Nghiên cứu → Khoa học - Công nghệ

Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học công nghệ của trí thức Sơn La


 
 
                                    
 
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CỦA TRÍ THỨC SƠN LA

                                            

                                            Phạm Quang An

                            Giám đốc Sở khoa học và Công nghệ

 

Nhân dịp Ngày KHCN Việt Nam 18/5, ngày 17/5/2018, Liên hiệp các hội KH&KT tổ chức hội thảo khoa học “Một số vấn đề phát triển đội ngũ trí thức tỉnh Sơn La” Ông Phạm Quang an, GĐ Sở KHCN có bài tham luận “Thực trạng  và giải pháp nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học công ngh của trí thứcSơn La.

BBT biên tập  và giới thiệu bài tham luận (Đề mụcdo BBT đặt).                                          

I. Thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa họccủa trí thức tại Sơn La

1. Khái quát.

Hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ trí thức tại Sơn La thời gian qua tập trung ở các lĩnh vực khoa học công nghệ phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của Tỉnh. Đó là các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; Kỹ thuật công nghệ, xây dựng, giao thông, công nghiệp chế biến, môi trường nhằmphòng ô nhiễm và giảm thiểu thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu; ứng dụng công nghệ sử dụng năng lượng mới năng lượng tái tạo vào sản xuất và đời sống.Trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn đã có nhiều công trình nghiên cứu tổng kết thực tiễn về chính sách phát triển kinh tế- xã hội, an ninh quốc phòng, những vấn đề tôn giáo- dân tộc, các vấn đề về phòng chống ma túyBảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa, lịch sử, phát triển du lịch, y tế, giáo dục và các lĩnh vực khác.

Có thể khẳng định: Trí thức tỉnh Sơn La tích cực trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học của tỉnh bao gồm các lĩnh vực chủ yếu : Khoa học xã hội nhân văn(khối y tế, giáo dục, chính trị, văn hóa, lịch sử, du lịch và quản lý kinh tế); Đặc biệt lĩnh vực nông lâm thủy sản các đề tài được nghiên cứu đã được chuyển thành dự án sản xuất thử nghiên cứu đã tạo ra các sản phẩm hàng hóa có sức cạnh tranh trên thị trường.

Các lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ, chế biến cũng được trú trọng triển khai nghiên cứu, nhiều sản phẩm từ dự án khoa học đã được duy trì, nhân rộng trong sản xuất như chè, sữa Mộc Châu, Rượu sơn tra Bắc Yên, chuối Yên Châu, mận dẻo Mộc Châu…những sản phẩm này đã tạo được thương hiệu và có chỗ đứng bền vững trên thị trường.

2. Ưu điểm:

- Đại đa số đội ngũ trí thức được đào tạo tại các trường đại học công lập của nhà nước, họ có kiến thức chuyên ngành vững vàng và có lòng say mê trong nghiên cứu khoa học. các đề tài lĩnh vực hàng năm của tỉnh về nông, lâm, thủy sản chiếm 50% tỷ lệ đề tài, dự án; Các đề tài thuộc lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hóa, du lịch, lịch sử khoảng 30%; các lĩnh vực khác về công nghệ, môi trường chiếm khoảng 20%. Với cơ cấu như vậy hàng năm tỉnh Sơn la trung bình có khoảng 20 đề tài dự án được phê duyệt và tổ chức tổng kếtnghiệm thu.

- Quá trình triển khai thực hiện đề tài, dự án nghiêm túc đúng nội dung được phê duyệt và quy định của pháp luật.

Các nhiệm vụ khoa học và công nghệ sau khi kết thúc đã được chủ nhiệm đề tài, dự án và cơ quan chủ trì tiếp tục ứng dụng, nhân rộng đối với kết quả đã nghiên cứu đem lại hiệu quả tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh.

3.Những hạn chế trong nghiên cứu khoa họccủa trí thức tỉnh Sơn La.

a. Hạn chế.

Có thể nhận thấy sự hạn chế của đội ngũ trí thức tỉnh Sơn La là thiếu chuyên gia đầu ngành về lĩnh vực kinh tế- xã hội chủ yếu về nông lâm thủy sản. Hầu hết các Tiến sĩ, thạc sĩ lại tập trung chủ yếu ở ngành giáo dục, y tế hoặc khoa học quản lý. Đây có thể nói cơ cấu đội ngũ trí thức chưa đồng bộ về chuyên ngành và sự phân bố đội ngũ này cũng không tập trung, hầu hết các ngành đội ngũ trí thức chuyển sang làm công tác quản lý nhà nước. Cụ thể hạn chế chủ yếu biểu hiện ở một số khâu như sau:

1) Lựa chọn đề tài nghiên cứu:

- Đa số các chủ nhiệm đề tài đề xuất đề tài theo tính chủ quan của cá nhân đã nghiên cứu, thậm chí đã có trong luân văn tốt nghiệp Thạc sĩ, tiến sỹ nên nội dung đề xuất thường chưa sát với yêu cầu thực tiễn của địa phương, chưa đáp ứng yêu cầu Tỉnh ủy-HĐND và UBND tỉnh yêu cầu. Do đó nguồn đề xuất nhiệm vụ hàng năm tuy nhiều nhưng nhiều Phiếu đề xuất nhiệm vụ còn trùng với các kết quả nghiên cứu trước, hoặc chưa đáp ứng nhiệm vụ Tỉnh chỉ đạo và yêu cầu bức xúc của các huyện, thành phố đang cần giải quyết băng nghiên cứu khoa học.

2) Tổng quan nghiên cứu

- Thường vẫn nêu theo quan điểm nặng về học thuật, thậm chí trích quá dài tài liệu dịch của nước ngoài, trong khi đó yêu cầu Tổng quan nghiên cứu là xem các kết quả đề tài, dự án trong nước đã thực hiện, chủ trương của tỉnh, sự cần thiết và khách quan cần nghiên cứu đề tài, sản phẩm đề tài đáp ứng nhiệm vụ gì của việc phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh.

3) Mục tiêu nghiên cứu

Thông thường các tác giả ghi mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể. Nhưng thường hay quên mục tiêu chính là hướng tới sản phẩm đề tài, dự án và sau khi kết thúc nghiệm thu thì phương án sử dụng kết quả nghiên cứu ra sao, tổ chức ứng dụng nhân rộng mô hình ở đâu.

4) Nội dung, phương pháp nghiên cứu.

Đa số các chủ đề tài, dự án đã đề cập được nội dung trọng tâm trong nghiên cứu mang tính chuyên ngành sâu thuộc lĩnh vực nghiên cứu. Nhưng một số chủ nhiệm đề tài, dự án lại chưa xem xét kỹ cơ sở khoa học là gì, cơ sở pháp lý  chủ trương chính sách có liên quan. Đặc biệt chưa nêu và mô tả kỹ nội dung nghiên cứu và sản phẩm kết quả đạt được phải đạt tiêu chuẩn chất lượng nào. Phương pháp nghiên cứu còn thiếu mô tả kỹ thuật sử dụng và nghiên cứu đa ngành; Chẳng hạn một kết quả nghiên cứu về chính sách hay sản phẩm nông nghiệp đều có liên quan rất nhiều lĩnh vực chuyên ngành khác.

5) Quá trình nghiên cứu khoa học

Về thực hiện triển khai nghiên cứu khoa học - công nghệ còn nặng về những gì mà giáo trình, quy trình công nghệ có sẵn(đọc sách)còn thiếu sáng tạo, phát hiện tính mới, tính thực tiễn trong nghiên cứu để tạo luận cứ khoa học hoặc quy trình công nghệ mới thích hợp cho điều kiện cụ thể từng lĩnh vực nhằm đem lại hiệu quả xã hội, hiệu quả kinh tế.

6) Khi kết thúc đề tài các trí thức là chủ nhiệm đề tài chưa xây dựng kế hoạch ứng dụng kết quả đề tài, dự án vào sản xuất,chưa tìm các doanh nghiệp hoặc cơ sở tiếp nhận kết quả nghiên cứu, do đó có ảnh hưởng đến việc ứng dụng kết quả đề tài, dự án vào thực tiễn.

7) Về thời gian nghiên cứu:

Nhiều trí thức của tỉnh đang công tác tại các cơ quan quản lý nhà nước, các ban đảng, các tổ chức xã hội, một số chủ nhiệm đề tài là lãnh đạo chủ chốt các Sở, Ban ngành của tỉnh, do đó hạn chế nhất định về:

- Thời gian giành cho nghiên cứu đề tài, điều này thường dẫn đến đề tài chậm tiến độ từ 06 tháng đến 01 năm(cá biệt có đề tài chậm đến 3 năm).

- Thiếu thời gian để tổ chức triển khai đi nghiên cứu hoặc bám sát thí nghiệm trong nghiên cứu, điều này có trường hợp ảnh hưởng chất lượng chuyên môn đề tài.

- Do nặng về công tác quản lý nhà nước nên trí thức các Sở, ban ngành không đủ thời gian thực hiện đầy đủ quy trình nghiên cứu, vì thế có ảnh hưởng tác động chậm tiến độ đề tài và hạn chế về tính nghiên cứuứng dụng kịp thời.

b. Nguyên nhân.

- Thiếu hụt của đội ngũ trí thức đầu ngành, một số trí thức được đào tạo chuyên môn cao lại chuyển giữ chức lãnh đạo, quản lý.

Chính sách ưu đãi và cơ chế khuyến khích của tỉnh đối với đội ngũ trí thức thiếu cụ thể và chưa động viên kịp thời họ tham gia nghiên cứu khoa học.

Việc đầu cơ sở hạ tầng, thiết bị, phòng thí nghiệm phục vụ nghiên cứu và phát triển khoa học và còn hạn chế.

Ngoài ra, còn có những nguyên nhân khác như: mất cân đối giữa quy mô và chất lượng của hệ thống giáo dục và đào tạo; tách biệt giữa nghiên cứu và giảng dạy; Bí bách trong môi trường làm việc; yếu kém trong sử dụng nhân tài và thiếu dân chủ trong nhiều lĩnh vực.

IIGiải pháp nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của trí thức 

Phương hướng chung cơ bản là phải xây dựng chotỉnh một đội ngũ trí thức đủ mạnh cả về số lượng và chất lượng trên các mọi lĩnh vực. Từng bước phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu, chủ động vượt quanhững tồn tại đối với trí thức hiện . Có chính sách đào tạo, bồi dưỡng, đãi ngộ và sử dụng hợp lý.

Trên cơ sở đó cần có một số giải pháp đối với trí thức nghiên cứu khoa học là:

1) Về nhận thức phải xác định rõ vai trò của đội ngũ trí thức trong vai trò nhiệm vụ nghiên cứu khoa học phục vụ phát triển kinh tế- xã hội. Tỉnh uy-HĐND và UBND tỉnh cần tiếp tục rà soát Nghị quyết đề án đào tạo cán bộ công chức của tỉnh bao gồm đào tạo trong nước và ngoài nước góp phần làm tăng số lượng và chất lượng chuyên môn của đội ngũ trí thức. Đồng thời phát huy vai trò của họ trên mọi lĩnh vực tại các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và sự khởi nghiệp của trí thức trẻ trong thời gian tới.

2) Đổi mới cơ chế Đề xuất nhiệm vụ và Đặt hàng nhiệm vụ khoa học và công nghệ hàng năm:

- Việc Đề xuất nhiệm vụ của đội ngũ trí thức phải căn cứ vào các Nghị quyết của tỉnh Tỉnh ủy- HĐND và những quyết định lớn của tỉnh về mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội hàng năm và kế hoạch 5 năm, dựa vào các kết quả đề tài, dự án đã nghiên cứu thành công trong nước, trong tỉnh để xem xét ý tưởng đề xuất nhiệm vụ; Đồng thời phải giành thời gian đi các huyện, thành phố, đến các doanh nghiệp, các Hợp tác xã…để khảo sát thực tiễn những vấn đề bức xúc trong sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm địa phương để nghiên cứu đề xuất nhiệm vụ nghiên cứu.

- Đối với các đơn vị đặt hàng bao gồm các Sở, ban ngành, UBND các huyện, thành phố…khi xem xét đặt hàng nhiệm vụ KHCN hàng năm phải làm rõ yêu cầu mục đích sản phẩm đặt hàng gắn với các vấn đề thực tế mà địa phương cần nghiên cứu, ứng dụng hoặc tiếp thu các quy trình công nghệ mới vào sản xuất và đời sống để yêu cầu các nhà khoa học trung ương và địa phương tham gia đề xuất nghiên cứu.

3) Quá trình thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ:

- Cơ quan chủ trì phải tạo điều kiện cho chủ nhiệm đề tài có thời gian tham gia thực hiện.

-  Chủ nhiệm đề tài phải nêu cao trách nhiệm đối với các nội dung nghiên cứu, giành nhiều thời gian cho việc nghiên cứu đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng nội dung chuyên môn, bám sát thực tiễn và cập nhật thông tin đầy đủ về kết quả thực hiện các quy trình kỹ thuật, số liệu thực nghiệm phải chính xác, chịu trách nhiệm trước nhà nước về kết quả nghiên cứu.

- Các cơ quan đặt hàng tạo điều kiện thuận lợi về địa bàn, giúp đỡ các chủ đề tài, dự án thực hiện đầy đủ nhiệm vụ nghiên cứu trên địa bàn.

Sau khi nghiệm thu chủ nhiệm nhiệm vụ có trách nhiệm xây dựng kế hoạch triển khai ứng dụng đối với các cơ sở, phối hợp với cơ quan Đặt hàng nhân rộng kết quả nghiên cứu vào sản xuất, định kỳ báo cáo kết quả ứng dụng về Sở Khoa học và Công nghệ tổng hợp báo cáo UBND tỉnh và Bộ Khoa học và Công nghệ.

4)Tăng cường quản lý, đổi mới công tác quản lý tài chính đối với nhiệm vụ khoa học công nghệ của tỉnh, nhằm tiết kiệm, sử dụng có hiệu quả nguồn tài chính ngân sách khoa học và công nghệ.

5) Tích cực hợp tác và mời các nhà khoa học ở các trường đại học, các cơ quan nghiên cứu của trung ương về Sơn La tham gia nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ, hỗ trợ đội ngũ trí thức địa phương tham gia triển khai nghiên cứu đề tài, dự án khoa học công ngh trên địa bàn tỉnh./
Hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ trí thức tại Sơn La thời gian qua tập trung ở các lĩnh vực khoa học công nghệ phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của Tỉnh. Đó là các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; Kỹ thuật công nghệ, xây dựng, giao thông, công nghiệp chế biến, môi trường nhằmphòng ô nhiễm và giảm thiểu thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu; ứng dụng công nghệ sử dụng năng lượng mới năng lượng tái tạo vào sản xuất và đời sống.Trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn đã có nhiều công trình nghiên cứu tổng kết thực tiễn về chính sách phát triển kinh tế- xã hội, an ninh quốc phòng, những vấn đề tôn giáo- dân tộc, các vấn đề về phòng chống ma túy; Bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa, lịch sử, phát triển m các lĩnh vực chủ yếu : Khoa học xã hội nhân văn(khối y tế, giáo dục, chính trị, văn hóa, lịch sử, du lịch và quản lý kinh tế); Đặc biệt lĩnh vực nông lâm thủy sản các đề tài được nghiên cứu đã được chuyển thành dự án sản xuất thử nghiên cứu đã tạo ra các sản phẩm hàng hóa có sức cạnh tranh trên thị trường.
Các lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ, chế biến cũng được trú trọng triển khai nghiên cứu, nhiều sản phẩm từ dự án khoa học đã được duy trì, nhân rộng trong sản xuất như chè, sữa Mộc Châu, Rượu sơn tra Bắc Yên, chuối Yên Châu, mận dẻo Mộc Châu…những sản phẩm này đã tạo được thương hiệu và có chỗ đứng bền vững trên thị trường.
2. Ưu điểm:
- Đại đa số đội ngũ trí thức được đào tạo tại các trường đại học công lập của nhà nước, họ có kiến thức chuyên ngành vững vàng và có lòng say mê trong nghiên cứu khoa học. các đề tài lĩnh vực hàng năm của tỉnh về nông, lâm, thủy sản chiếm 50% tỷ lệ đề tài, dự án; Các đề tài thuộc lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hóa, du lịch, lịch sử khoảng 30%; các lĩnh vực khác về công nghệ, môi trường chiếm khoảng 20%. Với cơ cấu như vậy hàng năm tỉnh Sơn la trung bình có khoảng 20 đề tài dự án được phê duyệt và tổ chức tổng kếtnghiệm thu.
- Quá trình triển khai thực hiện đề tài, dự án nghiêm túc đúng nội dung được phê duyệt và quy định của pháp luật.
Các nhiệm vụ khoa học và công nghệ sau khi kết thúc đã được chủ nhiệm đề tài, dự án và cơ quan chủ trì tiếp tục ứng dụng, nhân rộng đối với kết quả đã nghiên cứu đem lại hiệu quả tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh.
3.Những hạn chế trong nghiên cứu khoa họccủa trí thức tỉnh Sơn La.
a. Hạn chế.
Có thể nhận thấy sự hạn chế của đội ngũ trí thức tỉnh Sơn La là thiếu chuyên gia đầu ngành về lĩnh vực kinh tế- xã hội chủ yếu về nông lâm thủy sản. Hầu hết các Tiến sĩ, thạc sĩ lại tập trung chủ yếu ở ngành giáo dục, y tế hoặc khoa học quản lý. Đây có thể nói cơ cấu đội ngũ trí thức chưa đồng bộ về chuyên ngành và sự phân bố đội ngũ này cũng không tập trung, hầu hết các ngành đội ngũ trí thức chuyển sang làm công tác quản lý nhà nước. Cụ thể hạn chế chủ yếu biểu hiện ở một số khâu như sau:
1) Lựa chọn đề tài nghiên cứu:
- Đa số các chủ nhiệm đề tài đề xuất đề tài theo tính chủ quan của cá nhân đã nghiên cứu, thậm chí đã có trong luân văn tốt nghiệp Thạc sĩ, tiến sỹ nên nội dung đề xuất thường chưa sát với yêu cầu thực tiễn của địa phương, chưa đáp ứng yêu cầu Tỉnh ủy-HĐND và UBND tỉnh yêu cầu. Do đó nguồn đề xuất nhiệm vụ hàng năm tuy nhiều nhưng nhiều Phiếu đề xuất nhiệm vụ còn trùng với các kết quả nghiên cứu trước, hoặc chưa đáp ứng nhiệm vụ Tỉnh chỉ đạo và yêu cầu bức xúc của các huyện, thành phố đang cần giải quyết băng nghiên cứu khoa học.
2) Tổng quan nghiên cứu
- Thường vẫn nêu theo quan điểm nặng về học thuật, thậm chí trích quá dài tài liệu dịch của nước ngoài, trong khi đó yêu cầu Tổng quan nghiên cứu là xem các kết quả đề tài, dự án trong nước đã thực hiện, chủ trương của tỉnh, sự cần thiết và khách quan cần nghiên cứu đề tài, sản phẩm đề tài đáp ứng nhiệm vụ gì của việc phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh.
3) Mục tiêu nghiên cứu
Thông thường các tác giả ghi mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể. Nhưng thường hay quên mục tiêu chính là hướng tới sản phẩm đề tài, dự án và sau khi kết thúc nghiệm thu thì phương án sử dụng kết quả nghiên cứu ra sao, tổ chức ứng dụng nhân rộng mô hình ở đâu.
4) Nội dung, phương pháp nghiên cứu.
Đa số các chủ đề tài, dự án đã đề cập được nội dung trọng tâm trong nghiên cứu mang tính chuyên ngành sâu thuộc lĩnh vực nghiên cứu. Nhưng một số chủ nhiệm đề tài, dự án lại chưa xem xét kỹ cơ sở khoa học là gì, cơ sở pháp lý và chủ trương chính sách có liên quan. Đặc biệt chưa nêu và mô tả kỹ nội dung nghiên cứu và sản phẩm kết quả đạt được phải đạt tiêu chuẩn chất lượng nào. Phương pháp nghiên cứu còn thiếu mô tả kỹ thuật sử dụng và nghiên cứu đa ngành; Chẳng hạn một kết quả nghiên cứu về chính sách hay sản phẩm nông nghiệp đều có liên quan rất nhiều lĩnh vực chuyên ngành khác.
5) Quá trình nghiên cứu khoa học
Về thực hiện triển khai nghiên cứu khoa học - công nghệ còn nặng về những gì mà giáo trình, quy trình công nghệ có sẵn(đọc sách), còn thiếu sáng tạo, phát hiện tính mới, tính thực tiễn trong nghiên cứu để tạo luận cứ khoa học hoặc quy trình công nghệ mới thích hợp cho điều kiện cụ thể từng lĩnh vực nhằm đem lại hiệu quả xã hội, hiệu quả kinh tế.
6) Khi kết thúc đề tài các trí thức là chủ nhiệm đề tài chưa xây dựng kế hoạch ứng dụng kết quả đề tài, dự án vào sản xuất,chưa tìm các doanh nghiệp hoặc cơ sở tiếp nhận kết quả nghiên cứu, do đó có ảnh hưởng đến việc ứng dụng kết quả đề tài, dự án vào thực tiễn.
7) Về thời gian nghiên cứu:
Nhiều trí thức của tỉnh đang công tác tại các cơ quan quản lý nhà nước, các ban đảng, các tổ chức xã hội, một số chủ nhiệm đề tài là lãnh đạo chủ chốt các Sở, Ban ngành của tỉnh, do đó hạn chế nhất định về:
- Thời gian giành cho nghiên cứu đề tài, điều này thường dẫn đến đề tài chậm tiến độ từ 06 tháng đến 01 năm(cá biệt có đề tài chậm đến 3 năm).
- Thiếu thời gian để tổ chức triển khai đi nghiên cứu hoặc bám sát thí nghiệm trong nghiên cứu, điều này có trường hợp ảnh hưởng chất lượng chuyên môn đề tài.
- Do nặng về công tác quản lý nhà nước nên trí thức các Sở, ban ngành không đủ thời gian thực hiện đầy đủ quy trình nghiên cứu, vì thế có ảnh hưởng tác động chậm tiến độ đề tài và hạn chế về tính nghiên cứuứng dụng kịp thời.
b. Nguyên nhân.
- Thiếu hụt của đội ngũ trí thức đầu ngành, một số trí thức được đào tạo chuyên môn cao lại chuyển giữ chức lãnh đạo, quản lý.
- Chính sách ưu đãi và cơ chế khuyến khích của tỉnh đối với đội ngũ trí thức thiếu cụ thể và chưa động viên kịp thời họ tham gia nghiên cứu khoa học.
- Việc đầu cơ sở hạ tầng, thiết bị, phòng thí nghiệm phục vụ nghiên cứu và phát triển khoa học và còn hạn chế.
Ngoài ra, còn có những nguyên nhân khác như: mất cân đối giữa quy mô và chất lượng của hệ thống giáo dục và đào tạo; tách biệt giữa nghiên cứu và giảng dạy; Bí bách trong môi trường làm việc; yếu kém trong sử dụng nhân tài và thiếu dân chủ trong nhiều lĩnh vực.
IIGiải pháp nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của trí thức 
Phương hướng chung cơ bản là phải xây dựng chotỉnh một đội ngũ trí thức đủ mạnh cả về số lượng và chất lượng trên các mọi lĩnh vực. Từng bước phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu, chủ động vượt quanhững tồn tại đối với trí thức hiện có. Có chính sách đào tạo, bồi dưỡng, đãi ngộ và sử dụng hợp lý.
Trên cơ sở đó cần có một số giải pháp đối với trí thức nghiên cứu khoa học là:
1) Về nhận thức phải xác định rõ vai trò của đội ngũ trí thức trong vai trò nhiệm vụ nghiên cứu khoa học phục vụ phát triển kinh tế- xã hội. Tỉnh uy-HĐND và UBND tỉnh cần tiếp tục rà soát Nghị quyết đề án đào tạo cán bộ công chức của tỉnh bao gồm đào tạo trong nước và ngoài nước góp phần làm tăng số lượng và chất lượng chuyên môn của đội ngũ trí thức. Đồng thời phát huy vai trò của họ trên mọi lĩnh vực tại các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và sự khởi nghiệp của trí thức trẻ trong thời gian tới.
2) Đổi mới cơ chế Đề xuất nhiệm vụ và Đặt hàng nhiệm vụ khoa học và công nghệ hàng năm:
- Việc Đề xuất nhiệm vụ của đội ngũ trí thức phải căn cứ vào các Nghị quyết của tỉnh Tỉnh ủy- HĐND và những quyết định lớn của tỉnh về mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội hàng năm và kế hoạch 5 năm, dựa vào các kết quả đề tài, dự án đã nghiên cứu thành công trong nước, trong tỉnh để xem xét ý tưởng đề xuất nhiệm vụ; Đồng thời phải giành thời gian đi các huyện, thành phố, đến các doanh nghiệp, các Hợp tác xã…để khảo sát thực tiễn những vấn đề bức xúc trong sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm địa phương để nghiên cứu đề xuất nhiệm vụ nghiên cứu.
- Đối với các đơn vị đặt hàng bao gồm các Sở, ban ngành, UBND các huyện, thành phố…khi xem xét đặt hàng nhiệm vụ KHCN hàng năm phải làm rõ yêu cầu mục đích sản phẩm đặt hàng gắn với các vấn đề thực tế mà địa phương cần nghiên cứu, ứng dụng hoặc tiếp thu các quy trình công nghệ mới vào sản xuất và đời sống để yêu cầu các nhà khoa học trung ương và địa phương tham gia đề xuất nghiên cứu.
3) Quá trình thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ:
- Cơ quan chủ trì phải tạo điều kiện cho chủ nhiệm đề tài có thời gian tham gia thực hiện.
-  Chủ nhiệm đề tài phải nêu cao trách nhiệm đối với các nội dung nghiên cứu, giành nhiều thời gian cho việc nghiên cứu đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng nội dung chuyên môn, bám sát thực tiễn và cập nhật thông tin đầy đủ về kết quả thực hiện các quy trình kỹ thuật, số liệu thực nghiệm phải chính xác, chịu trách nhiệm trước nhà nước về kết quả nghiên cứu.
- Các cơ quan đặt hàng tạo điều kiện thuận lợi về địa bàn, giúp đỡ các chủ đề tài, dự án thực hiện đầy đủ nhiệm vụ nghiên cứu trên địa bàn.
- Sau khi nghiệm thu chủ nhiệm nhiệm vụ có trách nhiệm xây dựng kế hoạch triển khai ứng dụng đối với các cơ sở, phối hợp với cơ quan Đặt hàng nhân rộng kết quả nghiên cứu vào sản xuất, định kỳ báo cáo kết quả ứng dụng về Sở Khoa học và Công nghệ tổng hợp báo cáo UBND tỉnh và Bộ Khoa học và Công nghệ.
4)Tăng cường quản lý, đổi mới công tác quản lý tài chính đối với nhiệm vụ khoa học công nghệ của tỉnh, nhằm tiết kiệm, sử dụng có hiệu quả nguồn tài chính ngân sách khoa học và công nghệ.
5) Tích cực hợp tác và mời các nhà khoa học ở các trường đại học, các cơ quan nghiên cứu của trung ương về Sơn La tham gia nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ, hỗ trợ đội ngũ trí thức địa phương tham gia triển khai nghiên cứu đề tài, dự án khoa học công nghệ trên địa bàn tỉnh./

Số lần đọc : 2932   Cập nhật lần cuối: 24/05/2018

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 4424794

Số người Onlne: 20