Nghiên cứu → Giáo dục - Đào tạo

Vấn đề tái cơ cấu hoạt động khoa học công nghệ ở tỉnh Sơn La


 

 

 

 
VẤN ĐỀ TÁI CƠ CẤU HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ Ở TỈNH SƠN LA
 
“Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác khoa giáo, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV”
                                                         Phan Đức Ngữ
                                                      CVCC, nguyên PCT Liên hiệp các Hội KH&KT
 


Đ/c Đinh Thị Bích Thảo, Ủy viên BTV, Trưởng ban Tuyên giáo tỉnh ủy và Đ/c Phạm Văn Thủy, Ủy viên BCH Đảng bộ tỉnh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì Hội thảo
 
Ngày 04/10/2019, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Kế hoạch số 163/KH-TU thực hiện Kết luận 50/KL-TW ngày 30/5/2019 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về phát triển Khoa học và Công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
          Một trong những việc quan trọng được xác định (Tại trang 5, Tiểu mục 6, Mục II) trong Kế hoạch của Ban Thường vụ tỉnh ủy là: “Xây dựng Đề án tái cơ cấu hoạt động khoa học công nghệ, bảo đảm hài hòa, hiệu quả giữa các lĩnh vực: Nghiên cứu khoa học  công nghệ; chuyển giao ứng dụng khoa học công nghệ; phong trào sáng kiến, khởi nghiệp sáng tạo; thẩm định công nghệ; sở hữu trí tuệ; Tiêu chuẩn-Đo lường-Chất lượng; Giải thưởng, Hội thi, Cuộc thi sáng tạo khoa học công nghệ; Tăng cường tiềm lực Khoa học công nghệ.”
 Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh chủ trương: “Đẩy mạnh đổi mới, sáng tạo”(Chủ đề và Mục tiêu tổng quát): “Tập trung nghiên cứu, triển khai, ứng dụng  công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, tiến bộ khoa học, kỹ thuật, nhất là công nghệ quản lý vào các lĩnh vực, phục vụ phát triển kinh tế-xã hội”; “Nghiên cứu lộ trình xây dựng trung tâm quốc gia nghiên cứu về khoa học công nghệ cao trong nông nghiệp tại huyện Mộc Châu” (Nhiệm vụ thứ 5 của Nghị quyết).
          Khoa học công nghệ cùng với Giáo dục & đào tạo là quốc sách hàng đầu trong nhiệm kỳ này được tỉnh đặc biệt quan tâm, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo.
          I.  Khái quát tình hình
Hoạt động KHCN gồm nhiều lĩnh vực: (1) Nghiên cứu KH&CN; (2) Chuyển giao ứng dụng công nghệ mới; (3) Thẩm định công nghệ các dự án đầu tư; (4) Tiêu chuẩn-Đo lường - Chất lượng; (5) Sáng kiến, Hội thi, Giải thưởng; (6) Thông tin, phổ kiến kiến thức; (7) Tăng cường tiềm lực KH&CN... Ở tầm địa phương, trong thực tế, các hoạt động chuyển giao ứng dụng công nghệ, thẩm định công nghệ các dự án đầu tư, phong trào sáng kiến, Quản lý Tiêu chuẩn-Đo lường-Chất lượng... có tác dụng thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển lớn hơn là nghiên cứu KHCN cấp tỉnh.
          Trong 10 năm (2010-2020), ngân sách địa phương đầu tư cho KHCN toàn tỉnh hơn 315 tỷ đồng (Không tính chi phí bộ máy KH&CN), đầu tư phát triển (Tăng cường tiềm lực) gần 110 tỷ đồng, chiếm 35%, kinh phí SNKH đầu tư cho nghiên cứu trên 155 tỷ, chiếm 49%, các hoạt động khác hơn 50 tỷ, chiếm 16%.
           Nghiên cứu KH&CN được đầu tư lớn nhất. Chuyển biến rõ nét nhất là trong lĩnh vực phát triển tài sản trí tuệ (Xây dựng chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, chứng nhận xuất xứ... hàng hóa). Còn lại, nhìn chung5 năm thực hiện cơ chế đặt hàng trong nghiên cứu KH&CN, chưa mang lại và rất khó mang lại kết quả như mong muốn. Rất dễ nhận thấy, đó là kết quả nghiên cứu của các đề tài rất ít công bố trên các ấn phẩm KHCN, số công bố mới là trên các ấn phẩm thông thường, chưa phải là các ấn phẩm có uy tín. Sáng chế, giải pháp hữu ích hay tiến bộ kỹ thuật chưa có nghiên cứu nào được công nhận. Rất ít sản phẩm KHCN được thương mại hóa hoặc chuyển thành chủ trương, cơ chế, chính sách của tỉnh... Nguyên nhân chủ yếu là nguồn đề xuất đặt hàng vẫn như cũ, hầu hết là từ cơ quan hành chính, sự nghiệp công lập, rất ít nguồn từ khu vực doanh nghiệp. Kinh phí, Hội đồng tư vấn và sản phẩm nghiên cứu đều là của Nhà nước, vẫn tách khỏi thị trường như cũ.
          Một số tiến bộ khác đáng ghi nhận của tỉnh Sơn La là gần đây đã có 01 tác giả được cấp bằng độc quyền sáng chế; và hiện có 4 đơn đã được tiếp nhận và đăng bạ (Điều mà hàng nhiều thập kỷ nay chưa có). Hằng năm có 5-7 tác giả được cấp bằng lao động sáng tạo; có 5 doanh nghiệp và cơ sở sản xuất khởi nghiệp từ sản phẩm sáng tạo của chính mình. Hai tác giả được vinh danh toàn quốc là nhà sáng chế trẻ không chuyên; 12 tác giả được vinh danh cấp tỉnh do đạt giải cao hội thi sáng tạo cấp tỉnh, cấp toàn quốc. 04 tác giả được vinh danh toàn quốc trí thức vì sự nghiệp phát triển nông nghiệp và nông thôn, 02 tác giả được vinh danh toàn quốc là nhà khoa học của nhà nông. Đặc biệt, có 02 tác giả và 02 công trình được vinh danh trong sách vàng sáng tạo KHCN Việt Nam. Có một tác giả trẻ là học sinh, nay là sinh viên đạt giải Nhất Huy chương vàng toàn quốc và giải Nhì Huy chương bạc quốc tế về công nghệ thông tin. Các tác giả đạt giải cao và được vinh danh không những là vinh dự của cá nhân mà còn mang vinh dự về cho tỉnh nhà. Những kết quả đó là công trình do cá nhân và doanh nghiệp đầu tư. Chứng tỏ, khu vực này có tiềm năng, khi được khuyến khích, hỗ trợ thì có thể được phát huy.
          Đến nay, Sơn La thuộc tốp các tỉnh chưa thành lập Quỹ KH&CN đa năng để tài trợ cho hoạt động như nghiên cứu KH&CN, khởi nghiệp sáng tạo, hội thi, cuộc thi Sáng tạo KH&CN, giải thưởng KH&CN... Thực tế tỉnh mới có hội thi Sáng tạo kỹ thuật, cuộc thi sáng tạo thanh thiếu niên nhi đồng, chưa có giải thưởng KHCN, hội thi khởi nghiệp sáng tạo, hội thi thắp sáng thương hiệu không được duy trì...
          Ở tỉnh ta, vấn đề nghiên cứu KH&CN đã được quan tâm, nhưng về các lĩnh vực khác thì trong nhiều năm, rất ít hội nghị, hội thảo chuyên đề. Như vấn đề hỗ trợ chuyển giao, ứng dụng công nghệ cho các doanh nghiệp, nâng cao chất lượng thẩm định công nghệ các dự án đầu tư; vấn đề đầu tư tăng cường tiềm lực KHCN; Vấn đề sở hữu trí tuệ, Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng trong điều kiện thị trường; Phong trào sáng kiến (Mới thiên về phục vụ thi đua khen thưởng trong khu vực công lập, chưa được khuyến khích mạnh ở tầm xã hội).
          II. Một số vấn đề tái cơ cấu hoạt động KHCN ở Sơn La
Đầu tư nghiên cứu KHCN chiếm trên 70% kinh phí SNKH, nên cần phải được quan tâm trước hết.
1. Tái cơ cấu đầu tư của nhà nước nên theo hướng:
- Nhà nước đầu tư những nhiệm vụ KH&CN mà sản phẩm có tính chất công ích, không hoặc không cần đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, không mua bán, chuyển nhượng. Đó là các nhiên cứu cơ bản, nghiên cứu trực tiếp phục vụ quốc phòng an ninh, nghiên cứu phục vụ cho việc hoạch định của Đảng và Nhà nước về chủ trương, chính sách mang tính đột phá.
Nhưng ngân sách hạn chế hoặc không đầu tư đề tài chồng chéo với nhiệm vụ thường xuyên của các tổ chức KH&CN công lập, các cơ quan tham mưu của cấp ủy, cơ quan chuyên môn của HĐND, UBND, các tổ chức tư vấn chuyên nghiệp (Theo quan sát công tác quản lý nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh, có khoảng 30% đề tài, đề án trong lĩnh vực KH&KT trùng với chức năng, nhiệm vụ chuyên môn thường xuyên của các đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức tư vấn chuyên nghiệp, còn trong lĩnh vực khoa học xã hội- nhân văn và quản lý cũng có khoảng 30% trùng với chức năng, nhiệm vụ chuyên môn thường xuyên của các đơn vị chuyên môn của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh).
 - Ưu tiên hỗ trợ các dự án của doanh nghiệp trong các lĩnh vực, như phát triển tài sản trí tuệ (Xây dựng chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập thể, chứng nhận xuất xứ), các dự án chuyển giao ứng dụng công nghệ mới, công nghệ cao của doanh nghiệp; các dự án khởi nghiệp sáng tạo (Thành lập doanh nghiệp trên cơ sở công nghệ, sản phẩm của chính bản thân doanh nghiệp). Với cơ chế, doanh nghiệp cùng đầu tư, Nhà nước hỗ trợ bằng nhiều hình thức với mức tối đa trong khung quy định của Nhà nước.
- Tăng cường hình thức khảo sát, hội thảo khoa học thay cho đề tài, dự án hay đề án KH&CN, nhất là trong lĩnh vực khoa học xã hội - nhân văn và quản lý. Để tránh ban hành chủ trương chay, việc khảo sát, điều tra xã hội học và hội thảo khoa học là hình thức phù hợp nhất đối với việc phục vụ chuẩn bị ra chủ trưởng của cấp ủy, HĐND, UBND tỉnh. Việc này ít tốn thời gian và kinh phí so với thực đề tài KH&CN cấp tỉnh, nhưng lại có hiệu ứng cao hơn.
Theo hướng trên, có khả năng giảm được 30-40% số lượng đề tài, đề án do Nhà nước đầu tư 100% kinh phí (Tương ứng giảm trên 5-6 tỷ đồng/năm) để  tăng hỗ trợ các dự án chuyển giao ứng dụng công nghệ mới, công nghệ cao của doanh nghiệp và tăng các hội thảo cấp tỉnh.
2. Tái cơ cấu hình thức nhiệm vụ KHCN giữa các lĩnh vực
Từ 2015 đến 2020, tỉnh Sơn La có gần 90 nhiệm vụ KHCN cấp tỉnh, bình quân 15  nhiệm vụ/năm, thấp hơn giai đoạn 2010-2015 (18 nhiệm vụ/năm). Cơ cấu đề tài 83%, đề án 2%, dự án 15%. So với khối địa phương thì Sơn La nhiều đề tài hơn và ít đề án, dự án hơn. So với cấp Trung ương thì càng chênh lệch, cấp nhà nước và cấp bộ 65% là đề tài, 25% là dự án và 10% là đề án.
Ở Sơn La, Khối các ngành nông lâm nghiệp (gồm trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy lợi, thủy sản, bảo vệ thực vật…) 45%; Khối các ngành công nghiệp (Công Thương, Xây dựng, GTVT, Tài nguyên môi trường, Công nghệ thông tin...) 15%; Khối các ngành xã hội và nhân văn (gồm Y dược, Giáo dục đào tào, Văn hóa, an ninh, kinh tế, lich sử…): 40%. Trong khi đó, ở cấp Trung ương các ngành kỹ thuật và công nghệ trên 70%, nông nghiệp 10%, khoa học xã hội nhân văn 10%, các ngành khác 10%.
Có thể nói, cơ cấu nhiệm vụ KHCN ở cấp Trung ương tạo ra sản phẩm thương mại và ứng dụng cao hơn cấp tỉnh, nhất là nhóm các tỉnh có cơ cấu tương đồng như tỉnh Sơn La. Do đó, Sơn La cần tham khảo để điều chỉnh cho hợp lý hơn theo hướng giảm đề tài, tăng dự án và đề án, nhất là dự án; giảm xã hội, tăng kỹ thuật và công nghệ (Thời gian vừa qua, chúng ta đầu tư chồng chéo giữa đề tài KHCN cấp tỉnh với chức năng, nhiệm vụ thường xuyên của các cơ quan hành chính, sự nghiệp nên đề tài xã hội chiếm tỷ trọng lớn).
3. Đổi mới quản lý đề tài do ngân sách  nhà nước đầu tư
(1) Thực hiện đúng quy định của Luật KHCN và các văn bản quy phạm khác. Chủ trì thực hiện nhiệm vụ KH&CN là các tổ chức KH&CN (Bao gồm các trường đại học), các doanh nghiệp KH&CN, có đăng ký hoạt động KHCN. Ở Sơn La, các đơn vị hành chính, sự nghiệp không phải là tổ chức KH&CN cũng chủ trì thực hiện đề tài, dự án, đề án KH&CN ngang với các tổ chức KH&CN. Cần phải được điều chỉnh lại, hạn chế các đơn vị hành chính, sự nghiệp nhận chủ trì nhiệm vụ KH&CN trùng với chức năng, nhiệm vụ thường xuyên.
(2) Nhà nước quy định thành lập hội đồng tư vấn xác định nhiệm vụ KH&CN theo chuyên ngành hoặc theo nhóm ngành có quan hệ chặt chẽ với nhau, thành lập Hội đồng theo nhóm đề tài, dự án riêng, theo nhóm đề án riêng. Mỗi đề xuất đặt hàng có 02 ủy viên phản biện.
Hiện Sơn La thuộc nhóm tỉnh thành lập 3 hội đồng theo ba khối (Nông nghiệp, Công nghiệp và Xã hội -Nhân văn), mỗi khối gồm nhiều ngành KHCN không có quan hệ về chuyên môn với nhau, Hội đồng không phân biệt đề tài, dự án hay đề án; Mỗi hội đồng chỉ có 02 ủy viên phản biện chung cho hàng chục hồ sơ gồm nhiều ngành khác nhau. Dẫn đến ủy viên phản biện chỉ được đào tạo một vài chuyên ngành lại đi phản biện cho rất nhiều chuyên ngành khác nhau. Đó là điều bất cập, rất cần được xem xét để điều chỉnh.
 (3) Sơn La là tỉnh duy nhất trong cả nước xác định danh mục nhiệm vụ KH&CN của nguồn từ cơ sở, ngành và huyện đề xuất lên. Sau đó, Thường trực HĐND, UBND Ban Thường vụ tỉnh ủy mới xem xét, thêm, bớt (Thường 30-40%). Sẽ tốt hơn, khi lãnh đạo tỉnh chỉ đạo đặt hàng đồng thời với việc đề xuất từ cơ sở lên thì hội đồng có căn cứ nguồn đầy đủ để xác định chuẩn xác hơn, nhanh gọn hơn (Như cấp trung ương và các tỉnh khác đang thực hiện).
(4) Vấn đề rất cơ bản là chuyển đầu tư trực tiếp từ nguồn ngân sách theo niên độ năm tài chính sang đầu tư qua Quỹ KHCN thường xuyên, liên tục. Trong khi chưa thành lập được Quỹ KHCN cấp tỉnh thì cũng có thể chuyển một đợt sang làm 2-3 đợt như Trung ương và nhiều tỉnh đã và đang thực hiện.
(5) Quản lý nghiên cứu KH&CN ở tỉnh ta đang chặt chẽ ở đầu vào, nhưng lại đang lỏng ở việc kiểm soát sản phẩm đầu ra. Cần kiểm soát chặt chẽ hơn sản phẩm đầu ra theo các tiêu chí để đánh giá chất lượng và hiệu quả nghiên cứu KH&CN, đó là (1) Công bố khoa học trên các ấn phẩm trong nước và quốc tế; (2) Được cấp Bằng sáng chế và giải pháp hữu ích trong nước hay nước ngoài; (3) Mua bán, chuyển nhượng sản phẩm KHCN; (4) Được (tỉnh hay bộ chuyên ngành) công nhận tiến bộ kỹ thuật, được cho phép và khuyến khích ứng dụng; (5) Được ứng dụng vào thực tế, được chuyển giao mở rộng, được chuyển hóa thành chủ trương, cơ chế chính sách của tỉnh. (6) Được cấp bằng lao động sáng tạo, Giải thưởng KHCN cấp tỉnh hay giải thưởng sáng tạo KHCN Việt Nam, Giải thưởng Nhà nước, Giải thưởng Hồ Chí Minh về KHCN...
4. Tăng đầu tư cho các hoạt động KHCN khác
Như trên đã đề cập, đồng thời với nghiên cứu KHCN, hoạt động KH&CN còn nhiều lĩnh vực khác. Đó là Thẩm định công nghệ các dự án đầu tư; Tiêu chuẩn-Đo lường - Chất lượng, Sỡ hữu trí tuệ, Sáng kiến, Hội thi, Giải thưởng; Khởi nghiệp sáng tạo; Thông tin, phổ kiến kiến thức...
-  Công tác thẩm định công nghệ sản xuất và công nghệ xử lý môi trường của các dự án đầu tư có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển bền vững, nhưng công việc này ở cấp tỉnh còn lúng túng, hạn chế, có mặt còn hình thức, đối phó, hợp lý hóa. Tỉnh cần tăng cường chỉ đạo, có những hội nghị, hội thảo thảo chuyên đề, có khung pháp lý chặt chẽ hơn và bảo đảm kinh phí thuận lợi nhất đề nâng cao chất lượng hoạt động này.
- Có cơ chế, chính sách hỗ trợ đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo. Tỉnh đã có đề án, nhưng phải chuyển hóa thành văn bản quy phạm ở tầm HĐND tỉnh về cơ chế, chính sách, định mức và nguồn vốn. Tăng Giải thưởng Hội thi sáng tạo KH&KT, Cuộc thi sáng tạo TTNNĐ (từ nhóm tỉnh thấp lên nhóm tỉnh khá trong khung quy định của Nhà nước); Tổ chức thêm một số hội thi như Hội thi thắp sáng thương hiệu, Hội thi ý tưởng sáng tạo, Giải thưởng KHCN cấp tỉnh, Giải thưởng báo chí KHCN.... Giải thưởng nên ở mức nhóm các tỉnh khá trong khung quy định của Nhà nước (vận dụng tối đa 80% mức toàn quốc).
- Tăng cường tiềm lực KH&CN. Tổng kết đánh giá hiệu quả đầu tư tăng cường tiềm lực KH&CN 10 năm qua. Cùng với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sớm tiến hành quy hoạch xây dựng Trung tâm quốc gia nghiên cứu về khoa học công nghệ cao trong nông nghiệp tại huyện Mộc Châu. Ưu tiên vốn đầu tư (thuộc nguồn đầu tư xây dựng cơ bản cho lĩnh vực KH&CN) của tỉnh để cùng Trung ương tham gia đầu tư các hạng mục thích hợp của trung tâm này.
- Tổ chức hội nghị, hội thảo chuyên đề về tăng cường tiềm lực KHCN, đánh giá công nghệ sản xuất và xử lý môi trường các dự án đầu tư, đề án phổ biến kiến thức KHCN, phong trào sáng kiến tầm xã hội...
(Thu hẹp phạm vi đầu tư của Nhà nước trong nghiên cứu KHCN và kiểm soát chặt chẽ hơn quy mô đầu tư đề tài, dự án, đề án KHCN thì hoàn toàn có nguồn để tăng đầu tư cho các lĩnh vực nói trên)
5. Đổi mới kênh đầu tư
- Chuyển đổi hình thức đầu tư trực tiếp nguồn ngân sách nhà nước. Chuyển đầu tư trực tiếp từ kênh tài chính (Khống chế thời hạn theo niên độ năm tài chính), sang kênh đầu tư của hệ thống Quỹ phát triển KHCN (Thường xuyên, liên tục).
- Thành lập Quỹ phát triển KH&CN cấp tỉnh để làm nhiệm vụ đa năng, vừa đầu tư các nhiệm vụ Nhà nước đặt hàng, vừa tài trợ, cho vay ưu đãi, bảo lãnh vay vốn, thậm chí góp vốn để ươm tạo công nghệ với các nhiệm vụ do doanh nghiệp, tổ chức KHCN và cá nhân đầu tư. Quỹ này cũng làm nhiệm vụ hỗ trợ cho các Hội thi, Cuộc thi sáng tạo, Giải thưởng KHCN, Khởi nghiệp sáng tạo...(Chức danh lãnh đạo của Quỹ có thể kiêm nhiệm. Cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ có để điều chuyển sắp xếp lại giữa Sở Khoa học & công nghệ và Trung tâm Thông tin và ứng dụng KH&CN (trên 30 biên chế)

 

Khuyến kích thành lập Quỹ phát triển KHCN của doanh nghiệp, kết nối với quỹ của tỉnh./.
 
 

 

Số lần đọc : 177   Cập nhật lần cuối: 08/03/2021

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 10809734

Số người Onlne: 40