Nghiên cứu → Lịch sử

Tổ trưởng thanh niên cứu quốc Mường La Cầm Văn Thinh


 

 

TỔ TRƯỞNG THANH NIÊN CỨU QUỐC MƯỜNG LA CẦM VĂN THINH
 
 

Đầu những năm 1940 ở Sơn La diễn ra phong trào đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng nhân dân do giới thanh niên, trí thức làm nòng cốt. Phong trào gây được tiếng vang lớn, khiến thực dân Pháp hoang mang, điên cuồngđàn áp dã man. Nhắc đến phong trào thanh niên thời kỳ này nhiều người thường nói tớiAnh hùng, Liệt sỹ Lò Văn Giá, thành viên của Tổ Thanh niên cứu quốc Mường La, người đã dũng cảm dẫn đường cho tù chính trị vượt ngục thành công vào Tháng 8/1943.Tuy nhiên, những đóng góp của Tổ Thanh niên cứu quốc Mường La không những thể hiện ở hành động anh dũng đó, mà còn thể hiện ở nhiều hoạt động khác, trong cóvai trò của Cầm Văn Thinh, Tổ trưởng Tổ Thanh niên cứu quốc Mường La – người khởi xướng và lãnh đạo nhiều hoạt động yêu nước của thanh niên và quần chúng nhân dân.

 

Cầm Văn Thinh sinh ngày 15/8/1924 tại bản Cá, châu Mường La (nay là bản Cá, phường Chiềng An, TP Sơn La), cha là Cầm Văn Hao, một chức dịch nhỏ ở địa phương, gia đình tuy khá giả nhưng thất thế nênthường gần gũi với nông dân và người lao động. Thấu hiểu thân phận lép vế của hàng chức dịch lớp dưới, nên cha Cầm Văn Thinh đã cố gắng cho cácconăn học tử tế. Do chịu ảnh hưởng của những thầy giáo tiến bộ, lại thường xuyên tiếp xúc với tù chính trị, đượcgợi mở, lý giải nguyên nhân cuộc sống tối tăm, cực khổ của đồng bào mình, nên tư tưởng cách mạng sớm hình thành trong con người Cầm Văn Thinh.Năm 1941, ông thi đỗ tiểu học và được bổ nhiệm làm giáo viên ở châu lỵ Mường La.
Cũng vào thời gian này, Chi bộ nhà tù Sơn La đang chủ trương lựa chọn những thanh niên cảm tình ở bên ngoài để đào tạo trở thành người lãnh đạo các tổ chức đoàn thể trong Mặt trận Việt Minh. Cầm Văn Thinh, Lò Văn Giá, Lò Văn Phụi là những thanh niên đã trải qua thử thách được Chi bộ chọn để thành lập tổ Thanh niên cứu quốc đầu tiên ở châu Mường La vào tháng 10/1942, do Cầm Văn Thinh làm tổ trưởng. Để thu hút được đông đảo thanh niên tham gia phong trào, Cầm Văn Thinh tìm cách vận động được cả những đối tượng là con cháu phìa tạo, chức dịch lớp dưới cùng tham gia tuyên truyền cho quần chúng nhân dân hiểu rõ mục đích của Mặt trận Việt Minh là đoàn kết đánh đuổi Nhật - Pháp giành lại độc lập cho dân tộc. Nhờ đó phong trào phát động phát triển nhanh chóng, lan rộng từ châu lỵ Mường La sang các nơi bên tả ngạn sông Đà như Mường Trai, Hua Trai, Pi Tong, Chiềng Lao…
Phong trào hoạt động của Thanh niên cứu quốc diễn ra sôi nổi, lôi cuốn được nhiều thành phần khác cùng tham gia, trong đó có cả những phụ huynh của hội viên thanh niên là trung nông lớp dưới, những chức dịch thấp ở các bản quanh tỉnh lỵ và châu lỵ Mường La. Nguyên nhân khiến họ hưởng ứng phong trào đấu tranh là do quyền lợi kinh tế của tầng lớp này vừa ít lại bị bọn phong kiến thống trị ở tổng, châu bớt xén bằng nhiều hình thức như rút bớt ruộng chức, bắt lỗi, phạt vạ bằng tiền, trâu, bò, thậm chí bằng chính con cái họ phải đi ở cho phìa tạo... Nắm bắt được mâu thuẫn đó đó, Cầm Văn Thinh có sáng kiếntập hợp họ lại thành tổ chức Nông dân trung kiên (Po me na hặc mương). Ý kiến này hoàn toàn phù hợp với Điều lệ của Mặt trận Việt Minh và chủ trương của Chi bộ nhà tù, lại được sự động viên của chính con em mình nên các bậc phụ huynh nhiệt tình hướng ứng, tham gia vào các phong trào đấu tranh do tổ Thanh niên phát động. Tổ chức Nông dân trung kiên phát triển nhanh và có ảnh hưởng, tác động tích cực đến phong trào cách mạng ở Sơn La.
Tháng 9 năm 1940, phát xít Nhật tràn vào Đông Dương, thực dân Pháp hèn nhát dâng nước ta cho Nhật. Dưới hai tầng áp bức, bọn cường hào, quý tộc càng thêm đè nén, bóc lột nhân dân ta. Ở Sơn La tình trạng quý tộc, chức dịch bao chiếm ruộng công diễn ra phổ biến, hầu hết các thửa ruộng tốt đều về tay bọn quý tộc; để được nhận số ruộng xấu ít ỏi còn lại người nông dân phải đi phu, phục dịch cho các kỳ mục và phìa tạo, lại thêmcác khoản thuế má, cống nộp rượu, thịt hàng năm khiến đời sống người nông dân càng thêm điêu đứng. Nhiều nhà phải bỏ ruộng công, xin làm “cuông, nhốc” cho quý tộc để giảm bớt gánh nặng phu phen, thuế má. Vận dụng nội dung các bước lãnh đạo đấu tranh đã học, Cầm Văn Thinh cùng tổ Thanh niên cứu quốc đã vận động một số chức dịch nhỏ bị lép vếvà nông dân nghèo không có ruộng đứng lên đấu tranh đòichia lại ruộng công, ruộng chức; quy định lại số ngày đi phu của nông dân tương ứng với số ruộng được nhận, giảm bớt các loại thuế, các khoản cống nộp cho phìa tạo… Bằng cách đưa ra mục tiêu đấu tranh hết sức thiết thực, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, phong trào đã lôi cuốn được rất đông quần chúng tham gia. Nội dung yêu sách được Cầm Văn Thinh viết thành hai lá đơn rồi gửi lên tuần phủ Cầm Ngọc Phương và tên Công sứ Cousseau. Bên dưới có chữ ký của Cầm Văn Thinh, Lò Văn Giá, Lò Văn Phụi cùng nhiều người khác.
Đơn vừa gửi lên, lập tức tuần phủ Cầm Ngọc Phương cho bắt Cầm Văn Thinh đưa lên tra hỏi; tên công sứ Cousseau tìm cách khép tội Cầm Văn Thinh theo cộng sản. Là người hiểu biết rộng, có uy tín trong nhân dân lại thông thạo tiếng Pháp, Cầm Văn Thinh đưa ra lý lẽ rằng mình làm hương sư, theo lệ phải được hưởng ruộng và thóc nhưng không được cấp đủ, trong khi đó bọn quý tộc, chức dịch lớp trên tham lam vô độ, thi nhau vơ vét làm nhân dân đói khổ, nên mọi người cùng đứng ra nhờ ông làm đơn đưa lên quan lớn... Trước lý lẽ đó, bọn thống trị không thể kết tội, buộc phải thả Cầm Văn Thịnh và nhượng bộ một phần bằng cách đo đạc và chia lại ruộng của một số kỳ mục và nhân dân ở Mường La.Cùng thời gian này ở Mường Chanh, Mai Sơn cũng diễn ra vụ việc tương tự khiến cho thực dân Pháp hết sức hoang mang, cho rằng tù cộng sản đã đứng sau chỉ đạo. Sau vụ này bọn thống trị liệt Cầm Văn Thinh vào hàng đầu sỏ có quan hệ với tù chính trị và theo dõi gắt gao ông và một số thành viên khác của tổ chức Thanh niên cứu quốc.
Đến giữa năm 1943, những diễn biến mới của tình hình cách mạng trong nước đang đòi hỏi nhiều cán bộ có kinh nghiệm để lãnh đạo đấu tranh. Chi bộ nhà tù đã chủ động tổ chức cho 4 đồng chí vượt ngục trở về với phong trào cách mạng đang sôi sục trong cả nước. Tổ Thanh niên cứu quốc Mường La được giao nhiệm vụ chuẩn bị quần áo, dao và những vật dụng cần thiết cho cuộc vượt ngục, đồng thời thanh niên Lò Văn Giá được chọn để dẫn đường cho đoàn vượt ngục. Sau khi trở về, anh Lò Văn Giá bị địch bắt và tra tấn dã man nhưng vẫn giữ vững khí tiết của người thanh niên cách mạng. Không khai thác được gì ở anh, bọn thực dân hèn nhát đưa anh ra bắn. Để nêu cao tinh thần dũng cảm đầy nghĩa lớn của Lò Văn Giá, Cầm Văn Thinh đã bí mật tổ chức rải truyền đơn để nói rõ cho nhân dân biết về hành động giúp tù chính trị vượt ngục. Truyền đơn, khẩu hiệu viết bằng chữ Thái được rải ở nhiều nơi nhằm vạch rõ tội ác dã man, sự trả thù đê hèn của giặc, đại ý: “Giặc Tây và châu phìa đã bắn chết anh Lò Văn Giá vô tội, một trong những thanh niên yêu nước người dân tộc Thái đầu tiên. Vì anh đã giúp đỡ những người tù vượt ngục mà bọn thống trị không dám đưa anh ra tòa xét xử. Chúng sợ tấm gương anh Lò văn Giá và tù chính trị sẽ tỏa sáng trong thanh niên Thái. Dù chúng bắn chết anh Lò Văn Giá nhưng không thể làm mờ tấm gương dũng cảm của anh…”[1]. Truyền đơn còn kêu gọi mọi người cùng quyết tâm đứng lên cứu dân cứu nước.
Sau vụ vượt ngục và rải truyền đơn của tổ Thanh niên, địch tổ chức một đợt khủng bố dữ dội, thắt chặt mọi chế độ sinh hoạt của tù chính trị Sơn La và ráo riết theo dõi, lùng bắt những ai có quan hệ với tù chính trị. Phong trào cách mạng ở Mường La và tỉnh lỵ tạm thời lắng xuống. Để tránh tổn thất cho phong trào, Chi bộ nhà tù tạm thời ngừng liên lạc với các cơ sở bên ngoài, đồng thời chủ trương chuyển hướng hoạt động về địa bàn Mường Chanh, Mai Sơn.
Sau hoạt động rải truyền đơn, tổ trưởng Thanh niên cứu quốc Mường La Cầm Văn Thinh cũng không xuất hiện ở địa phương nữa. Nhiều người đồn đoán rằng truyền đơn đó là do chính tay anh viết, vì tránh để kẻ thù so nét chữ sẽ tìm ra nên phải trốn đi xa tiếp tục hoạt động cách mạng. Những người cùng hoạt động với Cầm Văn Thinh trong phong trào Thanh niên như Nguyễn Phúc, Cầm Dịn, Cầm Duyên, Quàng Huyên… thì đều cho rằng Cầm Văn Thinh và một người khác (Quàng Văn Bun) được tổ chức phái sang Lào hoạt động.
 

Em gái của Cầm Văn Thinh là Cầm Thị Thịnh sinh năm 1930, cũng là một thiếu niên tích cựctrong phong trào cứu quốc khi đó kể lại với con cháu mình, khi đó chừng khoảng cuối năm 1943, trước khi đi anh Cầm Văn Thinh chỉ nói: “Khi nào giải phóng anh sẽ về, anh em ta lại đoàn tụ”. Gần 50 năm sau, năm 1992 gia đình bà Thịnh nhận được giấy báo tử của anh trai mình, hi sinh tháng 4/1953 tại chiến trường Lào. Ông Cầm Văn Thinh được công nhận là liệt sỹ từ ngày 14/2/1993.

 

Ông Quàng Văn Bun cũng từng hoạt động ở bên Lào, sau này cư trú ở tổ 5, phường Chiềng Lề, thị xã Sơn La cho biết, ông từng gặp lại Cầm Văn Thinh ở Luông Pha Băng và Xiêng Khoảng, Lào. Khi đó Cầm Văn Thinh làm y tá cho một đơn vị bộ đội có chỉ huy người Lào tên là Khăm Lếch. Sau đó thì mất liên lạc vì địch đánh chiếm tỉnh Xiêng Khoảng.

 

Qua đây có lẽ cũng cần nói thêm một chút về anh trai của Cầm Văn Thinh là Cầm Văn Thương. Ông bị thực dân Pháp bắt đi lính khố xanh từ năm 1941 và được giác ngộ cách mạng, trở thành nhân mối của tù chính trị. Sau đó vì bị thực dân Pháp nghi ngờ nên bị điều xuống đồn Vạn yên. Tại đây do thường xuyên chống lệnh tên đồn trưởng Boudot nên chúng bắt Cầm Văn Thương vào tù. Thời gian Cầm Văn Thương đi lính cùng các ông Lò Văn Mười, Lò Văn Piệng… đã có hành động cách mạng như vận động binh lính đối xử tốt với tù chính trị, không bắt họ làm việc nặng. Ngoài ra, khi không có mặt Pháp, không có mặt quản, đội gian ác, đã bao che cho tù chính trị tiếp xúc tuyên truyền với dân chúng và học sinh. Cầm Văn Thương còn sáng tác một số bài thơ mang nội dung yêu nước bằng tiếng Thái cho binh lính truyền tay nhau đọc[2]. Sau cách mạng tháng Tám, Cầm Văn Thương tham gia công an tỉnh Sơn La, sau đó về công tác tại Phòng văn nghệ xuất bản, Sở văn hóa thông tin tỉnh Sơn La, chuyên sưu tầm tài liệu và sáng tác thơ ca dân tộc Thái.
Những hoạt động sôi nổi của Cầm Văn Thinh và tổ Thanh niên cứu quốc Mường La là kết quả của sự chỉ đạo từ Chi bộ nhà tù Sơn La. Thông qua các tổ chức Thanh niên cứu quốc, Nông dân trung kiên… mà sự lãnh đạo của Đảng từ nhà ngục tù Sơn La đã đến được với đông đảo quần chúng nhân dân, hướng đồng bào các dân tộc Sơn La đến với ánh sáng cách mạng, cùng đứng lên tranh đấu vì độc lập, tự do.
#HSL

Chú thích: 

[1]  Suối Reo năm ấy, NXB Văn hóa thống tin, 1993, Tr.216.
[2]  Theo bản chứng thực có công chứng của ông Lò Văn Mười.
 
 
 
 

 

 

Số lần đọc : 499   Cập nhật lần cuối: 14/04/2020

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 9733697

Số người Onlne: 13