Nghiên cứu → Đa chiều

Vấn đề phát triển trong Báo cáo chính trị đại hội đảng bộ cấp tỉnh


 



Vấn đề phát triển trong Báo cáo chính trị đại hội đảng bộ cấp tỉnh
 
                                                                                       Phan Đức Ngữ
                                                                CVCC, PCT Liên hiệp các hội KH&KT Sơn La
 
            Nhiệm kỳ đại hội (2015-2020), hầu hết các tỉnh, thành phố (gọi chung là tỉnh) đều đặt ra mục tiêu “phát triển kinh tế nhanh, bền vững”, nhiều tỉnh còn đặt ra mục tiêu về “thứ hạng phát triển” trong vùng, bây giờ đã đến lúc cần được đánh giá. Nhiệm kỳ đại hội sắp tới (2020-2025), các tỉnh tiếp tục đặt ra mục tiêu “phát triển kinh tế nhanh, bền vững”, hoặc “phát triển nhanh, bền vững”; Có một số tỉnh vẫn tiếp trục kết hợp gắn với mục tiêu về thứ hạng phát triển trong vùng. Tương tự, dự thảo báo cáo chính trị đại hội của đa số đảng bộ cấp huyện cũng đặt ra mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, nhiều huyện cũng đặt ra cả mục tiêu thứ hạng phát triển trong tỉnh. Nhưng tiêu chí phát triển nhanh, bền vững cũng như tiêu chí và phương pháp đánh giá thứ hạng phát triển trong vùng, trong tỉnh  thì còn ít được nghiên cứu. Bài viết này góp phần làm sáng tỏ vấn đề, tuy đề cập đến cấp tỉnh nhưng cả cấp tỉnh và  cấp huyện đều có thể tham khảo.
            I. Phát triển nhanh và bền vững
            1. Phát triển kinh tế nhanh, bền vững hay phát triển nhanh, bền vững
Phát triển kinh tế nhanh, bền vững làlấy kinh tế làm đại diện.Kinh tế phát triển nhanh, bền vững là kinh tế tăng trưởng cao so với mặt bằng chung và được duy trì trong nhiều năm. Còn phát triển nhanh, bền vững là phát triển chung về kinh tế xã hội, trong đó, kinh tế cũng tăng trưởng cao, được duy trì trong nhiều năm; xã hội được thúc đẩy tiến bộ và công bằng, không làm gia tăng mâu thuẫn và xung đột; Môi trường không bị suy thoái, các nguồn tài nguyên không bị khai thác thô cạn kiệt... Tức là vừa phát triển trước mắt vừa tạo nền tảng để phát triển đường dài.
Đại hội XI (nhiệm kỳ 2011-2015) và đại hội XII (nhiệm kỳ 2016-2020) của đảng ta đều đặt mục tiêu tổng quát là ... phát triển kinh tế nhanh, bền vững...”. Thực chất tuy lấy kinh tế làm đại diện, nhưng điều kiện bền vững lại kết hợp phát triển các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường bằng hệ thống các chỉ tiêu cụ thể. Chương trình quốc gia về phát triển bền vững (2015-2030) của Việt Nam cũng bao gồm hệ thống các chỉ tiêu cụ thể trên 3 lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường.
Chỉ tiêu đại hội đảng, ở thời điểm  kết thúc nhiệm kỳ đại hội X, (năm 2010), GDP bình quân đầu người của nước ta mới 1.310 USD, thì chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm được đặt ra cho nhiệm kỳ (2011-2015) là 7,0-7,5%/năm; Ở thời điểm kết thúc nhiệm kỳ đại hội XI (năm 2015), thực tế GDP bình quân đầu người đã tăng lên 2.065 USD, thì tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm được đặt ra 6,5 - 7%/năm. Dự báo, năm 2020, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 3.000 USD, giai đoạn 2021-2025, khả năng kinh tế nước ta tiếp tục tăng trưởng trên dưới 7%.
Mục tiêu quóc gia phát triển bền vững (2015-2030) có tốc độ tăng trưởng thấp hơn một chút, 5-6%/năm, tăng trưởng GDP bình quân đầu người 4-4,5%/năm.
Hiện nay, kinh tế thế giới, các châu lục và các nước phát triển đang có mức tăng trưởng 1-3%/năm, nhưng GDP bình quân đầu người đã rất cao (bình quân thế giới trên 5000 USD, các nước phát triển trên 10.000 USD, các nước phát triển cao nhiều chục ngàn USD). Việt Nam thuộc nhóm các nước có GDP bình quân đầu người đang ở mức trung bình thấp (2.800 USD/2019, dự báo 3.000 USD vào 2020), trong khi tỷ lệ tăng dân số lại cao hơn mức bình quân của thế giới. Với mức tăng trưởng kinh tế trên dưới 7% (vào tốp đầu của khối Asean và Châu Á), và duy trì trong nhiều năm thì được coi là cao, phát triển nhanh.
Như vậy, mục tiêu tổng quát dù là Phát triển kinh tế nhanh, bền vững” , hoặc ”Phát triển nhanh, bền vững” hay ” Phát triển bền vững”, thì đều được thể hiện bằng hệ thống các chỉ tiêu cụ thể đồng bộ, toàn diện về kinh tế, xã hội và môi trường, trong đó, kinh tế là trung tâm, là đại diện. Nguyên tắc chung là xuất phát điểm phát triển càng thấp (giá trị tuyệt đối hoặc tỷ lệ phần trăm của chỉ tiêu hiện đang thấp) thì tốc độ tăng trưởng càng phải cao so với mặt bằng chung. Một mức độ tăng trường đặt ra phải được duy trì, tối thiểu 5 năm (đối với mục tiêu đại hội), 10-15 năm (đối với chương trình, mục tiêu phát triển bền vững).
2. Chỉ tiêu thể hiện sự phát triển nhanh và bền vững ở cấp tỉnh. 
Mục tiêu tổng quát của đa số đảng bộ tỉnh trong 02 nhiệm kỳ cũng là phát triển kinh tế nhanh, bền vững, hoặc phát triển nhanh, bền vững. Các tỉnh cũng có chương trình, mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030 với các chỉ tiêu trên 3 lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường.
Số lượng chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội của các tỉnh khác nhau. Các chỉ tiêu thuộc hệ thống đại hội đảng bộ cấp tỉnh và Nghị quyết của HĐND tỉnh về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm hay hàng năm thường có từ 15-30 chỉ tiêu, còn thuộc chương trình, mục tiêu phát triển bền vững có 120-160 chỉ tiêu. Để thể hiện được nội hàm Nhanh, Bền vững thì phải có một số chỉ tiêu đại diện.
2.1. Các nhóm chỉ tiêu đại diện:
2.1.1.Về kinh tế. Phổ biến các tỉnh cũng phải có mức tăng trưởng tối thiểu 7% trở lên mới gọi là phát triển nhanh. Các tỉnh, thành phố có GRDP bình quân đầu người cao trên 5.000 USD thì có thể ít nhiều thấp hơn, nhưng ngược lại, các tỉnh đang thấp, dưới 3000 USD thì tốc độ tăng trưởng phải cao hơn mức bình quân cả nước.
         Cần áp dụng 3 chỉ tiêu. (1)Tăng trưởng GRDP bình quân 5 năm; (2) Tăng trưởng GRDP bình quân đầu người; (3). Tăng trưởng Thu ngân sách trên địa bàn về giá trị và tỷ lệ tự cân đối của địa phương.
           2.1.2. Về xã hội. 
          2.1.2.1.Nhóm chỉ tiêu đời sống. (1) Tăng trưởng thu nhập dân cư bình quân đầu người; (2). Tỷ lệ giảm hộ nghèo đa chiều.
            2.1.2.2. Nhóm chỉ tiêu học vấn. (1) Tăng trưởng tỷ lệ học sinh phổ thông các cấp đi học; ( 2) Tăng trưởng tỷ lệ lao động được đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ
           2.1.2.3. Nhóm chỉ tiêu về sức khỏe.( 1) Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng ; (2) Giảm tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi; (3) Tăng tuổi thọ bình quân của dân cư
            2.1.3. Môi trường. (1) Tăng trưởng tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải(chất thải sản xuất, chất thải sinh hoạt, chất thải y tế; ( 2) Tăng trưởng tỷ lệ sử dụng nước sạch ở đô thị và nước hợp vệ sinh ở nông thôn; (3) Giảm sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật/ ha canh tác; (4).Tăng trưởng tỷ lệ độ che phủ rừng
2.2. Mức độ các chỉ tiêu bảo đảm sự phát triển nhanh và bền vững.
2.2.1.Giá trị tuyệt đối của các chỉ tiêu hiện đã đạt được ở năm 2019 và dự báo đạt được ở năm 2020.
Trường hợp thuộc tốp cao(ví dụ GRDP bình quân đầu người của Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, Bắc Ninh, Ba rịa vũng Tàu, ...). Thì tỷ lệ tăng trưởng giai đoạn 2021-2025 đặt ra không nhất thiết cao hơn mặt bằng chung của vùng hoặc cả nước, nhưng phải ở mức bảo đảm không bị tụt hạng.
Trường hợp thấp hơn mặt bằng chung. Những địa phương hiện đang có trình độ phát triển thấp thì tỷ lệ tăng dân số thường lại cao. Tốc độ tăng trưởng đặt ra phải cao hơnmặt bằng chung của vùng hoặc cả nước. Tốc độ tăng trưởng tối thiểu được tính như sau:
Tính theo vùng: Tốc độ tăng trưởng của vùng nhân với(.) tỷ lệ tăng dân số của tỉnh/tỷ lệ tăng dân số của vùng.
Tính theo cả nước: Tốc độ tăng trưởng của cả nước nhân với(.) tỷ lệ tăng dân số của tỉnh/tỷ lệ tăng dân số của cả nước.
Có như vậy mới bảo đảm sự chênh lệch được thu hẹp dần, ngược lại sẽ bị doãng cách ra. Những chỉ tiêu tính theo chiều giảm (tỷ lệ và mức độ giảm hộ nghèo, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng và tỷ suất chết trẻ em trẻ em dưới 5 tuổi) thì mức giảm đặt ra phải cao hơn mức trung bình của vùng hoặc cả nước).
2.2.2. Thời gian duy trì mức tăng trưởng đặt ra.
Tối thiểu trong một giai đoạn 5 năm, kéo dài 10 năm hay 15 năm thì càng thể hiện sự phát triển nhanh và bền vững.
            II. Thứ hạng phát triển.  
            1. Muc tiêu về thứ hạng phát triển của các tỉnh.
            Từ năm 2001, nước ta được quy hoạch theo các vùng kinh tế xã hội cơ bản, đến năm 2006 được điểu chỉnh ổn định thành 6 vùng cho đến bây giờ.  
            (1)Vùng Trung du và miền núi phía Bắc(gồm 14 tỉnh). (2) Vùng Đồng bằng sông Hồng(gồm 11 tỉnh/thành; (3) Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung(gồm 14 tỉnh/thành);(4)Vùng Tây Nguyên(gồm 5 tỉnh);(5)Vùng Đông Nam Bộ(gồm 6 tỉnh/thành); (6) Vùng Đồng bằng sông Cửu Long(gồm 13 tỉnh/thành).
            Nhiệm kỳ đại hội 2016-2020, nhiều tỉnh đặt ra mục tiêu về thứ hạng phát triển trong vùng. Có 4 mức thứ hạng, cao nhất là  tỉnh thuộc tốp dẫn đầu, thứ nhì tốp phát triển Khá, thứ ba là tốp Trung bình khá, cuối là tỉnh thuộc tốp Trung bình. Ví dụ, đối với vùng TD&MNPB, có 4 tỉnh đặt ra mục tiêu trở thành tỉnh phát triển thuộc tốp dẫn đầu(Thái Nguyên, Bắc Giang, Phú Thọ, Lào Cai), 5 tỉnh trở thành tỉnh phát triển khá( Hòa Bình, Sơn La, Yên Bái, Lạng Sơn,Tuyên Quang), 5 tỉnh thuộc tốp phát triển trung bình hoặc trung bình khá (Điện Biên, Lai Châu, Cao Bằng, Bắc Kạn, Hà Giang).
             2. Lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá, xếp hạng.
            Việc đánh giá thứ hạng phát triển khá phức tạp. Vì hệ thống các chỉ tiêu kinh tế xã hội của các tỉnh rất phong phú, đa dạng, nhiều ít khác nhau, nhiều chỉ tiêu nội hàm cũng không đồng nhất, hiện chưa có cơ sở dữ liêu đầy đủ, toàn diện chung của từng vùng và từng tỉnh trong vùng. Việc đánh giá, xếp hạng là do từng tỉnh tự thực hiện, không có tổ chức nào giám sát và thẩm định. Tiêu chí và phương pháp cũng không được một ngành nào của trung ương hướng dẫn thống nhất. Trong hoàn cảnh như vậy, việc đánh giá của các tỉnh phải thực sự cầu thị, khoa học, mới được các tỉnh trong vùng đồng thuận, tâm phục, khẩu phục.
           Các chỉ tiêu lựa chọn để đánh giá nhiều quá sẽ bị rối, nhưng ít quá lại không đại diện. Không nên lựa chọn các chỉ tiêu đặc thù, mà lựa chọn các chỉ tiêu phổ quát nhất. Chủ yếu là lựa chọn những chỉ tiêu kết quả cuối cùng, hạn chế các chỉ tiêu trung gian, chỉ tiêu phân tích. Ưu tiên lựa chọn những chỉ tiêu tổng hợp, những chỉ tiêu thuộc hệ thống thống kê cấp quốc gia, cấp tỉnh, hạn chế các chỉ tiêu chuyên ngành, chỉ tiêu nằm ngoài danh mục thống kê và công bố hàng năm.
          Hệ thống các chỉ tiêu của các tỉnh được thiết kế theo 4 nhóm: Phổ quát là 3 nhóm: (1)Kinh tế;(2) Xã hội; (3) Môi trường. Nhóm 4(Nội chính) và nhóm 5(quản trị hành chính công) thì không phổ biến, tỉnh có, tỉnh không. Để đánh giá và xếp hạng phát triển thì nên chọn nhóm kinh tế làm đại diện, hoặc 02 nhóm là nhóm kinh tế và nhóm xã hội, nhưng từng nhóm cũng phải lựa chọn những chỉ tiêu đại diện nhất.
         2.1. Nhóm chỉ tiêu kinh tế. Bình quân các tỉnh thường có trên dưới 10 chỉ tiêu kinh tế. Phổ quát nhất(tỉnh nào cũng có) gồm: (1).Tốc độ tăng trưởng kinh tế; (2) GRDP); (3) Cơ cấu kinh tế; (4) GRDP/người; (5) Vốn đầu tư xã hội; (6) Xuất nhập khẩu hoặc xuất khẩu; (7) Thu ngân sách trên địa bàn.
           2. 1.1. Những chỉ tiêu cần được xếp hạng
           2. 1.1.1. Số chỉ tiêu tối thiểu: 2 chỉ tiêu
           - GRDP/người (thu nhập quốc dân/người). GRDP/ngườiphản ánh mức độ phát triển cao hay thấp, giàu hay nghèo của nền kinh tế. Về phát triển kinh tế, các nước so sánh với nhau trước hết và chủ yếu là so sánh GDP/người (quy ra USD). Các tỉnh so sánh với nhau và so với mặt bằng chung cả nước cũng nên dùng GRDP/người.
- Thu ngân sách. Thu ngân sáchcũng phản ánh tiềm lực kinh tế, mức độ giàu, nghèo của nền kinh tế. Đây là chỉ tiêu pháp lệnh duy nhất trong nền kinh tế thị trường. Nhưng thu ngân sách là thu ngân sách trên địa bàn(không tính phần cân đối của trung ương). Trong cùng một vùng, có khi tỉnh thu ngân sách cao, nhưng cũng nhận cân đối của trung ương cao. Cần xếp hạng cả giá trị tuyệt đối và tỷ lệ tự cân đối của từng tỉnh mới toàn diện và khách quan. Thứ hạng của hai cách biểu hiện này của chỉ tiêu thu ngân sách có thể đồng biến hay nghịch biến.
            2. 1.1.2. Số chỉ tiêu tối đa: 5 chỉ tiêu
            Ngoài 02 chỉ tiêu trên, có thể dùng thêm 3 chỉ tiêu.
            -Tốc độ tăng trưởng kinh tế phản ánh trang thái phát triển nhanh hay chậm. Tỉnh nào cũng đặt ra mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, nên chỉ tiêu này nên được xếp hạng. Trước năm 2017, tốc độ tăng trưởng do các tỉnh tự tính toán và công bố, từ sau 2017, do Tổng cục thống kê chủ trì tính toán và công bố,  nên độ tin cậy cao hơn. Các tỉnh nên thống nhất dùng chỉ tiêu này    
            - GRDP là tổng sản phẩm xã hội(một năm) của tỉnh, thành phố, phản ánh quy mô và tiềm lực của nền kinh tế.
            -Thu hút nguồn vốn đầu tư xã hội. Nền kinh tế tăng trưởng nhanh hay chậm phụ thuộc chủ yếu vào yếu tố thu hút nguồn lực đầu tư xã hội. Nó thể hiện sự thu hút và năng lực hấp thu nguồn vốn, tạo nền tảng duy trì sự tăng trưởng của nền kinh tế
(Các chỉ tiêu khác nhưChỉ tiêu Cơ cấu kinh tế,  Chỉ tiêu xuất khẩu hay cả xuất và nhập khẩu cũng chỉ nên tham khảo).
2.2. Nhóm chỉ tiêu xã hội. Nhóm này các tỉnh cũng thường có trên dưới 10 chỉ tiêu. Phần lớn các chỉ tiêu là chỉ tiêu chuyên ngành, chỉ tiêu trung gian và chỉ tiêu không thuộc danh mục thống kê quốc gia, rất ít chỉ tiêu tổng hợp. Nên lựa chọn một số chỉ tiêu trong số chỉ tiêu đã có và bổ sung thêm một số chỉ tiêu thuộc danh mục thống kê quốc gia liên quan đến chỉ số phát triển con người:
         2.2.1. Nhóm chỉ tiêu đời sống. Phổ quát nhất gồm có: (1) Thu nhập dân cư bình quân đầu người.(Đây là chỉ tiêu do Tổng cục thống kê tính hàng năm theo từng tỉnh,chỉ phản ánh thu nhập của dân cư, không bao gồm thuế, lợi nhuận, khấu hao và các khoản chi khác của doanh nghiệp, cho nên nó có thể đồng biến hay nghịch biến về thứ hạng của GRDP/người); (2).Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều( Chỉ tiêu này cũng có trong danh mục thống kê quốc gia chung cả nước và từng tỉnh). Các tỉnh hiện mới sử dụng chỉ tiêu (2) đưa vào báo cáo đại hội đảng bộ tỉnh và nghị quyết HĐND tỉnh. Nếu xếp hạng cả 2 chỉ tiêu thì càng chính xác về mặt đời sống.
            2.2.2. Nhóm chỉ tiêu học vấn. (1) Trình độ học vấn trung bình của dân cư( học lớp mấy); ( 2) Tỷ lệ lao động được đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ. 
          Chỉ tiêu (2) đã được Tổng cục thống kê thống kê hàng năm đến cấp tỉnh, còn chỉ tiêu (1) thì chưa. Có thể thay  bằng chỉ tiêu: (1)Tỷ lệ người lớn biết chữ, (2) Tỷ lệ học sinh phổ thông các cấp đi học(Hai chỉ tiêu này có trong số liệu thống kê  và Điều tra dân số tháng 4 năm 2019 trên mạng của Tổng cục thống kê). Các chỉ tiêu khác chỉ nên tham khảo.
          2.2.3. Nhóm chỉ tiêu về sức khỏe. (1) Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng; (2) Tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi; (3) Tuổi thọ bình quân của dân cư. Hai chỉ tiêu (1) và (2) đã được Tổng cục thống kê thống kê đến cấp tỉnh, còn chỉ tiêu(3) mấy năm gần đây cũng đã được Cục thống kê các tỉnh thống kê. Chỉ tiêu số dường bệnh và số bác sĩ/vạn dân là hai chỉ tiêu trung gian, nên tham khảo.
            3. Phương pháp đánh giá, xếp hạng
Nhiều đối tượng được nghiên cứu, đánh giá xếp hạng dựa trên tiêu chí, thang điểm và khung điểm. Tổng điểm của các chỉ tiêu thường là 100 điểm. Từng chỉ tiêu được phân bố điểm nhiều hay ít tùy theo mức độ quan trọng. Thường 80 điểm trở lên là Tốp cao, từ 65 đến dưới 80 là Tốp khá, 50-dưới 65 là Tốp trung bình, dưới 50 là Tốp thấp.
          Đánh giá xếp hạng các tỉnh sử dụng phương pháp không dùng thang điểm thì đơn giản hơn. Từng chỉ tiêu được xếp hạng từ cao xuống thấp(Từ 1 đến n - n là số tỉnh của vùng). Lấy tổng thứ hạng của tất cả các chỉ tiêu chia cho số chỉ tiêu thì được thứ hạng bình quân của tỉnh. Ví dụ, một chỉ tiêu có thứ hạng 4 và một chỉ tiêu có thứ hạng 10, thì thứ hạng trung bình của hai chỉ tiêu là(4+10)/2= 7. Trường hợp thứ hạng chung của 02 tỉnh ngang nhau thì có thể để hai tỉnh cùng chung một hạng, hoặc căn cứ vào thứ hạng chỉ tiêu thành phần quan trọng nhất để xếp hạng cao thấp. Ví dụ, lĩnh vực kinh tế, khi hai tỉnh cùng có thứ hạng ngang nhau, thì tỉnh nào có thứ hạng GRDP/người cao hơn thì có thứ hạng chung cao hơn).
         Nguyên tắc xếp hạng: Tỉnh khá phải là tỉnh có thứ hạng trên trung vị (trên tỉnh đứng giữa).Trường hợp có 02 vị trí trung vị(khi số lượng tỉnh chẵn) thì lấy vị trị đứng trên. Ví dụ, vùng TD&MNPB có 14 tỉnh( chẵn).Tốp dẫn đầu từ vị trí thứ 1 đến thứ 3. Tốp Khá từ vị trí thứ 4 đến thứ 7. Tốp Trung bình khá từ vị trí thứ 8 đến thứ 10. Tốp Trung bình từ vị trí thứ 11 đến 14.
***
Tóm lại, để đánh giá mức độ thực hiện mục tiêu của giai đoạn 2016-2020  cũng như xác định mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và thứ hạng phát triển củagiai đoạn 2021-2025 của các tỉnh thì đều cần: ( 1) Các chỉ tiêu đạt được của các năm 2016-2019 và dự báo năm 2020 của địa phương theo chuẩn chung  về chỉ tiêu và thước đo của hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia; (2.)Lựa chọn, tích hợp các chỉ tiêu đại diện thuộc hệ thống các chỉ tiêu đại hội đảng bộ tỉnh giai đoạn 2021-2025 và hệ thống chỉ tiêu thuộc chương trình phát triển bền vững đến năm 2030 đã được phê duyệt của địa phương; (3). Phải nắm được các chỉ tiêu đại diện tương ứng của cả nước và của từng tỉnh trong vùng so sánh.
Thực tế đạt được hay mục tiêu phấn đấu có thể ở các mức độ: Nhanh và bền vững; Nhanh nhưng chưa bền vững; Hợp lý, bền vững; Chậm và chưa bền vững.
Thực tế đạt được hay mục tiêu đặt ra về thứ hạng phát triển thì  có thể xếp hạng riêng về thứ hạng phát triển kinh tế và thứ hạng chung về phát chùng về triển kinh tế - xã hội. Thứ hạng dễ xếp nhất là thuộc trong 4 mức: Tốp dẫn đầu, Tốp khá, Tốp trung bình khá và Tốp trung bình./.
 
            Tài liệu tham khảo chính: 
 (1.) Nghị quyết đại hội đảng toàn quốc lần thứ XI, XII. (2). Báo cáo chính trị và Nghị quyết đại hội nhiệm kỳ 2011-2015, 2016-2020, dự thảo báo cáo chính trị nhiệm kỳ 2021-2025 của đảng bộ các tỉnh, thành phố. (3).Chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam 2011-2020. (4).Chương trình mục tiêu phát triển cấp toàn cầu, cấp quốc gia và cấp tỉnh của Việt Nam đến 2030. (5).Số liệu Kinh tế xã hội trên mạng của Tổng cục thống kê. (6).ThS. Nguyễn Thị Loan Anh. Phát triển kinh tế nhanh, bền vững gắn với phát triển bao trùm ở Việt Nam. tcquanlynhanuoc, học viện chính trị quốc gia, 2019.
 
 
 

Số lần đọc : 407   Cập nhật lần cuối: 25/05/2020

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 9733730

Số người Onlne: 10