư và công nhân kỹ thuật đều tăng.
* Ngành du lịch. Du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn ở Việt Nam. Thị trường du lịch khách sạn nhà hàng tại Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ và nóng hơn bao giờ hết. Khách nước ngoài đến Việt Nam đã đạt 10 triệu và khách nội địa trên 62 triệu (2016), doanh thu 400 ngàn tỷ(tương tương gần 18 tỷ USD), chiếm 6,8% GDP cả nước. Ngành này hiện đang tăng trưởng 30%/năm (cao thứ 6 trên thế giới). Trong những năm tới, hàng năm có khả năng thu hút 17-20 triệu khách quốc tế và 80-90 triệu khách nội địa. Nhân lực toàn ngành hiện có hơn 1 triệu người. Với tốc độ tăng trưởng như hiện nay, theo Tổng cục Du lịch mỗi năm phải đào tạo thêm 25.000 lao động mới và cần phải đào tạo lại số lượng tương đương như vậy.
* Ngành công nghệ thực phẩm. Ngành công nghệ thực phẩm được đánh giá là ngành của tương lai vững vàng, ngành của sự tiềm năng. Đây là một trong những ngành học có tính ứng dụng cao và đa dạng, nhất là trong cuộc sống hiện đại. Ngành đã và đang có sức hấp dẫn đặc biệt đối với giới trẻ trong những năm gần đây. Với dân số trên 92 triệu người, tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình khoảng 7,5%/năm, nhu cầu tiêu dùng của người Việt Nam đối với thực phẩm chế biến ngày càng lớn và phong phú, đặc biệt là nhu cầu về các sản phẩm sạch được chế biến an toàn và tinh tế. Không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước mà ngành công nghệ thực phẩm còn hướng đến việc sản xuất, chế biến những sản phẩm đạt chất lượng cao để phục vụ nhu cầu xuất khẩu. Đây là một ngành học thực sự tiềm năng và cơ hội khá lớn cho vấn đề việc làm, đặc biệt là với những bạn nữ.
 * Ngành điện - cơ khí. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa làm tăng nhu cầu về điện và sản phẩm cơ khí. Nhân lực ngành điện hiện hơn 10 vạn. Yêu cầu tốc độ tăng trưởng của ngành điện phải bảo đảm gấp đôi tốc độ tăng trưởng GDP, làm tăng nhu cầu về nhân lực. Nhiều dạng điện năng mới có xu hướng phát triển. Ngành co khí hiện thu hút gần 9 triệu lao động, tăng trưởng 12% /năm.. Nhiều công ty đang thiếu nhân lực. Ví dụ, tại TP.HCM hiện có khoảng 1.500 doanh nghiệp hoạt động trong ngành cơ khí, với tổng số lao động đang làm việc khoảng 57.000 lao động. Dự báo nhu cầu việc làm bình quân hàng năm của ngành cơ khí đến năm 2020 là khoảng 8.100. Người lao động có thể học trung cấp hay cao đẳng nghề đào tạo ngắn hạn không nhất thiết phải đào tạo đại học, lại  có cơ hội được đi xuất khẩu lao động sang các nước phát triển. Ngay từ giảng đường đại học, các nhà tuyển dụng đã tạo dựng sợi dây liên kết giữa nhà trường và công ty, mỗi khóa tốt nghiệp đều có những chỉ tiêu kí kết hợp đồng lao động. Như vậy, cơ hội việc làm cũng như nguy cơ thất nghiệp thấp hơn nhiều so với những ngành nghề khác.
* Ngành dệt may, dày da. Ngành dệt may và dày da hiện thu hút 3,5 triệu việc làm (dệt may gần 2,5 triệu, dày da 1 triệu). Từ nay đến năm 2025 nhu cầu lao động tăng thêm 1,5-2  triệu, mỗi năm tăng 10-15 vạn (để vừa thay thế số người nghỉ hưu, chuyển việc và đáp ứng yêu cầu tăng sản suất). Nhưng về lâu dài, việc ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại, tự động hóa sẽ làm ảnh hưởng lớn đến việc ổn định việc làm trong hai ngành này. Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO), có khả năng trên 80% lao động bị ảnh hưởng.
* Ngành marketing. Marketing là ngành giữ vai trò rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của hầu hết mọi tổ chức kinh doanh trên thế giới.  Những công ty quảng cáo, truyền thông tại Việt Nam đang ngày càng nhiều. Xu thế hội nhập toàn cầu càng làm cho cạnh tranh gay gắt. Bản thân, các doanh nghiệp  sản xuất kinh doanh muốn bán được nhiều hàng hóa và sản phẩm thì phải tăng cường đội ngũ tiếp thị chuyên nghiệp. Từ nay đến 2020 nước ta có khả năng phát triển thêm 500.000 doanh nghiệp, nhu cầu nhân lực tiếp thị rất lớn.
* Ngành Y tế. Trong hầu hết các nước phát triển, tỷ lệ dân số già đang ngày càng gia tăng.. Nhiều loại thực phẩm không an toàn, môi trường ô nhiễm. Cuộc sống hiện đại tạo ra nhiều áp lực. Bệnh tật gia tăng và diễn biến phức tạp. Nhưng đồng thời, đời sống được cải thiện, mạng lưới bảo hiểm y tế phát triển, khả năng chi trả dịch vụ y tế của các tầng lớp dân cư được nâng cao. Điều đó làm gia tăng nhu cầu phòng và khám chữa bệnh của người dân.
Hàng năm, có hàng nghìn sinh viên Y, Dược ra trường nhưng vẫn chưa thể đáp ứng đủ nhu cầu ngày càng lớn của xã hội, khiến cho ngành này luôn luôn ở trong tình trạng “khát” nhân lực. Theo kế hoạch phát triển nhân lực của Bộ Y tế giai đoạn từ 2015- 2020, thì cần phải bổ sung  hơn 55 ngàn bác sĩ, 83.851 điều dưỡng, 10.887 dược sĩ đại học, hơn 65 ngàn kỹ thuật viên và gần 98 ngàn chuyên ngành khác. Điều này mở ra cơ hội việc làm rất lớn cho những người có dự định theo học và làm việc trong ngành Y.
* Ngành giáo dục. Hiện tạingành đang thừa, thiếu nhân lực cục bộ. Số lượng thí sinh đăng ký dự thi vào các trường ĐH, CĐ đào tạo ngành sư phạm và quản lý giáo dục lại đang giảm dần từng năm. Các nhà nghiên cứu dự đoán trong tương lai gần, nhóm ngành giáo dục - đào tạo sẽ rất khát nguồn nhân lực. Theo dự báo, nhu cầu giáo viên các ngành sư phạm mầm non, sư phạm tiểu học (chủ yếu là giáo viên tiếng Anh) và nhân viên bảo mẫu... sẽ tăng mạnh trong vài ba năm tới.  Nhu cầu nhân lực đến năm 2020 của các bậc học như sau: Giáo dục Mầm non khoảng 240.000 người; bình quân mỗi năm tăng 6.600 người. Tiểu học khoảng 522.000 người; bình quân mỗi năm tăng 5.750 người. THCS khoảng 480.000 người; bình quân mỗi năm tăng 9.850 người. THPT khoảng 148.000 người, mỗi năm tăng khoảng 4 000 người. Tính chung, về lâu dài, số giáo viên cần thêm hàng năm( vừa bù đắp thay thế số nghỉ hưu và số tăng thêm so học sinh tăng) là 20.000-25.000 giáo viên và bảo mẫu hệ mầm non, 20.000-25.000 giáo viên hệ phổ thông. Đây là như cầu chung của xã hội, bao gồm hệ dân lập, tư thục và hệ công lập.
*Ngành ngôn ngữ Anh. Trong tình hình hội nhập toàn cầu như hiện nay thì ngôn ngữ Anh là ngôn ngữ quốc tế, chiếm vị trí rất quan trọng và là một phần không thể thiếu trong hồ sơ xin việc cũng như ứng dụng trong đời sống. Ngôn ngữ Anh xuất hiện trong nhiều lĩnh vực lĩnh vực như kinh tế đối ngoại, sư phạm ngoại ngữ, marketing, công nghệ thông tin, tài chính ngân hàng,...  Hơn nữa, Theo Thương mại.vn, số lượng các văn phòng công ty đại diện nước ngoài đến Việt Nam đạt 1454. Vì vậy, đây là cơ hội được làm việc, tiếp xúc nhưng cũng đặt ra yêu cầu cạnh tranh giữa các công ty. Tiếng Anh không còn là lợi thế, nó là điều kiện bắt buộc nếu bạn muốn có một công việc tốt trong tương lai. 
*Ngành luật sư. Với gần 9 ngàn, số lượng luật sư hiện có ở nước ta so với dân số còn rất thấp (1 luật sư/ 10.000 người dân). Trong khi tỷ lệ này ở Thái Lan là 1/1.526, Xin-ga-po: 1/1.000, Nhật Bản: 1/4.546, Pháp: 1/1.000, Mỹ: 1/250. Theo Chiến lược phát triển đội ngũ luật sư, thì phấn đấu đến năm 2020 cả nước có 18.000 – 20.000 luật sư. Trong tương lai, nếu phấn đấu chỉ bằng Thái lan ở thời điểm hiện nay  thì chúng ta cần tới gần 8-10 vạn luật sư.
3. Các khu vực thị trường lao động
Nhu cầu lao động khu vực hành chính không lớn. Khu vực này hiện có 280 ngàn việc làm, đang được từng bước tinh giản biên chế( nghỉ hưu 02 người, được tuyển dụng thay thế 01 người, bằng cách thi tuyển rất chặt chẽ).
Khu vực sự nghiệp có nhu cầu lao động lớn hơn. Riêng khu vực công lập hiện có 2,5 triệu lao động, chưa kể ngoài công lập. Với tỷ lệ  nghỉ hưu trên dưới 2%/năm và nhu cầu tăng thêm khoảng 2%( do dân số tăng và số học sinh các cấp tăng) thì hàng năm cần thêm 7-8 vạn lao động. Nhân lực khu vực công lập giảm thì khu vực ngoài công lập sẽ phát triển.
Khu vực sản xuất kinh doanh có khả năng thu hút lao động lớn nhất. Cả nước hiện có 500.000 doanh nghiệp và hàng năm phát triển mới 100 ngàn doanh nghiệp (đã trừ số phá sản và ngừng hoạt động), phấn đấu đến 2020 có khoảng 1 triệu doanh nghiệp, thu hút thêm trên 1 triệu lao động.
Xuất khẩu lao động cũng là một hướng quan trọng. Hiện Việt Nam đã xuất khẩu 120-150 ngàn người/ năm, có 500.000 người làm việc thường xuyên ở nước ngoài (bao gồm chuyên gia và công nhân). Thị trường khối Asean và khối Apec đang mở ra triển vọng tăng số lượng chuyên gia và người lao động đi xuất khẩu nước ngoài. Các ngành nghề có nhu cầu lớn là dệt may, cơ khí, điện tử, xây dựng, CNTT, chế biến thực phẩm, y tế( nhất là điều dưỡng viên), quản gia( công việc nội trợ trong gia đình)...Khối EU và nhiều nước phát triển khác trên thế giới cũng có nhu cầu nhập khẩu lao động. Ví dụ, chỉ riêng nước Đức, theo báo cáo của Cơ quan quản lý lao động liên bang, từ nay đến năm 2025, nước này cần nhập khẩu khoảng 2 triệu lao động, riêng chuyên gia và lao động có tay nghề cao trên 150 ngàn người. 
Tất cả các trình độ đào tạo đều có thị trường. Trong giai đoạn 2016 - 2025, nhu cầu tuyển dụng nhân sự hình thành 03 cấp: chuyên môn kỹ thuật bậc cao (tăng 41% - 14 triệu chỗ làm việc), chuyên môn kỹ thuật bậc trung (tăng 22% - 38 triệu chỗ làm việc), chuyên môn kỹ thuật bậc thấp (tăng 24% - 12,4 triệu chỗ làm việc).
3. Liên hệ với Sơn La.
Lao động của Sơn La hiện có 75 vạn( 2016), mối năm tăng 2 vạn. Khu vực nông lâm nghiệp 64 vạn, 85%, khu vực công nghiệp xây dựng 3,5 vạn, 5%, Dịch vụ 7 vạn, 10%. Khu vực đô thị 9,8 vạn, 13%, khu vực nông thôn 65,2 vạn, 87%. Lao động qua đào tạo 13,2%, khoảng gần 10 vạn. Trong đó sơ cấp 40%, trung cấp 30%, cao đẳng 10%, đại học và trên đại học 20%. Công nhân kỹ thuật chiếm tỷ lệ 10%. Cứ một cao đẳng, đại học mới có 0,3 công nhân kỹ thuật.
Mỗi năm Sơn La tốt nghiệp PTTH  khoảng 8-9 ngàn,  đi học đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp khoảng 1.000, một số đi học nghề, còn lại chủ yếu là lao động phổ thông. Hàng năm  khu vực công lập và ngoài công lập ở địa phương chỉ tiếp nhận được 40-50% số sinh viên tốt nghiệp đại học cao đẳng, còn lại đi tìm việc ngoài tỉnh, hoặc chưa có việc, hoặc tạm thời làm việc trái ngành nghề, thấp hơn trình độ đào tạo... Tỷ lệ thất nghiệp không lớn, 0,9%, tương ứng 7 ngàn người.
Năng suất lao động xã hội của Sơn La đạt 40 triệu đồng, tương đương 1.700 USD, mới bằng gần 50% mức bình quân của cả nước, bằng 5-15% năng suất lao động của các nước trong khu vực.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động giữa 02 khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp ở Sơn La diễn ra chậm. Phần lớn lao động tăng thêm hàng năm vẫn tập trung ở nông nghiệp và nông thôn ở quy mô kinh tế hộ, kinh tế trang trại. Tình hình này càng làm tăng mức độ thiếu việc làm ở nông thôn (với nghĩa không đủ ngày công quy chuẩn ở mức 280 ngày công/năm). Một số ngành có khả năng thu hút lao động trẻ, có trình độ, như nuôi trồng thủy sản vùng hồ thủy điện Hòa Bình, thủy điện Sơn La trên sông Đà, trồng cây ăn quả, rau hoa theo hướng ứng dụng công nghệ cao, sạch, an toàn  và chất lượng; các ngành nghề nông thôn như xây dựng, cơ khí, chế biến…
Doanh nghiệp cả tỉnh (số đang hoạt động thực tế) có gần 1.500 doanh nghiệp,  tạo việc làm hơn 3 vạn lao động, hàng năm phát triển thêm khoảng 200 doanh nghiệp (đã trừ cân đối số doanh nghiệp phá sản hoặc ngừng hoạt động), khả năng thu hút khoảng 2.000-3.000 lao động. Chủ yếu là ngành công nghiệp chế biến, cơ khí, xây dựng, du lịch, khách sạn, nhà hàng…
Kinh doanh công thương nghiệp quy mô hộ gia đình, tiểu chủ năm 2016 thu hút 4,4 vạn lao động, chủ yếu là buôn bán, sửa chữa ô tô xe máy, cơ khí, dịch vụ lưu trú và ăn uống. Năm năm qua bình quân tăng 1.000 lao động/năm. Trong những năm tới, khả năng tiếp tục tăng, nhưng có mức độ, vì một số cơ sở chuyển  sang   khu vực doanh nghiệp.
Khu vực hành chính nhu cầu nhân lực không nhiều. Nhưng khu vực sự nghiệp( kể cả công lập và ngoài công lập), nhất là hai ngành giáo dục và Y tế vẫn có nhu cầu tăng trưởng về nhân lực.Hiện tại, nhân lực toàn ngành giáo dục có gần 20 ngàn( Giáo dục mầm non gần 5 ngàn, Các cấp phổ thông hơn 14 ngàn), ngành Y tế có hơn 3,5 ngàn (Y hơn 3,2 ngàn, Dược gần 300). Trong những năm tới, với tốc độ tăng trưởng 4-5%/năm (vừa để bù đắp số nghỉ hưu và để phục vụ mở rộng hoạt động do dân số và nhu cầu dịch vụ tăng) thì hàng năm cần tuyển dụng trên dưới 1.000 (giáo dục trên dưới 800 và ngành Y- Dược trên dưới 200).
 Đi tìm việc làm trong cả nước, nhất là tại các khu công nghiệp và xuất khẩu lao động nước ngoài cũng là cơ hội và xu hướng mà các bạn trẻ Sơn La cần tăng cường tiếp cận.
***
Những dự báo trên là xu hướng, còn số liệu cụ thể chỉ là tương đối. Các cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo, phụ huynh và nhất là các bạn trẻ có thể tham khảo để lựa chọn ngành nghề và trình độ đào tạo, nhất là giữa học đại học, học chuyên nghiệp với học nghề. Ngành nghề nào và bậc đào tạo nào cũng có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Nếu bạn có đam mê và đáp ứng được yêu cầu trình độ, năng lực  thì chắc chắn bạn sẽ tìm kiếm được cho mình một việc làm ưng ý. Nhưng phải chấp nhận sự cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn. Làm việc trong khu vực nhà nước hay ngoài nhà nước  đều có giá trị và cơ hội thu nhập và thăng tiến, có khi khu vực ngoài nhà nước thu nhập cao hơn. Đối với sản xuất kinh doanh thì  cơ hội việc làm chủ yếu là khu vực tư nhân. Đối với sự nghiệp (y tế, giáo dục…) thì trước mắt khu vực công lập có cơ hội nhiều hơn, nhưng tương lai sẽ thay đổi, chuyển dịch. Mọi trình độ đào tạo đều có cơ hội tìm kiếm việc làm, nhưng xét tổng thể thị trường cả nước và xuất khẩu lao động thì học nghề có cơ hội nhiều hơn. Đi làm cho người khác hoặc cùng nhau hợp tác để khởi nghiệp, tạo ra việc làm đều có cơ hội. Thách thức cần vượt qua là kỹ năng nghề nghiệp, ngoại ngữ và tác phong công nghiệp. Quan trọng nhất là thực học, thực hành và sắn sàng thích ứng với sự thay đổi của công nghệ và phương pháp quản lý.
Hải Thành
Tài liệu tham khảo chính
1.Top 10 ngành nghề có nhu cầu nhân lực nhiều nhất ở Việt Nam trong tương lai. Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh, Falmi
2. Dự báo nhu cầu nhân lực của các ngành hội nhập. Viện nghiên cứu đào tạo Việt Anh, Đại học Đà Nẵng, VN.UK
3. Số liệu thống kê. Tổng cục thống kê http://www. gso.gov.vn
4. Số liệu thống kê tỉnh Sơn La. Cục thống kê tỉnh.
5. Quyết định 1216/QĐ-TTg năm 2011 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoàn 2011-2020, thuvienphapluat.vn
6.Nghị quyết 23/NQ-HĐND tỉnh năm 2011 về phát triển nhân lực tỉnh Sơn La giai đoạn 2011 – 2020, thuvienphapluat.vn
7. Quyết định số 03/QĐ-UBND của UBND tỉnh Sơn La năm 2012 phê duyệt đề án đào tạo nghề cho cho lao động nông thôn đến năm 2020.
8. Quy hoạch phát triển nhân lực các ngành, thuvienphapluat.vn, internet.

 

 
 

Số lần đọc : 1001   Cập nhật lần cuối: 29/01/2019

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 5542966

Số người Onlne: 71