Nhân vật → Gương hoạt động KH&CN

Tấm gương tự học tập, nghiên cứu


Góp phần kỷ niệm ngày sinh các nhà kinh điển Mác Lê Nin & Chủ tịch Hồ Chí Minh

         

Trong các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác Lê nin, thì  F. Ăng ghen sinh  vào tháng 11(28/11/1820), còn V.I. Lê Nin sinh tháng 4( 22/4/1870), C. Mác sinh tháng 5(5/5/1818). Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng sinh tháng 5( 19/5/1890). Nhân dịp này, có nhiều bài viết về sức sống của học thuyết Mác Lê Nin, thân thế, sự nghiệp, công lao và tầm ảnh hưởng của các nhà kinh điển, về tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh. Bài của tác giả Trung Hiếu tìm hiểu,giới thiệu về khía cạnh tự học tập, nghiên cứu của các nhà kinh điển và Chủ tịch Hồ chí Minh.

           

TẤM GƯƠNG TỰ HỌC VÀ NGHIÊN CỨU

CỦA CÁC NHÀ KINH ĐIỂN MÁC LÊ NIN & CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

                                                                      Trung Hiếu 

Trên thế giới có nhiều tấm gương tự học, tự nghiên cứu, tuy bằng cấp không cao, nhưng đã đạt đến học vấn và cống hiến có ảnh hưởng lớn ở tầm quốc gia và nhân loại.

Nhà phát minh nổi tiếng mọi thời đại(có hơn 1.000 phát minh) là Thomas Edison( 1847-1931) mới học dở dang tiểu học. Còn trong lĩnh vực công nghệ thông tin hiện đại, về tài năng và cống hiến để làm thay đổi thế giới, có lẽ chưa ai hơn được Steven Paul Jobs( 1955-2011), Bil Gates( 1955), cả hai ông đều chưa tốt nghiệp đại học.

                   Trong số những vĩ nhân thiên tài có tầm ảnh hưởng lớn nhất đối với thế giới cả tầm trí tuệ, học vấn, bản lĩnh, cống hiến và nhân cách, thì các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác Lê Nin đứng vào hàng đầu. Về bằng cấp, chỉ có C.Mác là có bằng Tiến sỹ Luật học và V. I. Lê Nin có bằng đại học, cũng chuyên ngành luật, nhưng hai ông đều chuyển sang nghiên cứu Triết học và Kinh tễ chính trị học. Còn F.Ăng ghen mới học dở bậc trung học. Ba ông đã sáng tạo ra học thuyết khoa học vĩ đại và được truyền bá rộng rãi nhất trong lịch sử, đó là học thuyết về sự vận động và phát triển của xã  hội loài người, bao gồm Chủ nghĩa duy vật biện chứng, Chủ nghĩa duy vật lịch sử, Kinh tế chính trị học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Đảng cộng sản. Cha đẻ của học thuyết là C.Mác(1818-1883), F. Ăngghen( 1820-1895) và người phát triển, hoàn thiện là V. I. Lê Nin( 1870-1924).

          50 tập đã xuất bản có hàng trăm tác phẩm kinh điển, dung lượng gần 5 vạn trang, nổi tiếng nhất là Tư bản luận của  C. Mác, Phép biện chứng của tự nhiên của F. Ăng ghen, Tuyên ngôn Đảng cộng sản( do hai ông viết chung). 

              C. Mác học Luật, nhưng chỉ riêng 02 tác phẩm đầu tay của ông Bản thảo kinh tế - triết học(1844),Sự bần cùng của triết học( 1845) lúc ông mới 25-26 tuổi đã vượt  xa  các luận án tiến sỹ triết học. F. Ănghen biết tới 17 ngoại ngữ. Tác phẩm đầu tay  của  ông  Lược thảo phê phán khoa kinh tế chính trị (1843) lúc ông mới 24 tuổi cũng đã vượt lên các luận án tiến sỹ kinh tế chính trị. Tác phẩm bất hủ Tuyên ngôn của đảng cộng sản được viết chung khi C.Mác  29 tuổi và Ănghen mới 27 tuổi!

               

                  Lần đầu tiên khi tiếp cận vơí bản luận cương, Bác Hồ của chúng ta đã khóc và thốt lên: "Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ.! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”.V. I. Lê Nin là cử nhân luật, nhưng ngay công trình đầu tay của ông  Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản tại Nga  lúc ông mới 29 tuổi, đã trở thành tác phẩm kinh điển về  sử học và kinh tế chính trị. Luận án tiến sỹ  xuất săc nhất cũng chỉ đến thế là cùng.  

                   Các nhà kinh điển đã vĩ đại về học vấn, học thuyết, càng vĩ đại hơn về hành động. Lần đầu tiên trong lịch sử, C. Mác và F. Ăng ghen đã thành lập được Quốc tế cộng sản I, Quốc tế cộng sản II, với sứ mệnh vừa là chiến sỹ vừa là lãnh tụ của phong trào. V. I. Lê Nin đã thành lập và trở thành lãnh tụ của đảng cộng sản Nga, Quốc tế cộng sản III, đã lãnh đạo tiến hành thành công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới…

                                                                                           

       Năm 1935, dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ VII, Người ghi vào phiếu lý lịch của mình như sau: Trình độ học vấn: tự học; ngoại ngữ: Pháp, Anh, Nga, Đức, Ý, Trung Quốc. Trong một số giấy tờ hành chính khác, Bác cũng ghi như vậy.

Đó là Bác khiêm tốn. Thực ra, Bác đã học tới chương trình cao cấp lý luận  và đại học chính trị. Bác cũng đã học và làm luận án cao học. Có căn cứ để xác minh, trước khi ra đi tìm đường cứu nước, Bác đã học Trường Tiểu học Pháp- Việt Đông Ba, Huế( 1906-1907); Học  Trung học đệ nhị( THCS)  tại trường Quốc học Huế( 1908);  Đi dạy học ( tiểu học) ở trường Dục Thanh, Phan Thiết ( 2010); Học  trường kỹ thuật  đào tạo công nhân xưởng Ba Son (2011). Có tài liệu cho biết, Bác còn theo học chương trình tú tài, cử nhân  với thầy Hoàng Phạm Quỳnh và một số ông giáo khác. Trong thời gian ở Pháp, Bác theo học dự thính tại Đại học Sorbonne và được coi là mọt sách tại Thư viện Quốc gia Pháp. Khi sang Liên Xô, Người học lý luận ở Trường Đại học Phương Đông (1923).( Trường  đào tạo cán bộ cách mạng trước hết cho các nước phương Đông thuộc Liên Xô và các nước thuộc địa và phụ thuộc. Tại đây, các học viên được trang bị những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, phương pháp tổ chức và lãnh đạo quần chúng đấu tranh cách mạng. Trong thời gian học tập, học viên phải nắm vững các môn quan trọng như chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, kinh tế chính trị, lịch sử phong trào công nhân quốc tế, lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc, v.v..).Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai cũng đều từng học ở trường này. Khi quay lại Liên Xô lần thứ 2, Người học Đại học Quốc tế Lênin (1933-1934).(Trường dành cho những người cộng sản nước ngoài, nhằm giúp đỡ các Đảng Cộng sản trong công tác đào tạo cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt( đào tạo nâng cao trình độ lý luận Mác - Lênin và kinh nghiệm chính trị của Đảng Cộng sản Liên Xô cũng như giai cấp vô sản nhiều nước châu Âu khác. Nghiên cứu kinh tế thế giới và các bộ phận của nó, đặc biệt về quan hệ các nước tư bản chủ nghĩa, thuộc địa và Liên Xô.Nghiên cứu những vấn đề chiến lược và sách lược của Quốc tế Cộng sản, những kinh nghiệm tổ chức và chính trị của các Đảng Cộng sản các nước và nhận xét, phê bình những công tác hiện thời của Quốc tế Cộng sản... Kết thúc các khoá học, học viên thường được đi thực tế ở nhiều vùng, nhiều nhà máy, xí nghiệp ở Liên Xô. Các giảng viên đa số là người Liên Xô).  Học xong trường đại học quốc tế Lê Nin, Bác làm  nghiên cứu sinh chuyên ngành lịch sử tại Viện nghiên cứu các vấn đề thuộc địa (1937) với luận án về cách mạng ruộng đất ở Đông Nam Châu Á. Cho đến thời điểm đó, Bác là người Việt Nam đầu tiên làm nghiên cứu sinh. Giảng viên của Viện mong Bác bảo vệ xong luận án sẽ trở thành giáo sư làm việc tại Viện. Nhưng  thời gian đó, tình hình quốc tế  biến động lớn, chủ nghĩa phát xít và chiến tranh đế quốc diễn biến phức tạp. Tình hình Đông Dương và Việt Nam rất cần được tăng cường cán bộ có năng lực và kinh nghiệm...Theo yêu cầu của Quốc tế cộng sản III cũng như nguyện vọng, tâm huyết  của Bác, năm 1938 Bác rời Liên Xô để về nước, đành bỏ lại bản luận án cao học đang viết dang dở...

            Về nước, Người đã cùng Đảng ta lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách, giành được độc lập dân tộc, tiến hành xây dựng CNXH và kháng chiến bảo vệ đất nước. Di sản tư tưởng Người để lại cũng rất vĩ đại và quý giá. Đó là 15 tuyển tập gồm hơn 3.300 tác phẩm, công trình, dự thảo nghị quyết, bài viết, hàng trăm bài phát biểu có dung lượng trên 1 vạn trang. Nhiều tác phẩm của người đã trở thành kinh điển, trong đó, nổi tiếng nhất là Đường cách mệnh( 1927), Cương lĩnh 2/1930 (Cưỡng lĩnh chính trị đầu tiên của đảng cộng sản Việt Nam khi thành lập vào ngày 3/2/1930), Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà(1945). Đó là các tác phẩm mang tính cách mạng và khoa học, Bác là người đầu tiên nghiên cứu vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lê Nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam mà không một luận án tiến sỹ khoa học xã hội nào có thể so sánh được. Vả lại, đến thời điểm đó,Việt Nam mới có Tiến sỹ Nho học, còn tiến sỹ theo hệ thống đào tạo Âu-Mỹ và Liên Xô thì  mới chỉ có một người là Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997), tiến sỹ Luật được đào tạo ở Pháp. Ngoài các tác phẩm chính trị, Bác Hồ cũng để lại một số tác phẩm văn học có giá trị, nổi bật là tác phẩm Nhật ký trong tù. Cùng với Chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ chí Minh đã trở thành phổ quát trong đời  sống chính trị xã hội ở Việt Nam, trở thành kim chỉ nam cho cách mạng Việt Nam. Toàn đảng và toàn dân ta đã, đang và mãi mãi  học tập tư tưởng, đạo đức của Người. Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh tụ thiên tài của cách mạng Việt Nam được tổ chức UNESCO vinh danh là danh nhân văn hoá thế giới, được Tạp chí Times( Mỹ) bình chọn là một trong 100 người có ảnh hưởng nhất của thế kỷ 20.

          Các công trình, tác phẩm, học thuyết, tư tưởng của C. Mác, Ăng ghen, Lê Nin và Hồ Chí Minh là vĩ đại, bất hủ, trở thành kinh điển, có sức sống trường tồn, được  các đảng cộng sản và các nhà khoa học Mác xit tiếp tục vận dụng sáng tạo và bổ sung, phát triển. Các công trình, tác phẩm đó được sáng tạo ra không phải trong điều kiện bình thường, mà trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, các ông bị giám sát, trục xuất, bị bắt bớ, tù đày và sự khốc liệt của chiến tranh. Thế mới thấy bản lĩnh chính trị của các ông thật phi thường, học vấn của các ông thật phi thường và sức làm việc của các ông cũng thật phi thường.

          C.Mác, Ăngghen, Lê Nin và Bác Hồ đều là những con người có tố chất thông minh, thiên tài. Nhưng ý chí, lòng quyết tâm và sự đam mê tự học, tự nghiên cứu các vấn đề lý luận cách mạng mới là quyết định. Học và nghiên cứu là hai mặt không tách rời nhau và gắn với hoạt động thực tiễn, trải nghiệm. Học tập và nghiên cứu chủ yếu là để làm việc, giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra và thông qua làm việc, tổng kết thực tiễn lại nâng cao trình độ, tích luỹ kinh nghiệm, chứ không phải học để lấy bằng. Học và nghiên cứu có động cơ, mục tiêu rõ ràng, cao cả, là xây dựng học thuyết thực sự khoa học cách mạng để vừa phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại vừa giải phóng khoa học khỏi xiềng xích của duy tâm và siêu hình. Phương pháp học, nghiên cứu là nắm bắt những gì tinh hoa nhất, thiết thực nhất, tiếp thu có chọn lọc, phê phán  để vận dụng và phát triển. Học và nghiên cứu suốt đời, bất cứ đâu và bất cứ lúc nào. V. I. Lê Nin từng nói câu bất hủ đã trở thành thông điệp cho muôn đời: Hoc, học nữa và học mãi!. Bác Hồ từng chia sẻ: Khi còn trẻ, tôi không có dịp đến trường học. Cuộc sống, du lịch và làm việc là trường đại học của tôi. Trường học ấy đã dạy cho tôi khoa học xã hội, khoa học quân sự, lịch sử và chính trị. Nó dạy cho tôi yêu nước, yêu loài người, yêu dân chủ và hòa bình; căm ghét áp bức, ích kỷ

Ở các nhà kinh điển và Bác Hồ không chỉ có sức học và nghiên cứu phi thường mà  sức làm việc cũng rất phi thường. C. Mác, Ăng ghen, V.I. Lê nin thuộc nền văn hoá Châu Âu, văn phong thiên về bác học. Chủ tịch Hồ Chí Minh thuộc văn hoá Á Đông, văn phong thiên về quần chúng, giản dị. Nhưng các vị lãnh tụ đều có phong cách làm việc cơ bản giống nhau. Các Ông đều để lại tấm gương làm việc gương mẫu, thực sự bằng trí tuệ, tâm huyết và tấm lòng. Người ta thật khó tin, các Ông  đều bận hoạt động ở thời kỳ khó khăn nhất của cách mạng, mà vẫn trực tiếp cầm bút soạn thảo tác phẩm, công trình, bài viết, bài phát biểu  với một năng lực hiếm có. C.Mác và  Ăng ghen hoạt động trong điều kiện chưa nắm được chính quyền, chưa có tổ chức bộ máy giúp viêc, tất cả công trình, tác phẩm đều do hai ông trực tiếp soạn thảo ( có khi có thư ký là người thân giúp việc, nhưng chỉ làm nhiệm vụ tốc ký và đánh máy). Lê Nin và Bác Hồ, sau khi cách mạng thành công, giành được chính quyền mới có bộ máy giúp việc. Nhưng bộ máy giúp việc chủ yếu về mặt hành chính và khi cần chuẩn bị nội dung Văn kiện. Thư ký riêng cũng giúp việc về hành chính, tốc ký và đánh máy. Còn tất cả các tác phẩm, công trình, bài viết, bài phát biểu của hai ông đều do hai ông trực tiếp soạn thảo. Thậm chí có thời điểm cả  hai ông soạn thảo cả một số nghị quyết, văn bản quan trọng của Đảng và Nhà nước. Riêng Lê Nin, có trường hợp Người đi công tác còn tranh thủ đọc qua máy điện thoại cho thư ký ở nhà ghi dần từng đoạn. Đối với Bác Hồ, có  cán bộ ở Văn phòng Chủ tịch nước kể lại ông Vũ Kỳ( thư ký của Bác) có lần nói: “Cái này Bác để cháu viết, rồi gửi đến Bác đọc”. Bác nói: “Bài tôi phát biểu thì tôi tự viết lấy. Để cho chú viết, là cái đầu chú nghĩ ra, đâu phải đầu của Bác. Thế thì tốt nhất là chú nói luôn, mà nếu để chú viết, tôi cũng phải xem, phải sửa lại. Thế nên tiện nhất là tôi tự viết lấy”. Các công trình, tác phẩm, bài viết hay bài phát biểu của C. Mác, Ăng ghen, Lê Nin và Bác Hồ  đểù để  lại dấu ấn cá nhân rất rõ, qua đó người ta thấy trí tuệ, tâm huyết, tình cảm của các ông vượt ra khỏi câu chữ, có sức  thu hút rất lớn.

***

 

 Tấm gương của các nhà kinh điển Mác Lê nin và Bác Hồ tạo động lực và truyền cảm hứng to lớn. Đương nhiên, học theo là không phải học để ai cũng có thể trở thành uyên bác, có thể làm được những việc lớn lao, mà học theo sức, phù hợp với tố chất, hoàn cảnh, điều kiện và chức trách nhiệm vụ của từng người.  Không phải không cần theo đuổi bằng cấp, học vị, nhưng cũng không phải vì bằng cấp, học vị mới học tập, nghiên cứu. Vấn đề là học để làm gì, học cái gì, học như thế nào để có thực học, thực nghiên cứu, thực làm việc. Đương nhiên không phải dễ. Bởi vì nhiều mặt của sự học, nghiên cứu và làm việc ở nước ta  hiện đang lệch chuẩn.  Các nước trên thế giới ngày càng cạnh tranh phát triển bằng trí tuệ, bằng thực học, thực nghiên cứu, thực làm việc. Những nước lệch chuẩn như Việt Nam, thì theo quy luật chung vẫn phát triển so với chính bản thân, nhưng chậm và bị tụt hậu so với mặt bằng chung  của thế giới. Từng cá nhân học sinh, sinh viên, công chức, viên chức, nhà khoa học, nhà lãnh đạo, quản lý tự giác ngộ, tự vưon lên chưa đủ. Nền giáo dục đào tạo và nền quản trị hành chính nước ta phải tiếp tục được đổi mới căn bản, toàn diện  mới tạo được môi trường lành mạnh cho việc thực học, thực nghiên cứu, thực làm việc./

Số lần đọc : 7191   Cập nhật lần cuối: 21/04/2014

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 8716444

Số người Onlne: 68