Nghiên cứu → Lịch sử

Sơn La 125 năm hình thành và phát triển


 

 

 

Sơn La 125 năm hình thành và phát triển

 
Sơn La là một tỉnh miền núi nằm ở phía Tây Bắc của Tổ quốc, có một vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng và trong quan hệ giao lưu với nước bạn Lào. Trải qua hàng nghìn năm xây dựng và phát triển gắn liền với lịch sử dân tộc, đặc biệt là từ khi có Đảng ra đời và lãnh đạo, nhân dân các dân tộc Sơn La đã giành được nhiều thành tựu to lớn, góp phần cùng nhân dân cả nước xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
1.   Quá trình hình thành và dân cư, dân tộc tỉnh Sơn La
Trước khi tỉnh Sơn La được thành lập và có tên gọi chính thức như ngày nay,   vào thời kỳ Hùng Vương, vùng đất Sơn La thuộc bộ Tân Hưng, thời Lý thuộc Châu Lâm Tây, thời Trần thuộc đạo Đà Giang, cuối thời Trần năm Quang Thái thứ 10 (1397) được đổi tên thành trấn Thiên Hưng. Thời Lê sơ, Sơn La thuộc trấn Hưng Hóa. Thời Nguyễn, Sơn La thuộc phủ Gia Hưng, nằm trong trấn Hưng Hóa. Đến cuối thế kỷ XIX khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, từ tháng 9-1891, địa bàn tỉnh Sơn La thuộc Đạo quan binh số 4. Tháng 2-1892, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập hai Tiểu quân khu, trực thuộc Đạo quan binh số 4; Tiểu quân khu Vạn Bú và Tiểu quân khu Lai Châu. Tiểu quân Khu Vạn Bú bao gồm địa bàn của tỉnh Sơn La và huyện Tuần Giáo của tỉnh Điện Biên ngày nay, thủ phủ của đặt tại Vạn Bú nên còn gọi là Tiểu quân khu Vạn Bú. Ngày 10-10-1895, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định bãi bỏ Tiểu quân khu Vạn Bú và Lai Châu nhập thành tỉnh Vạn Bú, tỉnh lỵ đt tại bản Pá Giang, tổng Hiếu Trai, lúc này tỉnh Sơn La chính thức được thành lập, bao gồm địa bàn tỉnh Sơn La và phần lớn tỉnh Lai Châu. Đến năm 1904, tỉnh lỵ chuyển từ Vạn Bú về đồi Khau Cả, trung tâm châu Mường La và đổi tên tỉnh Vạn Bú thành tỉnh Sơn La như ngày nay[1].
Sau hoà bình lập lại, từ tháng 5-1955 đến 10-1962, Sơn La thuộc Khu Tự trị Thái - Mèo, không có cấp tỉnh. Đến ngày 24-12-1962, tỉnh Sơn La chính thức được tái lập gồm: thị xã Sơn La và 7 huyện: Thuận Châu, Quỳnh Nhai, Mường La, Sông Mã, Yên Châu, Mộc Châu, Mai Sơn. Tháng 12-1975, Khu tự trị Tây Bắc giải thể, tỉnh Sơn La trực thuộc Trung ương, hai huyện Phù Yên và Bắc Yên chuyển về thuộc tỉnh Sơn La. Đến nay tỉnh Sơn La gồm 11 huyện và 01 thành phố với 204 xã, phường, thị trấn; 2.509 bản, tiểu khu, tổ dân phố.
Sơn La là địa bàn sinh sống chủ yếu của 12 dân tộc anh em, dân số 1.252.650 người, trong đó, dân tộc Thái chiếm Thái 53,7%, dân tộc Kinh 18%, dân tộc Mông 12%, dân tộc Mường 8,4%, dân tộc Xinh Mun 2,16%, dân tộc Dao 1,75%, dân tộc Khơ Mú 1,23%, dân tộc Lào 0,33%, dân tộc Kháng 0,83%, dân tộc La Ha 0,87%, dân tộc Tày 0,14%, còn lại là các dân tộc khác[2]. Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa riêng, tạo nên sự phong phú và đa dạng nhưng thống nhất trong cộng đồng văn hóa các dân tộc Việt Nam.
2. Quá trình đấu tranh cách mạng và giải phóng dân tộc của nhân dân các dân tộc Sơn La
Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân các dân tộc Sơn La luôn nêu cao tinh thần đoàn kết cùng nhân dân cả nước đấu tranh chống lại các thế lực ngoại xâm. Vào thế kỷ XV, nhân dân các dân tộc Sơn La dưới sự lãnh đạo của các lãnh tụ người Thái là Sa Khả Sâm, Cầm Quý, Cầm Lạn đã phất cờ ủng hộ cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi chống quân xâm lược nhà Minh; cuộc đấu tranh chống lại giặc Phẻ, giặc Cờ Vàng vào thế kỷ XVIII, XIX thắng lợi.
Tiếp nối truyền thống lịch sử của các thế hệ đi trước, ngay sau khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Đà Nẵng và kéo quân ra đánh chiếm miền Bắc, dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Quang Bích và Lưu Vĩnh Phúc, nhân dân các dân tộc Sơn La đã 2 lần kéo quân xuống Hà Nội phối hợp với các cánh nghĩa quân khác phục kích đánh giặc làm nên hai trận thắng lịch sử ở Cầu Giấy năm 1873 và 1882. Chiến thắng lịch sử đó đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta, trong đó có một phần đóng góp không nhỏ của nhân dân các dân tộc Sơn La.
Đầu năm 1886, sau khi bình định xong các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, thực dân Pháp tập trung quân đánh chiếm các tỉnh miền núi nước ta, đến tháng 1-1888, do có tay sai dẫn đường, từ Bảo Hà (Lào Cai) chúng kéo quân xuống đánh chiếm Sơn La. Nhân dân các dân tộc Sơn La đng lên đánh giặc cứu nước.
Mở đầu cho phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nghĩa quân Mường La đã xây dựng pháo đài Dua Cá, tại bản Cá, Chiềng An (Thành phố Sơn La ngày nay) chiến đấu với địch. Tiếp đến năm 1897, ở Mường Bú nổ ra cuộc bạo động do ông Bô, ông Khụt lãnh đạo. Từ năm 1914-1916, nổ ra cuộc khởi nghĩa do Lường Xám lãnh đạo. Ở các châu Phù Yên, Sông Mã, Thuận Châu, Yên Châu cũng lần lượt nổ ra các cuộc khởi nghĩa. Đặc biệt là phòng trào “chiêu dân tống thẻ” đấu tranh đòi giảm thuế, bớt ruộng chức vào năm 1931-1934 tại các châu Mường La, Phù Yên, Thuận Châu, Mai Sơn, Yên Châu.
Đầu năm 1930, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta bước vào thời kỳ mới. Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối lãnh đạo, mở ra một trang sử mới đối với phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào đấu tranh diễn ra mạnh mẽ, sôi nổi khắp cả nước, mà đỉnh cao là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930-1931). Trước sự phát triển của phong trào cách mạng, thực dân Pháp đã ra sức lùng sục, vây bắt, khủng bố các chiến sỹ cộng sản; hệ thống các nhà tù được thiết lập, xây dựng trên khắp cả nước. Cuối năm 1930, đoàn tù chính trị đầu tiên được chúng đưa lên nhà tù Sơn La[3] để đày ải, giam giữ. Trong đoàn tù này, có nhiều người là Ủy viên Trung ương Đảng, Xứ ủy viên, Tỉnh ủy viên như: Lê Duẩn, Trường Chinh, Nguyễn Lương Bằng, Khuất Duy Tiến, Trần Văn Lan, Trịnh Đình Cửu, Phạm Quang Lịch... Từ cuối năm 1930-1942, thực dân Pháp đã đày tất cả 14 đoàn tù chính trị lên Sơn La. Mục đích của chúng là nhằm tách mối quan hệ giữ chiến sỹ cách mạng với nhân dân và phong trào cách mạng đang dâng cao trong cả nước. Mặt khác lợi dụng sự bất đồng ngôn ngữ giữa nhân dân các dân tộc với chiến sỹ tù chính trị và sự khắc nghiệt của núi rừng Tây Bắc để giết dần, giết mòn, làm nhụt ý chí các chiến sỹ tù chính trị.
Nhưng với bản lĩnh của người cộng sản, các chiến sỹ được tôi luyện qua thử thách đã biến nhà tù thực dân thành trường học cách mạng. Trong ngục Sơn La, các đồng chí đã tổ chức học tập văn hóa, ngoại ngữ, lý luận chính trị, đoàn kết đấu tranh chống lại chế độ tù đày hà khắc... Khi số lượng đảng viên bị đày lên ngày càng đông, yêu cầu phải có một tổ chức thống nhất để chỉ đạo cuộc đấu tranh và tìm cách gây dựng cơ sở cách mạng bên trong và bên ngoài nhà tù để kết nối với phong trào cách mạng đang sục sôi trong cả nước. Cuối tháng 12-1939, một số đảng viên trong ngục đã bí mật triệu tập hội nghị để thảo luận việc thành lập chi bộ Đảng, chi bộ lâm thời được thành lập gồm 10 đồng chí, đồng chí Nguyễn Lương Bằng được cử làm Bí thư.Tháng 2-1940, chi bộ lâm thời được chuyển thành chi bộ chính thức, đồng chí Trần Huy Liệu được cử làm Bí thư. Đến tháng 5-1940, Chi bộ Nhà tù Sơn La tổ chức Đại hội đã bầu đồng chí Tô Hiệu làm Bí thư. Đây là Chi bộ Đảng đầu tiên trên địa bàn tỉnh Sơn La.
Chi bộ ngục Sơn La ra đời có một ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với phong trào cách mạng ở Sơn La, trở thành nơi xây dựng cơ sở cách mạng, lãnh đạo phong trào cách mạng ở Sơn La, tạo tiền đề quan trọng để nhân dân các dân tộc Sơn La cùng nhân dân cả nước giành chính quyền trong cách mạng Tháng Tám năm 1945 và cho sự ra đời của Đảng bộ tỉnh Sơn La sau này.
Thông qua các hoạt động tuyên truyền, bằng nhiều hình thức khác nhau, các chiến sỹ trong nhà tù Sơn La đã từng bước giác ngộ, xây dựng được cơ sở cách mạng ở bên trong và bên ngoài nhà tù, điển hình như: Chu Văn Thịnh, Cầm Văn Inh, Cầm Văn Minh, Cầm Vĩnh Tri, Nguyễn Phúc, Quàng Văn Đức, Cầm Văn Thinh, Lò Văn Giá... Đầu năm 1943, khi điều kiện đã chín muồi, Chi bộ ngục Sơn La đã thành lập tổ chức cách mạng đầu tiên bên ngoài nhà tù mang tên “Mú nóm chất mương” (Thanh niên cứu quốc) gồm hai tổ: Tổ thanh niên cứu quốc hoạt động ở Tỉnh lỵ và Tổ thanh niên cứu quốc Mường La,với nhiệm vụ tuyên truyền, vận động, xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng trong thanh niên địa phương.Từ tỉnh lỵ, phong trào cách mạng nhanh chóng phát triển ra các vùng lân cận.
Bước sang năm 1945, cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới phát triển mạnh mẽ. Ở trong nước, ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính hất cẳng Pháp ra khỏi Đông Dương. Trước sự chuyển biến mau lẹ của tình hình trong nước và thế giới, ngay trong đêm đó, Trung ương Đảng đã họp và đưa ra chủ trương phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước”. Ngày 12-3-1945, Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Tại ngục Sơn La, Chi bộ đã chớp thời cơ, lãnh đạo tù nhân tự giải thoát để trở về với phong trào cách mạng.
Tháng 4-1945, Xứ ủy Bắc Kỳ đã cử đồng chí Lê Trung Toản trở lại Sơn La, cùng với đồng chí Chu Văn Thịnh[4] và các đồng chí lãnh đạo địa phương chỉ đạo phong trào chuấn bị Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Căn cứ vào Chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, các đồng chí đã đề ra chủ trương của cách mạng Sơn La lúc này là phải gấp rút củng cố các tổ chức cứu quốc, thành lập các đội tự vệ vũ trang, luyện tập quân sự, chuẩn bị vũ khí, đẩy mạnh tuyên truyền, binh vận, nắm bắt tình hình địch, tranh thủ tầng lớp trên, tiếp tục xây dựng cơ sở cách mạng Mường Chanh thành căn cứ địa.
Từ Mường Chanh, phong trào nhanh chóng phát triển ra Thuận Châu và Yên Châu. Tại tỉnh lỵ Sơn La và Mường La phong trào lan rộng ra hai bên Tả ngạn và Hữu ngạn sông Đà. Riêng huyện Phù Yên, dưới sự giúp đỡ của chiến khu Vần-Hiền Lương, đến tháng 5-1945, Phù Yên đã tổ chức được tổ Thanh niên yêu nước. Đến giữa năm 1945, Sơn La có hơn 60 cơ sở cách mạng, mỗi châu đều có các tổ, các hội Thanh niên cứu quốc, Thanh niên yêu nước... Đây là cơ sở vững chắc, tạo tiền đề quan trọng để Sơn La khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng thắng lợi khi thời cơ đến.
Ngày 14-8-1945, phát xít Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng minh vô điều kiện. Nắm bắt thời cơ, ngày 21-8-1945, tại Sơn La, đồng chí Chu Văn Thịnh triệu tập, chủ trì cuộc họp quán triệt nội dung kêu gọi khởi nghĩa của Bác Hồ, mệnh lệnh của Tổng bộ Việt Minh, bàn những vấn đề cấp bách về tổ chức lực lượng vũ trang, kế hoạch khởi nghĩa giành chính quyền ở các châu và tỉnh lỵ.
Ngày 23-8-1945, khởi nghĩa giành chính quyền diễn ra ở các châu Mường La, Mai Sơn, Yên Châu, Thuận Châu… Đến ngày 25-8-1945, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng ở Tỉnh lỵ diễn ra thắng lợi. Ngày 26-8-1945, tại lễ mít tinh, đồng chí Chu Văn Thịnh - Chủ nhiệm tỉnh bộ Việt Minh thay mặt Ủy ban cách mạng lâm thời tỉnh Sơn La tuyên bố trước toàn thể nhân dân các dân tộc, khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng hoàn toàn thắng lợi, xóa bỏ chính quyền thực dân, phong kiến, thành lập chính quyền cách mạng; kêu gọi nhân dân các dân tộc đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau xây dựng cuộc sống, ủng hộ Chính phủ, ủng hộ Việt Minh.
Ngày 2-9-1945, tại Thủ đô Hà Nội, trước hàng vạn quốc dân đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt cho Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, xóa bỏ mọi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân - phong kiến và phát xít. Từ đây, nhân dân cả nước nói chung và nhân dân các dân tộc Sơn La nói riêng thoát khỏi sự áp bức bóc lột của chủ nghĩa thực dân - phong kiến và phát xít, cùng nhân dân cả nước từ thân phận nô lệ trở thành chủ nhân của đất nước, bắt tay vào công cuộc xây dựng và bảo bệ Tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng.
Ngay sau khi vừa giành được chính quyền, hiểu rõ được vị trí chiến lược quan trọng của Sơn La đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Trung ương Đảng đã cử đồng chí Dương Văn Ty cùng đoàn công tác của Trung ương lên giúp Sơn La củng cố, xây dựng hệ thống chính quyền địa phương và đối phó với âm mưu của quân Tưởng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Tỉnh bộ Việt Minh, hệ thống chính quyền ở Sơn La từng bước được thiết lập từ tỉnh đến xã.
Nhưng với bản chất hiếu chiến, chỉ ba tuần lễ sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, ngày 23- 9-1945, dưới sự hậu thuẫn của quân đội Anh, thực dân Pháp quay trở lại đánh chiếm Sài Gòn, mở đầu cho cuộc xâm lược nước ta lần thứ hai. Ở ngoài Bắc, sau khi quân Tưởng rút về Hà Nội, tháng 11-1945, quân Pháp từ Vân Nam (Trung Quốc) tiến xuống đánh chiếm Lai Châu uy hiếm Sơn La.
Ngay sau khi chiếm được Lai Châu, tháng 4-1946, thực dân Pháp cho quân từ Tuần Giáo đánh chiếm Thuận Châu và án ngữ Chiềng Pấc. Âm mưu của chúng là tấn công tỉnh Sơn La, làm bàn đạp đánh xuống các tỉnh Hòa Bình, Phú Thọ và chọc thủng phòng tuyến ở chiến khu căn cứ địa Việt Bắc
Trước diễn biến nhanh chóng của cuộc kháng chiến, Trung ương Đảng đã thành lập các Chi đội vệ quốc đoàn đưa lên Sơn La cùng với quân dân địa phương kháng chiến chống Pháp. Tháng 6-1946, Trung ương Đảng cử đồng chí Trần Quyết lên thay đồng chí Dương Văn Ty, trực tiếp phụ trách Sơn La. Ngay sau khi lên Sơn La, đồng chí Trần Quyết đã bắt tay vào đào tạo cán bộ, củng cố cơ sở cách mạng, cùng với các đồng chí lãnh đạo địa phương lãnh đạo nhân dân kháng chiến. Đến tháng 10-1946, sau khi đủ điều kiện, dưới sự chủ trì của đồng chí Trần Quyết, tại bản Hát Lót (huyện Mai Sơn), chi bộ đảng đầu tiên của Sơn La được thành lập. Đây là một sự kiện lịch sử hết sức quan trọng, từ đây nhân dân các dân tộc Sơn La dưới sự lãnh đạo trực tiếp của tổ chức Đảng ở địa phương, đoàn kết, quyết tâm đánh thắng thực dân Pháp xâm lược.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân các dân tộc Sơn La vùng với lực lượng vũ trang địa phương và các Chi đội từ dưới xuôi lên đã anh dũng chiến đấu, cầm chân, ngăn chn từng bước tiến của địch. Nhiều cuộc chiến đấu ác liệt nổ ra ở Mường Mùn (Tuần Giáo), Chiềng Pấc (Thuận Châu)... gây cho địch nhiều thiệt hại lớn. Nhưng do tương quan lực lược bất lợi cho ta, lực lượng vũ trang địa phương và Trung ương đã tăng cường thực hiện phương châm tác chiến vừa đánhtiêu hao sinh lực địch, vừa kiềm chế,không cho chúng tiến nhanh xuống đồng bằng, khôn khéo rút lui để bảo toàn lực lượng. Đến giữa tháng 5-1947, về cơ bản Sơn La nằm dưới sự kiểm soát của địch. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân các dân tộc Sơn La bước vào thời kỳ khó khăn nhất.
Đến cuối năm 1947, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân các dân tộc Sơn La đã có nhiều chuyển biến tích cực. Sau khi rút xuống Mộc Châu, Tỉnh ủy Sơn La đã bám đất, bám dân, xây dựng cơ sở kháng chiến vùng hạ huyện. Cuộc đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị do Tỉnh ủy Sơn La phát động vào ngày 19-12-1947nhanh chóng giành được thắng lợi, một vùng rộng lớn ở các tiểu khu 1,2,3,4,5 ở vùng Mộc Hạ (nay là Vân Hồ)được giải phóng, chính quyền dân chủ nhân dân được thành lập, chế độ áp bức bóc lột của thực dân và bọn phong kiến tay sai bị sụp đổ. Vùng Mộc Hạ trở thành khu căn cứ địa đầu não và vùng tự do đầu tiên của tỉnh Sơn La.
Khu căn cứ Mộc Hạ ra đời đã đánh dấu một bước phát triển mới trong phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp của Sơn La, từ đây phong trào đấu tranh cách mạng đã lan ra toàn tỉnh, các khu du kích lần lượt được ra đời như khu du kích  Mường Bằng-Mường Bú-Mường Chùm, khu căn cứ Tả ngạn Mường La, khu du kích Y Lương-Mường Mần – Hát Lót, khu căn cứ bản Ỏ - Mường Sai, khu du kích Long Hẹ, khu căn cứ 99 và khu căn cứ Lao Khô.
Tháng 9-1952, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở chiến dịch giải phóng Tây Bắc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, quân và dân các dân tộc Sơn La đã hăng hái tham gia chuẩn bị chiến trường, tổ chức vận tải và tiếp tế lương thực, thực phẩm cho bộ đội chủ lực, chuẩn bị lực lượng để tiếp quản vùng giải phóng; đẩy mạnh hoạt động chiến đấu phối hợp với bộ đội chủ lực tiêu diệt địch.
Ngày 22-11-1952, chiến dịch Tây Bắc kết thúc, tỉnh Sơn La cơ bản được giải phóng. Đến tháng 8-1953, chiến dịch Thượng Lào thắng lợi, thực dân Pháp buộc phải rút khỏi Nà Sản, Sơn La hoàn toàn giải phóng.
Sau ngày giải phóng, Sơn La đã củng cố lại hệ thống chính quyền,tuyên truyền, vận động nhân dân hăng hái tăng gia sản xuất, xây dựng đời sống mới; đóng góp sức người, sức của phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ; chống lại âm mưu gây thổ phỉ phá hoại công cuộc kháng chiến của nhân dân ta.
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, do có vị chí chiến lược đặc biệt quan trọng, là cửa ngõ tiến vào Tây Bắc, nằm trên tuyến đường huyết mạch nối giữa đồng bằng Bắc Bộ, chiến khu Việt Bắc, Khu III, Khu IV với chiến trường, Sơn La trở thành hậu phương trực tiếp của chiến dịch, điểm tập kết lương thực, thực phẩm, vũ khí, đạn dược để đưa vào chiến trường. Vì vậy, nơi đây trở thành địa bàn trọng điểm đánh phá của máy bay địch, đặc biệt là ngã ba Cò Nòi, bến phà Tạ Khoa - nơi giao nhau giữa các tuyến đường từ đồng bằng Bắc Bộ, chiến khu Việt Bắc, Khu III và Khu IV đi lên. Nhưng với ý chí kiên cường, bất khuất, quân và dân các dân tộc Sơn La, cùng với nhân dân cả nước hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
 Sau 56 ngày đêmchiến đấu anh dũng,ngày 7-5-1954, chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm của nhân dân ta, buộc thực dân Pháp phải ký kết Hiệp định Giơnevơ, rút quân về nước. Trong chiến thắng vẻ vang ấy, có phần đóng góp không nhỏ của quân và dân các dân tộc Sơn La.
Sau Hiệp định Giơnevơ, nước Việt Nam tạm thời bị chia làm hai miền Nam, Bắc. Miền Bắc hoàn toàn giải phóng và bước vào thời kỳ quá độ tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Miền Nam tiếp tục đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tay sai.
Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Chính phủ và Khu tự trị Thái – Mèo, nhân dân các dân tộc Sơn La bắt tay vào khôi phục phát triển kinh tế- xã hội.
Nhân dịp kỷ niệm 05 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954/7-5-1959) nhân dân các dân tộc Khu tự trị Thái-Mèo đã vinh dự được Bác Hồ và đoàn công tác của Trung ương lên thăm. Trong buổi nói chuyện với nhân dân các dân tộc Khu tự trị Thái-Mèo tại Thuận Châu, Bác Hồ đã căn dặn cán bộ, chiến sỹ và dân dân các dân tộc phải đoàn kết chặt chẽ, ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, cải thiện đời sống, giữ gìn an ninh trật tự... Những lời dạy bảo của Bác có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo ra sức mạnh đại đoàn kết, thôi thúc nhân dân các dân tộc trong khu tự trị ra sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Cuối năm 1964, trước nguy cơ phá sản của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, để cứu vãn tình thế, ngày 4-8-1964, đế quốc Mỹ đã dựng nên sự kiện “Vịnh Bắc Bộ” để đưa quân sang Việt Nam, chuyển từ chiến lược “chiến tranh đặc biệt” sang chiến lược “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam và mở rộng chiến tranh phá hoại ở miền Bắc bằng không quân.
Thực hiện sự chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tháng 5-1965, Đảng bộ tỉnh ra Nghị quyết chuyển mọi hoạt động từ thời bình sang thời chiến, vừa xây dựng, vừa sẵn sàng chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.
Từ năm 1965-1968 và từ 1968-1972, Mỹ đã huy động gần 6.000 lần tốp máy bay đánh phá các địa bàn trọng điểm của tỉnh như: Mộc Châu, cầu Tà Vài, cầu Chiềng Đông (Yên Châu), cầu Trắng (thị xã Sơn La), cầu Nà Hày (Thuận Châu), trung tâm các huyện, hệ thống cơ sở y tế-giáo dục. Đồng thời tăng cường triển khai chiến tranh tâm lý, tung gián điệp, biệt kích, kích động các phần tử phản động địa phương phao tin đồn nhảm, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước… nhằm gây mất ổn định chính trị ở vùng biên giới phía Tây Bắc.
Với ý chí quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, “Tất cả vì miền Nam ruột thịt” dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân các dân tộc Sơn La vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mỹ, vừa ra sức thi đua sản xuất chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam và làm nghĩa vụ quốc tế với nước bạn Lào. Quân và dân Sơn La đã bắn rơi nhiều máy bay chiến đấu của Mỹ, góp phần cùng với nhân dân cả nước làm thất bại hoàn toàn chiến tranh phá loại miền Bắc lần thứ nhất và lần thứ hai, buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán ký Hiệp định Paris rút quân về nước. Từ năm 1965 đến năm 1974, toàn tỉnh đã tiễn đưa 10.949 thanh niên nhập ngũ; bắn rơi 76 máy bay giặc Mỹ, bắt gọn 60 vụ biệt kích, thám báo. Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Quốc tế đối với cách mạng Lào.
3. Sơn La thực trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện (1975-2020)
Với đại thắng mùa Xuân năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi. Đây là một trong những chiến thắng oanh liệt nhất, hiển hách nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, đưa cách mạng nước ta chuyển sang giai đoạn cả nước tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong khí thế đó, Đảng bộ, nhân dân xã các dân tộc Sơn La cùng nhân dân cả nước bắt tay vào hàn gắn vết thương chiến tranh, tiếp tục xây dựng xã hội chủ nghĩa và đấu tranh bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Để phù hợp với tình hình mới và phát huy được hiệu quả trong công tác quản lý, xây dựng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh - quốc phòng, sau khi Khu Tây Bắc giải thể, hai huyện Phù Yên, Bắc Yên sáp nhập vào tỉnh Sơn La, tỉnh đã tiến hành thành lập, giải thể, sáp nhập, điều chỉnh địa giới hành chính, đổi tên gọi một số xã, phường, thị trấn. Đồng thời tổ chức, quy hoạch lại vùng sản xuấttrên phạm vi toàn tỉnh, nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng kinh tế - xã hội ở từng địa bàn, từng vùng. Với nhiều biện pháp đồng bộ, Sơn La đạt tốc độ phát triển khá nhanh trên nhiều lĩnh vực.
Sản xuất nông nghiệp đã có bước tiến bộ đáng kể về thâm canh, tăng vụ, bước đầu phá thế độc canh và chuyển biến theo hướng toàn diện. Sản lượng lương thực năm 1985 quy ra thóc tăng gần 5 vạn tấn so với năm 1975, đàn trâu, bò tăng trên 5,2 vạn con, diện tích cây công nghiệp tăng gấp 2 lần. Sản phẩm xã hội tăng trên 34 lần, trong đó nông nghiệp tăng trên 53 lần và công nghiệp tăng trên 10 lần, thu ngân sách từ nguồn địa phương tăng trên 26 lần, hình thành 2 vùng sản xuất tập trungMộc Châu và Mai Sơn.
Sự nghiệp văn hóa, y tế, giáo dục và đào tạo ngày càng được mở rộng, phát triển nhanh. Công tác xây dựng Đảng được chú trọng, tất cả các cơ quan, đơn vị, xí nghiệp, trường học... đều có đảng bộ hoặc chi bộ, nhiều bản có chi bộ, tổ đảng, đảng viên.
An ninh - quốc phòng được giữ vững, nhân dân các dân tộc Sơn La đã đóng góp sức người, sức của cùng nhân dân cả nước đánh thắng hai cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và phía Bắc, giữ vững chủ quyền độc lập, toàn vẹn lãnh thổ đất nước.
Bước sang năm 1986, sau 10 năm đất nước thống nhất, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, nước ta đã đạt được một số thành tựu nhất định trên các lĩnh vực, song cũng gặp phải không ít thách thức. Cuộc khủng hoảng kinh tế kéo dài, nhất là sau đợt cải cách giá - lương-tiền năm 1985, đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn. Trong khi đó, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới cũng lâm vào khủng hoảng trầm trọng; “chiến tranh lạnh” sắp bước vào hồi kết, xu thế thế giới đang chuyển từ thế đối đầu sang đối thoại với nền kinh tế hội nhập và tự do hóa thương mại.
Trong bối thế giới có nhiều biến động, để giữ vững ổn định tình hình kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân, đưa đất nước vượt qua khỏi thực trạng khủng hoảng và hội nhập với thế giới. Từ ngày 15 đến ngày 18-12-1986 tại Thủ đô Hà Nội, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI được tổ chức. Với tinh thần “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, Đại hội đã tiến hành kiểm điểm những mặt yếu kém, phân tích sâu sắc những sai lầm và khuyết điểm, chỉ rõ nguyên nhân, nêu biện pháp khắc phục, từ đó Đại hội đã đề ra đường lối đổi mới đất nước một cách toàn diện trên tất cả các lĩnh vực.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã tìm ra lối thoát cho cuộc khủng hoảng kinh tế, xã hội ở nước ta, mở ra một kỷ nguyên mới đối với nước ta trên con đường hội nhập quốc tế. Từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII đến Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ XII, các Nghị quyết của Trung ương Đảng tiếp tục đề ra những bước đi phù hợp cho đường lối đổi mới toàn diện đất nước.
Trong bối cảnh chung của cả nước, Sơn La cũng gặp phải nhiều khó khăn thách thức, đầu năm 1986, Sơn La có khoảng 15 vạn dân thiếu đói, gần 1 vạn lao động trong tỉnh chưa có việc làm ổn định. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Đảng bộ tỉnh, nhân dân các dân tộc Sơn La đã đoàn kết, phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, vượt qua khó khăn, thách thức đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế-văn hóa, xã hội và an ninh-quốc phòng, đặc biệt là trong 5 năm gần đây (2015-2020).
Kinh tế của tỉnh có sự phát triển mạnh mẽ, các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp phát triển đa dạng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt 5,46%. Tổng thu ngân sách nhà nước của địa phương 5 năm (2015-2020) đạt 76.787 tỷ đồng, trong đó tổng thu ngân sách trên địa bàn 05 năm đạt 22.136 tỷ đồng; bình quân thu hàng năm đạt 4.427,2 tỷ đồng, riêng năm 2018 đạt 5.011 tỷ đồng. Thu nhập bình quân đạt hơn 41,1 triệu đồng/người/năm. Sơn La đã trở thành tỉnh phát triển khá trong vùng trung du và vùng núi phía Bắc, đứng thứ 5/14 tỉnh trung du và vùng núi phía Bắc.
Sản xuất nông-lâm nghiệp có sự chuyển dịch quan trọng từ thuần nông, quảng canh, tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hóa. Các vùng nguyên liệu tập trung được hình thành, một số sản phẩm có thương hiệu trên thị trường trong và ngoài nước như: sữa, chè, cà phê, nhãn, xoài... Toàn tỉnh có 114 chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn; 21 sản phẩm nông sản được cấp chứng nhận bảo hộ; đã xuất khẩu được 16 mặt hàng nông sản sang thị trường 12 nước (Châu Âu, Úc, Mỹ, Nhật…), đặc biệt là xoài, nhãn và thanh long đã được nhiều thị trường khó tính như Châu Âu, Úc, Mỹ, Nga chấp nhận, trở thành sản phẩm xuất khẩu chủ lực của tỉnh. Tổng diện tích cây ăn quả của Sơn La tính đến đầu năm 2020 đạt 80.515 ha, lớn thứ 2 trong cả nước.
Công nghiệp ngày càng phong phú và đang dạng, có sự chuyển dịch từ công nghiệp điện, khai khoáng sang chế biến nông, lâm sản. Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 4,85%/năm. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 01 khu công nghiệp tập trung, 03 cụm công nghiệp, 33 nhà máy chế biến nông sản, tập trung ở các huyện Mộc Châu, Mai Sơn và Phù Yên. Năm 2020, tập đoàn TH đã đầu tư xây dựng nhà máy chế biến hoa quả và thảo dược tại huyện Vân Hồ, nhà máy chế biến chế biến rau quả xuất khẩu tại xã Hát Lót, huyện Mai Sơn. Đây là một sự kiện hết sức quan trọng đối với nhân dân các dân tộc Sơn La, tạo điều kiện để tỉnh định hình và phát triển nông nghiệp một cách đúng hướng. Riêng công nghiệp năng lượng, trong năm 2019, đạt 10,084 tỷ KW/h, chiếm 16,39% tổng sản lượng điện cả nước, lớn nhất khu vực miền Bắc. Đến năm 2020, toàn tỉnh có 2.716 doanh nghiệp, tăng 60,7% so với năm 2015; 640 hợp tác xã và 07 liên hiệp hợp tác xã (tăng 448 hợp tác xã, 07 liên hiệp hợp tác xã so với năm 2015).
Thương mại, dịch vụ, du lịch phát triển mạnh mẽ cả về quy mô và ngành nghề. Trong năm 2019, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt quy hoạch Mộc Châu trở thành khu du lịch quốc gia, góp phần quan trọng định hướng cho sự phát triển du lịch của tỉnh. Mỗi năm Sơn La đón hơn 2 triệu khách du lịch, doanh thu từ du lịch đạt 1.100 tỷ đồng/năm. Hoạt động xuất khẩu hàng hóa được đẩy mạnh; tổng giá trị hàng hóa tham gia xuất khẩu giai đoạn 2016-2020 đạt 488,2 triệu USD, bình quân đạt 97,6 triệu USD/năm, tăng bình quân 5,3%/năm. Ngành thương mại, dịch vụ và du lịch ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong câu cấu ngành kinh tế của tỉnh.
Chính sách thu hút đầu tư được tập trung triển khai quyết liệt, đồng bộ, bước đầu phát huy hiệu quả, thu hút được một số tập đoàn kinh tế, nhà đầu tư lớn đến khảo sát và triển khai đầu tư trên địa bàn tỉnh, điển hình như: Tập đoàn TH, Tập đoàn Vingroup, Tập đoàn FLC, Tập đoàn Quế Lâm, Công ty Cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk...
Hoạt động khoa học - công nghệ được nâng cao, cơ chế quản lý được đổi mới. Khoa học - công nghệ ngày càng được tăng cường ứng dụng vào công tác quản lý, giảng dạy, khám chữa bệnh và sản xuất, góp phần tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Chương trình xây dựng nông thôn mới đạt một số kết quả quan trọng. Đến hết năm 2020, toàn tỉnh có 49 xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó riêng Thành phố Sơn La được công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới năm 2019.
Công tác sắp xếp, ổn định dân cư các xã, bản đặc biệt khó khăn, vùng tái định cư các công trình thủy điện được quan tâm. Đặc biệt, Sơn La đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ hai cuộc đại di dân tái định cư để phục vụ xây dựng hai công trình thế kỷ: thủy điện Hòa Bình và thủy điện Sơn La. Riêng thủy điện Sơn La, đã di chuyển 12.584 hộ với 54.282 nhân khẩu của ba huyện Mường La, Quỳnh Nhai, Thuận Châu đến nơi ở mới. Hiện nay đời sống kinh tế-xã hội, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của nhân dân tái định cư đã dần được ổn định, nhiều hộ gia đình đã vươn lên trở thành hộ sản xuất kinh doanh giỏi.
An sinh xã hội và xóa đói giảm nghèo đạt được nhiều kết quả quan trọng. Các vấn đề xã hội được tập trung giải quyết. Các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về dân tộc, tôn giáo, an sinh xã hội được triển khai có hiệu quả, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được nâng lên. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều toàn tỉnh từ 34,44% (năm 2015) giảm xuống còn 18,62% (năm 2020), bình quân giảm trên 3%/năm; hai huyện Phù Yên và Quỳnh Nhai thoát nghèo. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng lên, nhất là vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Giáo dục và đào tạo có nhiều tiến bộ, từ tháng 12-2007, toàn tỉnh được công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục trung học cơ sở; hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi (tháng 12/2014); tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp các năm duy trì ở mức cao, nhiều học sinh đạt các giải cao tại các kỳ thi học sinh giỏi cấp Quốc gia, đặc biệt năm 2012, em Ngô Phi Long học sinh lớp 11 trường Trung học phổ thông chuyên Sơn La đã đạt Huy chương Vàng Olympic Vật lý quốc tế. Các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề phát triển mạnh, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh và vùng Tây Bắc.
Sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân được quan tâm chăm lo. Các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, dân số, kế hoạch hóa gia đình, vệ sinh an toàn thực phẩm, công tác y tế dự phòng, chế độ bảo hiểm y tế được triển khai thực hiện ngày một hiệu quả, góp phần cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, nhất là các đối tượng chính sách, người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, người dân tộc thiểu số, người cao tuổi, giảm thiểu các bệnh xã hội. Đến hết năm 2020, Sơn La đạt 27 giường bệnh và 7,65 bác sỹ trên một vạn dân, toàn tỉnh có 197 xã, phường đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế.
Văn hóa, văn nghệ thể dục thể thao ngày càng phát triển. Truyền thống, bản sắc văn hoá tốt đẹp của đồng bào các dân tộc được gìn giữ và phát huy; nhiều lễ hội truyền thống được phục dựng gắn với phát triển du lịch,như lễ hội Nàng Han ở Quỳnh Nhai; ngày hội văn hóa các dân tộc huyện Mộc Châu, lễ hội mừng cơm mới ở Ngọc Chiến - Mường La... Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” phát triển cả về bề rộng và chiều sâu. Sự nghiệp thể dục - thể thao tiếp tục phát triển. Tỉnh đã đầu tư xây dựng Quảng trường Tây Bắc và Tượng đài Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Tây Bắc, đây là công trình có ý nghĩa lịch sử to lớn đối với nhân dân các dân tộc Sơn La nói riêng và Tây Bắc nói chung.
Thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước, công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách về tôn giáo phát huy hiệu quả. Giáo Hội phật giáo Việt Nam tỉnh được thành lập, đi vào hoạt động, Trung tâm hành chính - văn hoá Phật giáo tỉnh được xây dựng; việc đăng ký thí điểm sinh hoạt tôn giáo theo điểm nhóm đối với đạo Tin Lành ở một số huyện, từng bước hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật.
Quốc phòng được đảm bảo; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; quan hệ hợp tác với các tỉnh Bắc Lào, các tổ chức quốc tế được mở rộng, góp phần quan trọng vào ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội.
Hợp tác quốc tế được duy trì và mở rộng, tỉnh đã chủ động tìm kiếm, nghiên cứu, học tập, kêu gọi các đối tác đầu tư, chuyển giao công nghệ, hợp tác sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh. Đối ngoại nhân dân được phát huy và mang lại hiệu quả tích cực. Quan hệ hữu nghị đặc biệt và hợp tác toàn diện với các tỉnh Bắc Lào, nhất là giữa Sơn La với tỉnh Hủa Phăn và Luông Pha Băng được duy trì và phát huy hiệu quả, góp phần xây dựng tuyến biên giới Việt Nam - Lào hòa bình, hữu nghị, ổn định và phát triển.
Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng được củng cố và kiện toàn, chất lượng hoạt động được nâng lên, pháp chế xã hội chủ nghĩa được tăng cường; phát huy mạnh mẽ vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân; khối đoàn kết các dân tộc được củng cố vững chắc. Từ 01 chi bộ ban đầu ra đời vào tháng 10-1946, đến nay, Đảng bộ tỉnh Sơn La đã có 17 Đảng bộ trực thuộc, trong đó có 12 Đảng bộ huyện, 03 Đảng bộ lực lượng vũ trang (công an, quân sự và biên phòng), Đảng bộ khối các cơ quan và doanh nghiệp tỉnh, Đảng bộ trường Đại học Tây Bắc; 597 tổ chức cơ sở đảng, 4.199 chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở với tổng số 86.096 đảng viên. Đặc biệt, Đảng bộ tỉnh vừa tổ chức thành công Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, đề ra nhiều chiến lược, biện pháp đúng đắn, phấn đấu đưa Sơn La thành tỉnh phát triển trong khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Trải qua 125 năm (1895-2020) hình thành và phát triển, đặc biệt là từ khi có Đảng lãnh đạo, nhân dân các dân tộc Sơn La đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thách thức, góp phần cùng nhân dân cả nước lập lên những chiến công vẻ vang, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc. Sơn La ngày càng vững bước trên con đường thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, trở thành điểm sáng về phát triển kinh tế trong các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc.
 Ghi nhận những công lao đóng góp to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Sơn La đã được Đảng và Nhà nước trao tặng những phần thưởng cao quý. Có 20 tập thể, 06 cá nhân được Nhà nước phong tặng, truy tặng danh hiệuAnh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng cờ luân lưu “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhì; ngoài ra còn có nhiều đơn vị, cá nhân được tặng phong tặng, truy tặng nhiều danh hiệu cao quý như: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động. Đảng và Chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tặng Huân chương Tự do - Huân chương cao quí nhất của nhà nước Lào cho Đảng bộ, quân và dân tỉnh Sơn La./.
                Bùi Kiên
Hội Khoa học Lịch sử Sơn La

 

 

Chú thích:

[1] Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Sơn La (2002). Lịch sử Đảng bộ tỉnh Sơn La tập 1 (1939-1954), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội. tr.7-11.
[2] Niên giám thống kê tỉnh Sơn La năm 2019. Nxb Thống kê - 2020. Tr 15.
[3] Nhà tù Sơn La được thực dân Pháp xây dựng từ năm 1908, lúc đầu nhằm giam giữ các tù thường phạm và những người mà chúng cho là chống lại nhà nước bảo hộ Pháp. Năm 1930, chúng mở rộng nhà tù lên gấp 3 lần và đưa các tù nhân chính trị lên đây giam giữ. 
[4] Đồng chí Chu Văn Thịnh, quê gốc ở Văn Điển- Hà Nội, sinh ra và lớn lên ở bản Họ, xã Chiềng An, huyện Mường La (Thành phố Sơn La ngày nay), đầu năm 1943, đồng chí là Tổ trưởng tổ Thanh niên cứu quốc hoạt động ở Tỉnh lỵ, cuối năm 1943, đồng chí được chi bộ Nhà tù Sơn La giao nhiệm vụ vào Mường Chanh vận động nhân dân xây dựng khu căn cứ cách mạng của Sơn La, đồng chí đóng một vai trò hết sức to lớn trong cuộc vận động cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Sơn La. Sau cách mạng Tháng Tám đồng chí là Phó Chủ tịch Ủy ban cách mạng lâm thời, Chủ nhiệm Ban cán sự Việt Minh. Tháng 5-1947, theo chỉ đạo của Tỉnh ủy, đồng chí phụ trách một đoàn công tác quay trở lại Mường Chanh (Mai Sơn) và Bản Lầm (Thuận Châu) để xây dựng lại cơ sở. Trên đường đi, đoàn công tác bị địch phục kích ở Chiềng Đông, Yên Châu, đồng chí đã anh dũng hi sinh.
 

Số lần đọc : 63   Cập nhật lần cuối: 20/11/2020

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 10279326

Số người Onlne: 29