Nghiên cứu → Văn hóa - Xã hội - Môi trường

Tết của người Dao ở Phiêng Côn


 

 



 

Tết của người Dao ở Phiêng Côn




 
Xã Phiêng Côn cách trung tâm huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La 60km về hướng nam, có tổng diện tích tự nhiên 4.194 ha, dân số năm 2015 là 2.166người, trong đó dân tộc Dao chiếm 53,3%.Trước kia, người Dao còn được gọi là người Mán, xuất phát từ chữ Man mà ra. Tên gọi này là một tên phiếm xưng bắt đầu từ thời nhà Hán, có ý miệt thị được dùng để chỉ các tộc người bị cho là người mọi rợ, sinh sống ngoài địa bàn cư trú của Hán tộc. Người Dao ở Phiêng Côn tự gọi mình là “Kim Mùn”, có nghĩa là người rừng hoặc người ở rừng. Đến năm 1968, tại Hội nghị các dân tộc toàn quốc đã thống nhất tên gọi chung là dân tộc Dao và được sử dụng như một tên gọi chính thức ở Việt Nam.
Theo các cụ già ở Phiêng Côn kể lại, để có được địa vực cư trú ổn định như ngày nay, cha ông nhiều đời của họ đã phải vượt qua muôn vàn thử thách khó khăn. Từ thế kỷ XVIII tổ tiên của người Dao ở Phiêng Côn ngày nay đã đi từ Phong Thổ, Lai Châu qua nhiều chặng, nhiều lần dựng làng lập bản theo sông Nậm Mu, đến sông Đà rồi xuôi theo sông Đà vào đất Phiêng Côn. Khi đến vùng đất Bắc Yên ngày nay, người Dao không thể cư trú ở những khu vực ven sông Đà, vì những vùng đất trù phú này đã có người Thái và người Mường định cư. Vì vậy người Dao chỉ còn cách đi sâu vào phía trong, tức là khu vực Phiêng Côn ngày nay.
Người Dao ở Phiêng Côn thuộc ngành Dao Quần Chẹt với các họ như: Bàn, Đặng, Triệu, Lý...Trong suốt quá trình lịch sử cư trú họ gặp phải nhiều khó khăn, luôn phải di chuyển đến địa điểm cư trú mới, tìm những vùng đất mới để lập nghiệp. Nhưng văn hóa truyền thống của người Dao ở Phiêng Côn vẫn vượt qua mọi khó khăn và tồn tại cùng với những thăng trầm của lịch sử. Người Dao vẫn duy trì được vốn truyền thống chữ viết Nôm Dao của dân tộc mình từ nhiều thế kỷ nay, cùng với quá trình cư trú lao động sản xuất luôn khiến cho người Dao phải học hỏi, tìm tòi và sáng tạo cho phù hợp với các điều kiện hoàn cảnh thực tế, từ đó mà họ hình thành nên các hệ tri thức trong việc ứng xử với môi trường tự nhiên để đáp ứng cuộc sống và lao động sản xuất một cách tinh tế. Do vậy kho tàng tri thức, văn hóa dân tộc người Dao độc đáo và mang đậm nét khác biệt so với dân tộc khác.
Tín ngưỡng tôn giáo của người Dao ở Phiêng Côn chịu ảnh hưởng của Tam giáo, trong đó sâu đậm nhất là Đạo giáo. Thể hiện qua các hệ thống miếu thờ thần của người Dao. Khi hành nghề cúng bái, các thầy cúng Dao Quần chẹt đều đọc một số kinh của Đạo giáo, hệ thống các bùa chú, pháp khí trừ tà ma như chuông đồng, gậy thần... đều là những khí cụ của Đạo giáo. Bên cạnh đó còn ảnh hưởng của Phật giáo, Nho giáo.Ngôi nhà truyền thống của người Dao Quần chẹt thường có ba hoặc năm gian, trong đó gian giữa được coi là vị trí trang trọng nhất, là trung tâm của ngôi nhà. Những việc quan trọng như thờ phụng, tiếp khác... đều diễn ra ở gian này. Gian giữa luôn là cửa lớn ra vào, mở cửa là nhìn thấy trời đất, lưu thông, âm dương hòa đồng. Bàn thờ là nơi thể hiện lòng thành kính của con cháu đối với tổ tiên nên bàn thời thường được lập ở chính giữa gian giữa của ngôi nhà.
Người Dao ở Phiêng Côn có một kho tàng văn hóa lớn, giàu bản sắc, hàng năm người Dao có một loạt các lễ tết, hội rất độc đáo như: Rằm tháng Giêng, Tết Thanh minh, Rằm Tháng Bảy, Tết cơm mới, Tết cúng làng... các nghi lễ gồm có Lễ lập tịch, Lễ cúng chay, cúng giải hạn, chữa bệnh... việc cưới xin, dựng nhà mới cũng là những công việc hệ trọng của cộng đồng người Dao. Những ngày này luôn diễn ra nhộn nhịp, sôi động như một ngày hội lớn của toàn cộng đồng người Dao.Trong số những ngày lễ, tết quan trọng nhất của người Dao ở Phiêng Côn phải kể đến Tết Nguyên đán.



Khác với một số dân tộc, người Dao Quần Chẹt không thờ ông Táo nên không khí ngày Tết chỉ thực sự bắt đầu từ ngày 28 tháng Chạp đồng bào giết lợn để chuẩn bị thực phẩm cho ba ngày tết. Ngày Hai chín tất cả mọi thành viên trong gia đình đều tất bật mỗi người một công việc chuẩn bị gói bánh chưng. Theo phong tục, ngày Tết cuối năm đồng bào Dao quần chẹt chỉ cúng tổ tiên bằng bánh chưng đen (bánh gù) và bánh mật, cùng với hương, rượu, tiền, giấy gió... đến sáng ngày Ba mươi tết mọi gia đình đều dậy thật sớm để dọn mâm thờ cúng gia tiên. Bánh chưng gù đen được làm rất cầu kỳ, lấy cây lúc lắc đã phơi khô đem đun lấy than sau đó cho vào cối giã mịn và lấy bột than đó ngâm với gạo. Bánh chưng đen có đặc điểm là gù ở giữa nên đồng bào Dao quần chẹt thường gọi là bánh chưng gù.
Người Dao Quần Chẹt rất coi trọng đạo hiếu. Đạo hiếu không chỉ được thể hiện với ông bà, cha mẹ, những người có công sinh thành và nuôi dưỡng ta nên người, mà đạo hiếu còn được thể hiện với người thầy (sư phụ) truyền dạy đạo đức, đạo làm người (thể hiện qua nghi lễ lập tịch, lễ cấp sắc). Vì vậy, khi thực hiện nghi lễ cúng mời tổ tiên về hưởng lễ, gia chủ cũng phải mời cả thầy (sư phụ) “Tpha” về hưởng lễ, chung vui cùng con cháu và phù hộ che chở cho con cháu.
Chỉ người đàn ông trong gia đình mới được thực hiện nghi lễ cúng tổ tiên, nếu vì lý do nào đó không có chủ gia đình thì người con trai đã trải qua lễ cấp sắc phải thực hiện nghi lễ này. Sau khi đã dọn xong mâm cúng cho tổ tiên, người chủ gia đình thắp ba nén nhang cắm vào chiếc bát đựng đầy gạo, miệng nhẩm đọc lời khấn với đại ý: Hôm nay là ngày Tết cuối năm (ngày Ba mươi tết), tên con là ... (tên ghi trong gia phả), có vợ tên là..., nhân dịp Tết Nguyên đán (“Xi nhụt thệt”) chúng con sắm lễ vật dâng lên trước mâm gia tiên. Chúng con kính mời các vị thần linh, sư phụ cùng các vị tổ tiên (tên, tuổi của từng vị tổ tiên là gì) xuống chứng giám, thụ hưởng lễ vật và phù hộ cho con cháu làm ăn may mắn, sức khỏe dồi dào, ra đường tai qua nạn khỏi, gia súc, gia cầm không dịch bệnh...
Khấn thỉnh xong gia chủ cắm nén nhanh lên bát hương hàm ý mời tổ tiên, sư phụ và các vị thần linh hưởng lễ vật. Lễ vật gồm có thịt gà, thịt lợn, ngoài ra còn có rau xào, cá và 6 chiếc bánh chưng để xếp hai bên bát hương, 5 chén rượu...Cách bày đồ lễ để thờ cúng được người Dao Quần Chẹt chú ý và thực hiện cẩn thận. Bát hương là đồ quan trọng nhất và không thể thiếu trên bàn thờ, được đặt ở vị trí chính giữa của mâm thờ cúng tổ tiên, tiếp đến ở trước bát hương phía bên trái và phải đặt 6 chiếc bánh chưng (mỗi bên 3 chiếc bánh), trên mỗi chiếc bánh chưng, họ thắp một nén nhang cắm lên trên (với hàm ý rằng hương khói của nén nhang sẽ dẫn đưa tổ tiên đến ăn bánh), ở phía trước bánh xếp 5 chén rượu để rót rượu. Ngoài thịt, bánh chưng trên mâm thờ cúng còn có đèn dầu lúc nào cũng được thắp sáng (ngọn lửa tượng trưng cho sự đầm ấm, hạnh phúc và bình an), thẻ hương, giấy vàng, chai rượu...
Ngoài những lễ vật cúng tổ tiên trên bàn thờ, ngày Tết cuối năm đồng bào Dao Quần chẹt còn treo một chiếc bánh chưng ngoài cửa bếp cúng cho các tổ tiên từ đời thứ 5 về trước và con cháu đã chết mà không được cúng giỗ, không được vào trong nhà ngồi đoàn tụ với tổ tiên. Họ quan niệm linh hồn của các vị tổ tiên đó chưa được đầu thai vào con cháu, không được con cháu thờ cúng nhưng ngày tết vẫn tìm về với con cháu; nên để tỏ lòng hiếu thảo, sự tôn kính và tưởng nhớ của đời sau đối với những người đã khuất, ngày lễ tết con cháu vẫn dâng lễ dù chỉ là một chiếc bánh chưng, nhưng cũng phần nào bày tỏ được tấm lòng hiếu kính của thế hệ con cháu đối với người đã khuất, thế hệ trước.Trong lễ vật dâng cúng tổ tiên, ông bà, người Dao Quần chẹt không bao giờ cúng những thực phẩm sống chưa qua chế biến như thịt sống, rau sống, thịt trâu, thịt chó... bởi những loại thịt đó người ta chỉ dùng để cúng ma ngoài, ma đói.
Vào tối Ba mươi tết, mọi người trong gia đình đều tắm rửa sạch sẽ và thay quần áo mới để sớm mai vui xuân đầu năm (đồng bào quan niệm mọi thứ liên quan đến năm cũ đều phải được gột rửa đi hết, con người phải sạch sẽ thì bước vào năm mới sẽ có nhiều may mắn hơn). Tối đêm Tất niên con cháu phải thắp hương cho tổ tiên, tuy nhiên đồng bào kiêng không cho phụ nữ dâng hương lên tổ tiên.Người Dao quần chẹt quan niệm chỉ cần cúng tổ tiên hết một tuần nhang là có thể dọn đồ lễ xuống. Đồng bào không quy định là nam giới mới được phép dọn lễ thờ cúng mà người phụ nữ trong gia đình cũng có thể thực hiện được. Mâm cúng được dọn xong cả gia đình quây quần bên mâm cơn ngày tết cuối năm với không khí ấm cúng và vui vẻ.
Sáng mùng Một Tết, mọi người đều dậy thật sớm, chuẩn bị 1 bữa cơm tươm tất để làm lễ cúng đầu năm mới. Cả ngày mùng 1 Tết, người Dao dành để đi thăm hỏi, chúc Tết mọi gia đình trong họ tộc và những nhà thân cận. Từ ngày mùng 2 trở đi, mọi người được tự do đi chúc Tết bạn bè gần xa, đi chơi xuân. Già trẻ, gái trai nô nức kéo nhau về nơi tập trung sinh hoạt cộng đồng, thường là một bãi đất rộng, và nay là nhà văn hóa thôn bản. Tại đây, người lớn tuổi cùng nhau ôn lại truyền thống và những phong tục, bản sắc văn hóa của dân tộc, của thôn bản mình. Lớp thanh niên thì chia thành từng tốp để ca hát, nhảy múa và chơi các trò chơi dân gian như đánh quay, đánh yến, ném còn, kéo co.Đặc biệt, đây chính là dịp để những chàng trai, cô gái người Dao gặp gỡ, dò hỏi và ướm lời nhau qua những bài hát tỏ tình, giao duyên. Nhiều đôi đã thành vợ, thành chồng từ những buổi đi chơi xuân.
Hệ thống lễ tết, lễ hội của người Dao ở Phiêng Côn rất phong phú và độc đáo, xuyên suốt chu kỳ lao động sản xuất trong năm và theo chu kỳ đời người của cộng đồng. Ngày nay tuy đã có nhiều biến đổi do tác động của nền kinh tế thị trường nhưng trong văn hóa của người Dao ở Phiêng Côn vẫn duy trì được nhiều nét độc đáo thông qua hệ thống lễ tết, hội diễn ra theo chu kỳ hàng năm.
 
Hà Ngọc Hòa (Tổng hợp)
 
 
 
 

 

Số lần đọc : 1815   Cập nhật lần cuối: 20/03/2020

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 9577007

Số người Onlne: 19