Nghiên cứu → Lịch sử

Sử kí Trung Quốc không có Hoàng Sa và Trường Sa


 



Sử kí Trung Quốc không có Hoàng Sa và Trường Sa  

                                                                                                
 
Theo tài liệu nghiên cứu của nhiều nhà sử học trên thế giới và Việt Nam, lịch sử Trung Quốc trong suốt 22 thế kỷ, từ các thời Tần, Hán đến giữa thế kỷ XX, không thấy câu chữ nào ghi rằng Biển Đông là Biển Nam Trung Hoa cùng với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa)...

 

Bản đồ tổng thể lãnh thổ Trung Quốc trong quyển Atlas 1908 không hề có 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa - Ảnh: infonet.vn
 
 
Các học giả, nhà nghiên cứu, các thư viện lịch sử trên thế giới (kể cả ở Trung Quốc) hiện có nhiều thư tịch cổ Trung Quốc, do người Trung Quốc ghi chép trong chiều dài lịch sử 22 thế kỷ của họ có nhiều chi tiết thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Đáng chú ý là tập sách lịch sử Trung Quốc có tựa: “Lịch sử Trung Quốc thời Trung cổ” do Hàn lâm Viện Trung Quốc xuất bản tại thành phố Đài Bắc (đài Loan) năm 1978, Trong đó có bài viết “Nghiên cửu về lịch sử và địa lý” do học giả Hsieh Chiao-Min viết đã có đoạn bình luận đánh giá các cuộc thám hiểm trên đại dương của các triều đại Trung Quốc xưa như sau: “Suốt chiều dài lịch sử, về sự phát triển văn hóa và khoa học, dân tộc Trung Hoa không tha thiết với đại dương”. Theo ông, các tài liệu lịch sử chính thống của Trung Quốc: “Thỉnh thoảng một số triều đại của Trung Hoa gửi những đoàn thám hiểm đến Nhật trong các thế kỷ thứ III và thứ II (Trước công nguyên - TCN) và gửi đoàn thám hiểm đến biển Đông, Ấn Độ, Ba Tư và Phi Châu trong thế kỷ XV.
Điểm rõ nét nhất là tại Thái Bình Dương hầu như không có những vụ xâm nhập quy mô của Trung Hoa suốt chiều dài lịch sử (từ đời nhà Tần thế kỷ thứ III (TCN) đến đời nhà Thanh từ thế kỷ XVII, kéo dài đến thế kỷ XX). Còn dưới đời nhà Mình, thì Minh Thành Tổ có vài lần cử Đô đốc Thái Giám Trịnh Hòa chỉ huy những đoàn thám hiểm đến Ấn Độ Dương và Biển Ả Rập nhằm thiết lập bang giao với các quốc gia vùng duyên hải, triển khai con đường tơ lụa tại Ấn Độ, Châu Phi và Trung Đông. Những chuyến hải hành của phái bộ Trịnh Hòa thời ấy chỉ đi ngang qua biển Đông nhằm khai phá Ấn Độ Dương. Trạm trú chân duy nhất của đoàn trong khu vực này là Đồ Bàn - thủ đô Chiêm Thành thời bấy giờ (thuộc An Nhơn Binh Định hiện nay). Sau khi Minh Thành Tổ qua đời, triều nhà Minh đã phê phán những cuộc hải trình do Trịnh Hòa chủ trì thời ấy chỉ nặng phần trình diễn là chính và chỉ góp phần làm suy yếu nền kinh tế Trung Quốc thời bấy giờ.
Còn nhà sử gia Triệu Nhữ Quát đời nhà Tống (Trung Quốc)  viết trong cuốn “Chu Phiên Chí” đã xác nhận nhiều sự kiện lịch sử quan trọng từ thời Hán như sau: “…Vào năm 111 TCN, sau khi thôn tính Nam Việt “Hán Vũ Đế sai quân vượt biển sang chiếm đất và đặt ra 2 quận Châu Nhau và Đạm Nhĩ (thuộc đảo Hải Nam). Sau đó vào  thế kỷ thứ I TCN, Hán Nguyên Đế đã rút quân khỏi đảo Hải Nam. Mãi tới đời nhà Lương và nhà Tùy (cuối thế kỷ thứ VI, đầu thế kỷ thứ VII) họ mới đặt lại quyền cai trị” ở đảo Hải Nam.
Học giả Triệu Nhữ Quát (TQ) cũng viết thêm rằng: vùng quần đảo Hoàng Sa (Vạn Lý Trường Sa) là nơi nguy hiểm, tàu thuyền Trung Hoa ít khi đến gần vì chỉ đi sai một chút là có thể chìm thuyền”. Nhan đề cuốn sách nói trên có tên gọi là “Chư Phiên Chí”, có nghĩa là chép chuyện các phiên quốc (nước ngoài) có những đoạn như: “Vạn Lý Trường Sa nằm ở phiên quốc …”, (phiên Quốc có nghĩa không thuộc về nước Trung Quốc). Như vậy, biên giới trên biển Đông của Trung Quốc vào đời nhà Hán cũng chỉ giới hạn tới đảo Hải Nam là hết, và “Vạn lý Trường Sa” tức Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh hải của “phiên quốc” Việt Nam.
Một trang trong cuốn chính sử Trung Quốc “Hải Ngoại Kỳ Sự” (1695) của Thích Đại Sán - nhà sư Trung Quốc đời vua Khang Hy cũng thuật lại chuyến du hành tới Việt Nam, ông nầy nói rằng  chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của nước Đại Việt (tức Việt Nam hiện nay).
Vào đời nhà Đường bên Trung Quốc có sách “Đường Thư Nghệ Văn Chí” đã đề cập tới tác phẩm “Giao Châu Dị Vật Chí” của Dương Phu. Cuốn sách nầy ghi chép những chuyện kỳ dị và những nơi kỳ dị tại Giao Châu (Việt Nam). Sách này chép: “Tại Thất Châu Dương (nhóm An Vĩnh, quần đảo Hoàng Sa) là nơi có nhiều đá nam châm khiến các thuyền ngoại dương có đóng chốt sắt đi qua đều không được…”. Điều này lại một lần nữa xác định quần đảo Hoàng Sa là của Giao Châu xưa (nay là nước Việt Nam). Trong đời Nam Tống, cuốn sách “Lĩnh Ngoại Đại Đáp” của tác giả Châu Khứ Phi cũng xác nhận: “Vạn Lý Trường Sa (Hoàng Sa) tọa lạc tại Giao Chỉ Dương” (biển Việt Nam). Chư Phiên Đồ đời Tống cũng xác định: giới hạn lãnh thổ của Trung Quốc với các nước khác là ở Giao Dương (tức Giao Chỉ Dương). Giao Chỉ Dương (Biển Giao Chỉ) chính là Vịnh Bắc Bộ ngày nay của Việt Nam, trong khi Hoàng Sa và Trường Sa lại nằm cách xa Vịnh Bắc bộ hàng trăm dặm về phía nam.
Như vậy, các thư tịch cổ Trung Quốc từ đời nhà Tống đã gián tiếp thừa nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không thuộc về Trung Quốc mà thuộc về nước mà Trung Quốc gọi là phiên quốc hay Giao Châu, Giao Chỉ - có nghĩa là nước Việt Nam chúng ta hiện nay.
Vào đời nhà Nguyên (Trung Quốc), thì nước ta khi ấy có tên là nước Đại Việt đã 3 lần đánh tan quân Nguyên - Mông xâm lược và góp phần phá tan kế hoạch Đông Tiến (đánh Nhật) của đoàn quân Mông Cổ bách chiến bách thắng do Thành Cát Tư Hãn thành lập. Sau ba lần xâm lược Việt Nam đều bị đại bại, triều đình Trung Quốc lúc ấy nhận định không thể thôn tính Việt Nam, kể cả trên lục địa lẫn các biển và hải đảo của Việt Nam.
Từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XIV, theo chính sử Trung Quốc, thì quân Mông Cổ không hề có ý định xâm chiếm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong cuốn “Dư Địa Đồ” đời Nguyên của tác giả người Trung Quốc Chu Tư Bản đã vẽ và in trong cuốn sách Quảng Dư Đồ của La Hồng Tiên thực hiện năm 1561, theo đó, Bản đồ phần cực nam lãnh thổ Trung Hoa chỉ kéo dài đến tận đảo Hải Nam là hết.
Đời nhà Minh cũng có cuốn chính sử tựa đề “Thiên Hạ Thống Nhất Chi Đồ” trong bộ sách “Đại Minh Nhất Thống Chí” (1461), và cuốn Hoàng Minh Đại Thống Nhất Tổng Đồ trong tập sách Hoàng Minh Chức Phương Địa Đồ (1635) cũng đã vẽ bản đồ phần cực nam của Trung Quốc chỉ giới hạn đến đảo Hải Nam (chứ không phải là đường lưỡi bò như hiện nay!).
Trong cuốn Vũ Bị Chí của Mao Nguyên Nghi (Trung Quốc)  gọi biển Đông là Giao Chỉ Dương (tức biển của Giao Chỉ - Việt Nam). Đồng thời trên các bản đồ Trịnh Hòa Hạ Tây Dương, Trịnh Hòa Hàng Hải Đồ cũng không có các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa (hay cách nói của Trung Quốc là không có Tây Sa, Nam Sa), trong suốt lộ trình và hải đạo của Trịnh Hòa sau 7 lần đi ngang qua Biển Đông để khai phá Ấn Độ Dương (Tây Dương).
Nhiều tài liệu lịch sử đời nhà Minh cũngthể hiện, từ thế kỷ XV, các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nguyên là địa bàn ngư nghiệp của vua Chiêm Thành (nước Chiêm Thành) sau đó đã trở thành lãnh thổ của nước Đại Việt (Việt Nam).
Trong lịch sử Việt Nam cho thấy từ năm 1427 Lê Lợi đã đánh thắng quân Minh (Trung Quốc) để giành lại chủ quyền cho nước Đại Việt bị vua Minh Thành Tổ (Trung Quốc) chiếm đoạt gần 20 năm trước đó (1407). Còn trong cuốn Đại Thanh Nhất Thống Toàn Đồ, của Trung Quốc thời ấy còn ghi rõ: “…đảo nhỏ ở phía dưới là Hải Nam, gần đó bên trái là Giao Chỉ, đảo lớn hơn bên phải là Đài Loan…”
Theo bản đồ Hoàng Thanh Nhất Thống Dư Địa Bản Đồ do triều đình nhà Thanh ấn hành năm 1894 thì đến cuối thế kỷ XIX “lãnh thổ biên giới của Trung Quốc chỉ chạy đến đảo Hải Nam là chấm hết”. Bước qua thế kỷ XX, sự kiện này còn được xác nhận lại trong cuốn Trung Quốc Địa Lý Học Giáo Khoa Thư, xuất bản năm 1906 có đoạn viết như sau: “Điểm cực nam của Trung Quốc là bờ biển Châu Nhai thuộc quận Quỳnh Châu (Hải Nam – Trung Quốc), tại vĩ tuyến 18”. Các quận Châu Nhai và Đạm Nhĩ thuộc đảo Hải Nam kéo dài tới vĩ tuyến 18. Trong khi quần đảo Hoàng Sa lại nằm về phía nam, từ vĩ tuyến 17 đến vĩ tuyến 15 (thuộc địa phận tỉnh Quảng Trị đến tỉnh Quảng Ngãi) và quần đảo Trường Sa nằm ở vĩ tuyến 12 đến vĩ tuyến 8 (từ Cam Ranh đến Cà Mau).
Trong bản đồ Đại Thanh Đế Quốc do triều đình nhà Thanh ấn hành cũng có các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (hoặc theo cách gọi của Trung Quốc hiện nay là Tây Sa, Nam Sa, Vĩnh Lạc, Tuyên Đức…). Hơn nữa, trong bộ Hải Quốc Đồ Ký, cuốn Hải Lục của Vương Bỉnh Nam (1820-1842) lại ghi rằng: “Vạn Lý Trường Sa (Hoàng Sa) là dải cát dài nằm ngoài biển được dùng làm phên dậu che chắn mặt ngoài bờ cõi nước An Nam”. Như vậy, tư liệu này của Trung Quốc một lần nữa đã xác nhận rõ hai quần đảo Hoàng Sa chính là lãnh thổ trên biển của Việt Nam.
Trong bộ sách địa lý Đại Thanh Nhất Thống Chí do Quốc Sử Quán đời nhà Thanh biên soạn năm 1842. với lời tựa của hoàng đế Thanh Tuyên Tông, cũng không có chỗ nào ghi Trường Sa, Hoàng Sa, hay Tây Sa, Nam sa cả.
Theo cuốn chính sử Hải Quốc Văn Kiến Lục của Trần Luân Quýnh (1744), thì các vùng lãnh hải Việt Nam tại Biển Đông được ghi bằng các danh xưng như Việt Hải hoặc Việt Dương. Đặc biệt là trong vụ ngư dân đảo Hải Nam đi cướp tàu chở đồng của người Anh bị đắm tại khu vực quần đảo Hoàng Sa những năm 1895-1896, để trả lời văn thư phản kháng của Chính Phủ Vương Quốc Anh, Tổng Đốc Lưỡng Quảng (Trung Quốc) thời ấy đã gửi văn thư phủ nhận trách nhiệm với lý do nêu ra là: “Hoàng Sa không có liên quan gì tới Trung Quốc”. Ngoài ra trong cuốn Hải Ngoại Kỷ Sự (1695) của Thích Đại Sán - một nhà sư thời Khang Hy khi đến đất Thuận Hóa (Huế) của chúa Nguyễn vào ngày 29 tháng Giêng năm Ất Hợi đã thuật lại chuyến hải hành này và ghi nhận chủ quyền của nước Đại Việt trong việc chiếm hữu, kiểm soát và khai thác vùng Biển Đông nơi có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ thế kỷ thứ XVII.
Như vậy các nhà viết sử từ thời cổ đại đến thời cận đại của Trung Quốc đều xác định qua các tác phẩm chính sử của mình không có biên Đông, và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là được các triều đại vua chúa nước ta phát hiện, xác định chủ quyền  và cử các đội quân đến khai thác trong nhiều thế kỷ trước một cách hòa bình, liên tục mà không hề có sự phản đối của bất cứ quốc gia nào kể cả Trung Quốc. Điều đó đươc minh chứng từ các chi tiết trong các cuốn lịch sử, chính sử của nhiều triều đại phong kiến Trung Hoa. Lịch sử của Trung Quốc đã ngày xưa đã gián tiếp thừa nhận chủ quyền của người Việt trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong suốt hơn 22 thế kỷ, từ thời nhà Tần, nhà Hán kéo dài đến giữa thế kỷ XX, sau nầy Trung Quốc mới nảy sinh ý đồ bành trướng, tranh giành biển đông như hiện nay.
BỘ SỬ KÝ NHÀ NGUYỄN
Thời nhà Nguyễn các vị vua chúa nước ta đã quan tâm đến hoạt động xuất nhập khẩu và kinh tế biển từ rất sớm. Các hoạt động vươn ra biển Đông của nhà Nguyễn thời ấy chính là nhằm khẳng định chủ quyền lãnh hải trên biển Đông và khai thác biển đảo, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, được ghi chép đầy đủ, thống nhất trong các bộ sử ký của thời nhà Nguyễn, cũng như trong các tài liệu của nước ngoài mà chúng ta thu thập được trong những năm gần đây ...
          Theo tư liệu lịch sử, nhà sư Thích Đại Sán là một trong những vị cao tăng người Trung Quốc được chúa Nguyễn (Việt Nam) mời đến đất Thuận Hóa (Huế) để truyền giảng kinh Phật. Thích Đại Sán  là người đã khai sáng chùa Thiền Lâm vào năm 1695, mở Đại giới đàn ở chùa Thiên Mụ (Huế), làm cố vấn chính trị cho chúa Nguyễn Phúc Chu. Ông Sán đến Thuận Hóa bằng đường biển, qua cảng thị Hội An. Khi trở về Trung Quốc, nhà sư nầy đã viết cuốn Hải ngoại ký sự. Cuốn sách được xem là một cẩm nang đối với giới nghiên cứu lịch sử. Đọc cuốn Hải ngoại ký sự có thể thấy từ thế kỷ 15-17, nhà nước phong kiến Việt Nam đã thực thi quyền chủ quyền của mình trên một vùng lãnh hải rộng lớn ở biển Đông, trong đó có 02 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các triều đình phong kiến Việt Nam thời ấy đã thực thi quyền chủ quyền của mình trên biển Đông như thu thuế các tàu buôn nước ngoài đi qua biển Đông; thành lập đội hải quân Hoàng Sa, hàng năm ra khai thác hải sản, tìm vớt cổ vật, hàng hóa từ những chiếc tàu bị đắm ở biển Đông và các quần đảo trên biển Đông.
          Trong cuốn Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (1726-1784) ông có viết về Hoàng Sa như sau: "Ở ngoài núi Cù Lao Ré (tức huyện đảo Lý Sơn thuộc tỉnh Quảng Ngãi ngày nay) có đảo Đại Trường Sa (tức quần đảo Hoàng Sa). Ngày trước, nơi đây thường sản xuất nhiều hải vật chở đi bán các nơi, nên triều đình có thiết lập một đội Hoàng Sa để thu nhặt các hải vật. Người ta phải đi 3 ngày mới đến được đảo Đại Trường Sa ... Ở trong các hòn đảo có bãi cát vàng, dài chừng hơn 30 dặm, bằng phẳng và rộng lớn, nước trong vắt nhìn suốt đáy. Ở trên các hòn đảo có vô số tổ yến, còn các thứ chim thì kể có hàng ngàn, hàng vạn con... Trên bãi có rất nhiều vật lạ như ốc hoa, có thứ mang tên là ốc tai voi, lớn như chiếc chiếu... Lại có thứ ốc được gọi là ốc xà cừ, thứ ốc này để trang sức các đồ dùng... Có thứ đại mạo là con đồi mồi rất lớn. Có con hải ba (ba ba biển) cũng giống như con đồi mồi nhưng nhỏ hơn, mai mỏng, người ta dùng trang sức các đồ dùng...".
          Lê Quý Đôn còn cho biết: Đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người ở xã An Vinh (Quảng Ngãi) bổ sung. Mỗi năm họ luân phiên nhau đi biển. Ra đi từ tháng giêng. Ra đảo tự bắt chim, cá làm thức ăn... Đến tháng 8 đội Hoàng Sa trở về cửa Eo (cửa Thuận An) rồi lên thành Phú Xuân trình nộp các sản vật đã khai thác được. Nghiệm thu hải vật xong đội Hoàng Sa được bán riêng những con ốc hoa, mai hải ba, hải sâm. Sau đó các thành viên của đội được trở về nhà. Ngoài đội Hoàng Sa, các chúa Nguyễn còn thiết lập thêm đội Bắc hải. Đội Bắc hải không qui định bao nhiêu người. Đội này tàu thuyền nhỏ hơn, hoạt động ở vùng đảo Côn Lôn, ở xứ Cồn Tự thuộc vùng Hà Tiên. Họ chủ yếu khai thác hải sản, ít khi tìm được vàng bạc, đồ vật quý giá từ các tàu đắm như ở Hoàng Sa.
          Các công trình: Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú; bộ biên niên sử của triều Nguyễn là Đại Nam thực lục (ĐNTL) chính biên và tiền biên; Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ; Đại Nam nhất thống chí... cũng đều có ghi chép về Hoàng Sa giống như Lê Quý Đôn đã miêu tả nhưng cụ thể hơn, tần suất nhiều hơn, nội dung rõ ràng và cụ thể hơn. Quyển 10 ĐNTL tiền biên chép: "Tháng 7 năm Giáp Tuất (1754) dân đội Hoàng Sa gặp gió to, dạt vào hải phận Quỳnh Châu, thuộc nhà Thanh. Tổng đốc nhà Thanh chu cấp cho lương đầy đủ rồi sai đưa về. Chúa sai viết thư qua...". ĐNTL chính biên quyển 50, 52 cho biết: Năm 1815, 1816 vua (Gia Long) cho thủy quân và đội Hoàng Sa ra xem xét, đo đạc thủy trình. Quyển 104 chép: "Năm 1833, vua (Minh Mạng) bảo Bộ Công rằng: Dải Hoàng Sa trong hải phận Quảng Ngãi, xa trông trời nước một màu không phân biệt được nông hay sâu. Gần đây thuyền buôn thường bị hại. Nay nên dự bị thuyền bè đến sang năm sẽ phái người tới dựng miếu, lập bia, lại trồng nhiều cây cối. Ngày sau cây cối to xanh tốt, người dễ nhận biết, có thể tránh được nhiều mắc cạn. Đó cũng là việc lợi muôn đời vậy". Quyển 154 chép: "Năm 1835 dựng "thần từ" ở Hoàng Sa... Hoàng Sa ở hải phận Quảng Ngãi có một chỗ nổi cồn cát trắng, cây cối xanh tốt, giữa cồn có giếng, phía tây nam có miếu cổ, có tấm bia khắc 4 chữ "Vạn Lý Ba Bình"... Năm ngoái vua (Minh Mạng) định lập miếu ở chỗ ấy, vì gặp lúc sóng gió không làm được. Đến nay mới sai đội thủy quân là Phạm Văn Nguyên đem lính và giám thành cùng phu thuyền hai (tỉnh) Quảng Ngãi, Bình Định chuyên chở vật liệu đến dựng miếu (cách tòa miếu cổ 7 trượng). Bên trái dựng bia đá, phía trước miếu xây bình phong. Mười ngày làm xong rồi về".
          Tác giả Sơn Hồng Đức, giảng viên địa lý học Đại học Văn khoa Sài Gòn, sau khi tham gia chương trình Điều nghiên bình địa hỗn hợp Việt Mỹ đã có bài viết Khảo sát về quần đảo Hoàng Sa. Tác giả cho biết: "Từ Đà Nẵng tàu khởi hành vào buổi chiều, sáng hôm sau là đến Hoàng Sa. Đảo Tri Tôn là điểm đến đầu tiên của hải trình". Ở đảo Hoàng Sa tác giả mục kích: Có vài ngôi mộ binh sĩ thời nhà Nguyễn đã hy sinh. Phía Đông có am thờ gọi là Đền Bà; có pho tượng Quan Âm đặt trên bệ đá chạm trổ tinh vi, có lẽ do các ngư phủ Việt Nam dựng lên. Phía Bắc có ngọn hải đăng. Gần đó trước kia có căn cứ quân sự, đài khí tượng. Đài khí tượng được chính phủ bảo hộ xây dựng và chính thức hoạt động vào năm 1938. Ngày 9-3-1945 quân Nhật cũng đảo chính ở đây, tước khí giới trung đội lê dương. Các công chức đài khí tượng tháo dỡ trần nhà lấy gỗ làm bè thả trôi về tận bờ biển Quy Nhơn. Quân Pháp, rồi quân Nhật đều có xây dựng cơ sở phòng thủ ở đây nên trong chiến tranh thế giới thứ 2 đảo bị không quân của đồng minh oanh tạc.
          Các sử liệu và những dấu tích để lại trên quần đảo Hoàng Sa cho thấy tầm nhìn chiến lược cũng như ý chí kiên cường, tinh thần dũng cảm và khát vọng của cha ông chúng ta trong công cuộc khám phá, khai thác kinh tế biển và thực thi chủ quyền lãnh hải.
                                                                                       
SỬ KÝ THỜI TÂY SƠN 
Di tích miếu Hoàng Sa nay vẫn còn tồn tại ở đình làng Lý Hải thuộc đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Công việc thực thi chủ quyền ở khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được bắt đầu khi chúa Nguyễn Phúc Nguyên lên nắm quyền và đặt ra các đội Hoàng Sa, Bắc Hải đặc trách công việc khai thác và bảo vệ biển Đông từ tuyến ngoài. Đây là một phương thức thực thi chủ quyền độc đáo của nhà nước Việt Nam trên các vùng quần đảo giữa biển Đông mà không có bất cứ một quốc gia nào trong khu vực có được...
Thành tựu vĩ đại của phong trào nông dân Tây Sơn là đã bước đầu thống nhất được đất nước sau nhiều thế kỷ bị chia cắt thành hai khu vực Đàng Trong, Đàng Ngoài. Đây cũng là lần đầu tiên sự thống nhất được thực hiện trên phạm vi rộng lớn tương đương với nước Việt Nam ngày nay. Cũng là lần đầu tiên toàn bộ đường bờ biển chạy dài từ Vịnh Bắc Bộ đến Vịnh Thái Lan với hàng ngàn hòn đảo ven bờ cùng các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa ngoài biển Đông đã thuộc về quyền kiểm soát của Nhà nước Việt Nam.
Giống như các chúa Nguyễn trước đây, Triều đại Tây Sơn của Quang Trung - Nguyễn Huệ vẫn tiếp tục tổ chức các đội Hoàng Sa và Bắc Hải với chức năng chủ yếu là bảo vệ và khai thác vùng quần đảo xa giữa biển Đông. Đội Hoàng Sa thời kỳ chúa Nguyễn được ấn định số lượng 70 suất và hoàn toàn chỉ chọn người xã An Vĩnh thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Hàng năm, cứ vào tháng 2 đội xuất hành gồm 5 chiến thuyền ra Hoàng Sa, Trường Sa thu nhặt hóa vật của tàu bị nạn, tìm kiếm hải vật và ở lại đây đến tháng 8 mới trở về nộp cho triều đình Phú Xuân. Có lẽ vì đội Hoàng Sa không quản lý hết được vùng biển đảo rộng lớn nên chúa Nguyễn đã quyết định đặt thêm đội thuyền Bắc Hải. Đội này do đội Hoàng Sa kiêm quản và cũng có nhiệm vụ giống như đội Hoàng Sa nhưng chỉ hoạt động ở khu vực phía Nam, từ Bắc Hải, Côn Lôn cho đến các đảo ở vùng Hà Tiên. Đội Bắc Hải tuyển người ở thôn Tứ Chính và xã Cảnh Dương thuộc tỉnh Bình Thuận và không cố định số suất thủy thủ như đội Hoàng Sa.
Phong trào nông dân Tây Sơn khi bùng nổ đã phát triển rất nhanh và đến cuối năm 1773, đã giải phóng được một vùng rộng lớn từ Quảng Nam ở phía Bắc cho đến tận Bình Thuận ở phía Nam. Như thế là toàn bộ các vùng quê hương của hai đội Hoàng Sa và Bắc Hải, từ rất sớm đã nằm trong khu vực kiểm soát của quân đội Tây Sơn.
Vào ngày 15 tháng giêng năm 1776, Cai hợp phường Cù Lao Ré (đảo Lý Sơn) là Hà Liễu đã làm đơn trình bày rõ: "Bây giờ chúng tôi lập hai đội Trường Sa và Quế Hương như cũ gồm dân ngoại tịch được bao nhiêu xin làm sổ sách dâng nạp, vượt thuyền ra các đảo, Cù Lao ngoài biển tìm nhặt vật hạng đồng thiếc, hải ba, đồi mồi được bao nhiêu xin dâng nạp. Nếu như có tờ truyền báo, xảy chinh chiến, chúng tôi xin vững lòng ứng chiến với kẻ xâm phạm. Xong việc rồi chúng tôi xin tờ sai ra tìm báu vật cũng thuế quan đem phụng nạp". Tờ đơn đã được chính quyền Tây Sơn (vua Thái Đức) xem xét, chuẩn cho và hiện vẫn còn lưu giữ lại nhà thờ họ Võ, phường An Vĩnh (nay là thôn Tây, xã Lý Vĩnh, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi). Cũng tại nhà thờ họ Võ, đến nay vẫn còn giữ được Chỉ thị ngày 14 tháng 2 năm thứ 9 hiệu Thái Đức (1786) của Thái Phó Tổng Lý Quản binh dân chư vụ Thượng tướng công "Sai Hội Đức hầu Cai đội Hoàng Sa luôn xem xét đốc suất trong đội cắm biển hiệu thủy quân, cưỡi 4 chiếc thuyền câu vượt biển thắng tiến Hoàng Sa cùng các sứ Cù Lao ngoài biển, tìm nhặt đồ vàng, bạc, đồng và các thứ đại bác, tiểu bác, đồi mồi, vỏ hải ba, đá quý… đều chở về kinh tập trung nộp theo lệ. Nếu ngạo mạn càn bậy không đến, lại gian dối lấy bớt các vật quý hoặc sinh sự với dân làm muối, làm cá đều sẽ bị trị tội".
Ngoài ra còn có bản Ngự phê lời tâu của dân xã An Vĩnh về việc dâng nộp các loại đồi mồi, hải ba, quế hương và xin miễn sưu dịch đã được thánh chỉ ban thưởng vàng và phê "chuẩn cho". Văn bản chép rõ: "Niên hiệu Thái Đức năm đầu đến năm thứ 15 (1778-1792)" và "niên hiệu Cảnh Thịnh năm đầu đến năm thứ 9 (1793-1801). Khi ấy John Barrow là phái viên của phái bộ Macartney đi từ Vương Quốc Anh khi đi sang Trung Quốc có ghé qua khu vực Đà Nẵng vào tháng 6 năm 1793 (dưới triều vua Quang Toản), trong A Voyage to Cochinchina, in the year 1792-1793 (Một chuyến du hành tới xứ Đàng Trong, vào những năm 1792-1793) mô tả: "Tàu thuyền xứ Đàng Trong có nhiều kiểu dáng khác nhau, được dùng vào việc buôn bán ven biển, chài lưới, thu lượm hải sản và tổ yến trong nhóm quần đảo gọi là Paracels (Hoàng Sa)".
Từ rất nhiều cứ liệu lịch sử dưới thời Tây Sơn (Việt Nam) chúng ta xác định chủ quyền một phần rộng lớn ở biển Đông và các quần đảo nằm trên biển Đông. Thời ấy tình hình Trung Quốc rất phức tạp, nhiều người dân liên tục chống đối chính quyền Mãn Thanh, bỏ nước ra đi và phải phiêu bạt trên biển đông, triều đình Tây Sơn đã ban hành nhiều tờ chiếu khuyến dụ lực lượng này quy thuận. Chiếu dụ Tàu Ô viết dưới thời Quang Trung từng vạch rõ: "Họ’’ (dân Tàu) ra vào nơi bể nước (biển Đông), tụ tập đồ đảng lấy việc cướp bóc làm kế sinh nhai, có lẽ cũng là việc bất đắc dĩ, phần vì thiếu miếng ăn nên phải làm vậy, phần vì những chính sách bạo ngược xua đẩy. Quang Trung kêu gọi họ sớm đầu hàng. Và chiều theo sở nguyện của từng người thậm chí chấp thuận cho cả "những người có chí lớn, muốn xông pha nơi ngọn sóng cùng hải đảo". Quy thuận những người Trung Quốc phiêu bạt trên biển Đông và sử dụng họ tham gia vào công việc nhà nước là một chính sách quan trọng và có tính chiến lược của vương triều Tây Sơn lúc ấy.
Sách Thánh Vũ Ký của Ngụy Nguyên (1794-1857) cho biết: Có nhiều người Trung Hoa làm nội ứng cho An Nam, được chúa An Nam Quang Toản phong cho làm Tổng binh hoặc Đông Hải vương: "Triều đình đang bận việc dẹp loạn phía Tây, chưa lo xa đến vùng biển đảo, vì thế mà giặc hoạt động rất táo tợn. Năm đầu niên hiệu Gia Khánh (1796) vị tướng ở Khúc Châu là Khôi Luận, Tổng đốc lưỡng Quảng là Cát Khánh đã nhiều lần tâu với vua rằng: bọn giặc biển Tàu Ô là Trần Thiên Bảo đã được An Nam cho làm Tổng binh và cấp cho ấn" (Tr.25b). Cũng trong cuốn sách này Ngụy Nguyên mô tả "Di thuyền" (thuyền của quân Tây Sơn) cao, to hơn thuyền Trung Hoa, trên đặt nhiều súng, hoành hành lâu năm trên mặt biển và nếu quân nhà Thanh gặp thì cũng khó có thể địch được. Đây là một bằng chứng khẳng định lực lượng hải quân Tây Sơn thời ấy thực tế đã kiểm soát được các tuyến giao thông trên biển Đông và là chủ nhân của các vùng đảo, quần đảo giữa biển Đông.
Sau khi triều Tây Sơn sụp đổ, nhà Nguyễn vẫn tiếp tục chính sách tiến ra biển Đông, khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên khu vực các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các triều: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị… đã thực thi chủ quyền của mình bằng nhiều hình thức như vãn thám, kiểm tra, kiểm soát, khai thác các hóa vật và hải sản, tổ chức thu thuế và cứu hộ tàu bị nạn, khảo sát, đo vẽ bản đồ, dựng miếu thờ, lập bia chủ quyền, dựng bài gỗ lưu dấu để ghi nhớ, trồng cây để cho người qua lại dễ nhận biết. Những đóng góp quan trọng của triều đại nhà Nguyễn thế kỷ XIX vào lịch sử chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông là sự tiếp nối chính sách của vương triều Tây Sơn ngày ấy. 

                                                                           Nguyễn Tấn Tuấn

{*) Chú thích: Một số tư liệu trong bài viết căn cứ Bộ sách 7 tập: “Dư Địa chí Bình Định” và Cồng trình Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn – Bình Định – Tập II của tác giả Nguyễn Đình Đẩu (NXB thành phố Hồ Chí Minh 1996; Và Phần I cuốn Võ Nhân Bình định do tác giả Quách Tấn – Quách Giao đồng biên soạn. Ngày xuất bản tháng 8/2001.Dòng họ Quách sinh sống tại Bình Định đã trên 300 năm. Quách Tấn thuộc thế hệ thứ chín và Quách Giao, con của Quách Tấn thuộc thế hệ thứ mười. Sống tại huyện Tây Sơn đã nhiều thế hệ nên họ Quách biết được nhiều sự kiện lịch sử ở địa phương, nhất là về triều đại Tây Sơn….
 
 
 

Số lần đọc : 996   Cập nhật lần cuối: 23/09/2019

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 7301764

Số người Onlne: 37