Nghiên cứu → Lịch sử

Quốc hiệu và tên thủ đô nước ta qua các thời


 



Nhân kỷ niệm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9
 
 
Quốc hiệu và tên thủ đô nước ta qua các thời
 
                                                                                 HUY HOÀNG
 
         
Quốc hiệu và tên thủ đô luôn là hai trong số những cái tên thiêng liêng nhất đối với mỗi dân tộc, mỗi con người. Nó khẳng định sự tồn tại và chủ quyền của một quốc gia, thể hiện ý thức và niềm tự hào dân tộc, cũng như sự bình đẳng với các nước khác trên thế giới. Qua mấy ngàn năm lịch sử, để hình thành “Việt Nam” và “Hà Nội” như ngày nay, quốc hiệu và tên thủ đô nước ta đã phải trải qua không ít thăng trầm.

 

 
 

Từ đầu thời đại đồng thau, các bộ lạc người Việt đã định cư chắc chắn ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Bấy giờ có khoảng 15 bộ lạc Lạc Việt sống chủ yếu ở miền trung du và đồng bằng Bắc Bộ, hàng chục bộ lạc Âu Việt (Tây Âu) sống chủ yếu ở miền Việt Bắc. Tại nhiều nơi, người Lạc Việt và người Âu Việt sống xen kẽ với nhau, bên cạnh các thành phần dân cư khác.

 

 

Do nhu cầu trị thủy, nhu cầu chống ngoại xâm và do việc trao đổi kinh tế, văn hóa ngày càng gia tăng, các bộ lạc sinh sống gần gũi nhau có xu hướng tập hợp và thống nhất lại. Trong số các bộ lạc Lạc Việt, bộ lạc Văn Lang hùng mạnh hơn cả. Thủ lĩnh bộ lạc này là người đứng ra thống nhất tất cả các bộ lạc Lạc Việt, dựng nên nước Văn Lang, đặt kinh đô tại Phong Châu (thuộc Bạch Hạc - Phú Thọ ngày nay), tự xưng vua - mà sử cũ gọi là Hùng Vương và con cháu ông nhiều đời về sau vẫn nối truyền danh hiệu đó.

 

 

Căn cứ vào các tài liệu sử học, có thể tạm xác định địa bàn nước Văn Lang tương ứng với vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ nước ta hiện nay cùng với một phần phía nam Quảng Đông, Quảng Tây (Trung Quốc). Thời gian tồn tại của nước Văn Lang khoảng từ đầu thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên (TCN) đến thế kỷ 3 TCN.

 

 

Năm 221 TCN, Tần Thủy Hoàng cho quân xâm lược đất của toàn bộ các nhóm người Việt. Thục Phán - thủ lĩnh liên minh các bộ lạc Âu Việt - được tôn làm người lãnh đạo cuộc chiến chống Tần. Năm 208 TCN, quân Tần phải rút lui. Với uy thế của mình, Thục Phán xưng vương (An Dương Vương), liên kết các bộ lạc Lạc Việt và Âu Việt lại, dựng nên nước Âu Lạc.

 

 

Năm 179 TCN, Triệu Đà - vua nước Nam Việt - tung quân đánh chiếm Âu Lạc. Cuộc kháng cự của An Dương Vương thất bại. Suốt 7 thế kỷ tiếp đó, mặc dù các thế lực phong kiến phương Bắc thay nhau đô hộ, chia nước ta thành nhiều châu, quận với những tên gọi khác lạ mà chúng đặt ra, nhưng vẫn không xóa nổi cái tên “Âu Lạc” trong ý thức, tình cảm và sinh hoạt thường ngày của nhân dân ta.

 

 

Mùa xuân năm 542, Lý Bí khởi nghĩa, đánh đuổi quân Lương, giải phóng lãnh thổ. Tháng 2/544, Lý Bí chính thức lên ngôi Hoàng đế (Lý Nam Đế), đóng đôLong Biên, đặt quốc hiệu Vạn Xuân, khẳng định niềm tự tôn dân tộc, độc lập với các hoàng đế ở phương Bắc và mong muốn đất nước được bền vững muôn đời.

 

 

Chính quyền Lý Bí tồn tại không lâu rồi lại rơi vào vòng đô hộ của các triều đình Trung Quốc (từ năm 602). Quốc hiệu Vạn Xuân bị vùi dập và chỉ được khôi phục sau khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán bằng chiến thắng Bạch Đằng năm 938, chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc. Năm 939, Ngô Quyền xưng vương, đóng đôCổ Loa để - như lời sử cũ - “tỏ ý nối tiếp quốc thống xưa của An Dương Vương” và xây dựng một chính quyền trung ương độc lập.

 

 

Năm 968, sau khi dẹp yên các sứ quân cát cứ, thống nhất quốc gia, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế (Đinh Tiên Hoàng), đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt (nước Việt lớn), định đôHoa Lư (thuộc Gia Viễn - Ninh Bình ngày nay).

 

 

Kế tiếp nhà Đinh, nhà Tiền Lê (980-1009) vẫn giữ nguyên quốc hiệu, tên và vị trí thủ đô.

 

 

Năm 1010, ngay sau khi lên ngôi, Lý Công Uẩn vì thấy Hoa Lư chật hẹp, hẻo lánh, không thể làm trung tâm đất nước, đã quyết định dời thủ đô từ Hoa Lư về thành Đại La. Tương truyền vua nhìn thấy rồng vàng bay lên ở đó, bèn đặt tên thủ đô mới là Thăng Long (Hà Nội ngày nay). Mục đích của việc dời đô được Lý Công Uẩn nêu rõ trong Chiếu thiên đô: “đóng nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế lâu dài cho con cháu đời sau”. Vị Thái Tổ nhà Lý đã sớm nhận thấy “thế rồng cuộn hổ ngồi, vị trí thích trung với bốn phương: đông - tây - nam - bắc, thuận cho chiều hướng gặp gỡ của núi sông” và đánh giá Thăng Long “thật là chỗ hội tụ bốn phương, là nơi đô thành bậc nhất của đế vương muôn đời”!

 

 

Tháng 11/1054, nhân điềm lành lớn là việc xuất hiện một ngôi sao sáng chói nhiều ngày mới tắt, nhà Lý liền cho đổi quốc hiệu Đại Việt, thể hiện niềm tự tôn và ý thức bình đẳng sâu sắc của nước ta với các nước xung quanh.

 

 

Hai cái tên Đại ViệtThăng Long được giữ nguyên suốt thời Lý (1010-1225) và thời Trần (1226-1400).

 

 

Tháng 3/1400, Hồ Quý Ly phế Trần Thiếu Đế, lập ra nhà Hồ. Quý Ly cho đổi quốc hiệu thành Đại Ngu (“ngu” tiếng cổ có nghĩa là “sự yên vui”). Vẫn lấy Thăng Long làm thủ đô, nhưng ngay từ năm 1397, Quý Ly đã cho xây thành Tây Đô rất lớn (thuộc Vĩnh Lộc - Thanh Hóa ngày nay), coi đây như “thủ đô thứ hai”. Cũng vì có Tây Đô mà Thăng Long còn được gọi là Đông Đô. Quốc hiệu đó tồn tại cho đến khi giặc Minh đánh bại triều Hồ (tháng 4/1407).

 

 

Sau 10 năm kháng chiến (1418-1427), cuộc khởi nghĩa chống Minh của Lê Lợi toàn thắng. Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi, đặt lại quốc hiệu Đại Việt (lãnh thổ nước ta lúc này về phía nam đã tới Thuận Hóa), thủ đôThăng Long.

 

 

Năm 1527, Mạc Đăng Dung xóa bỏ nhà Lê, lập ra nhà Mạc, đóng đô tại Thăng Long (Đông Đô). Nguyễn Kim - trung thần nhà Lê - chạy vào Thanh Hóa, tôn Lê Duy Ninh lên ngôi vua (Lê Trang Tông), xây dựng chính quyền riêng, đóng tại Tây Đô.

 

 

Năm 1545, Nguyễn Kim chết, quyền lực rơi vào tay con rể là Trịnh Kiểm. Năm 1592, nhà Mạc bị họ Trịnh (vẫn trên danh nghĩa phù Lê) đánh bại, phải chạy lên Cao Bằng và bị tận diệt vào năm 1692.

 

 

Nguyễn Hoàng - con Nguyễn Kim - xin vào trấn thủ các đất Thuận Hóa, Quảng Nam, rồi phát triển lực lượng chống lại họ Trịnh. Từ năm 1627 đến năm 1672, Trịnh - Nguyễn đánh nhau dữ dội mà bất phân thắng bại, phải lấy sông Gianh làm giới tuyến. Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài (Bắc Hà), đóng đô tại Thăng Long; chúa Nguyễn ở Đàng Trong (Nam Hà), đóng đô tại Thuận Hóa, rồi Phú Xuân (Huế ngày nay).

 

 

Năm 1771, ba anh em Tây Sơn (Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ) khởi nghĩa. Năm 1778, khi đã đánh bại chúa Nguyễn (lần thứ nhất), Nguyễn Nhạc lên ngôi. Năm 1786, đánh bại chúa Trịnh, Nguyễn Nhạc xưng là Trung ương Hoàng đế, đóng đôQuy Nhơn. Cuối năm 1788, Nguyễn Huệ cũng lên ngôi Hoàng đế, đóng đô tại Phú Xuân. Như vậy, thời kỳ này cùng tồn tại 2 chính quyền và 2 thủ đô.

 

 

Sau khi đánh tan quân Thanh và chinh phục đất Bắc Hà, Nguyễn Huệ chuẩn bị dời đô (thực ra, ý định này có ngay từ năm 1778). Địa điểm lựa chọn lúc đầu là Phù Thạch, bên sông Lam, dưới chân núi Nghĩa Liệt, nhưng không thành. Tiếp đó, Nguyễn Huệ định chọn xã Yên Trường, huyện Châu Lộc (tức Vinh hiện nay), cũng không thành. Cuối cùng, ông lại chọn địa điểm mới dưới chân núi [Dũng] Quyết ở gần Bến Thủy, với tên “Phượng Hoàng trung đô”. Nhưng kinh đô mới vừa được khởi công xây dựng thì bị bỏ do ông mất đột ngột (năm 1792).

 

 

Hai tiếng “Việt Nam” xuất hiện khá sớm - ít nhất là từ thế kỷ 14 - và được ghi nhận trong nhiều thư tịch như: Việt Nam thế chí của Hồ Tông Thốc, Dư địa chí của Nguyễn Trãi, Trình tiên sinh quốc ngữ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú… Đặc biệt, trong Dụ Am văn tập của Phan Huy Ích có bài Tuyên cáo về việc đặt quốc hiệu mới của vua Quang Trung (Nguyễn Huệ) - theo đó, mùa xuân năm Nhâm Tý 1792, Nguyễn Huệ đã cho đổi quốc hiệu Việt Nam.

 

 

Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi, đóng đôPhú Xuân, đặt quốc hiệu Việt Nam(năm 1804 được nhà Thanh ở Trung Quốc thừa nhận). Nguyễn Ánh vẫn giữ tên gọi Thăng Long là Bắc Thành - do Nguyễn Huệ đổi trước đó. Đến năm 1805, Nguyễn Ánh mới khôi phục địa danh Thăng Long.

 

 

Năm 1831, vua Minh Mạng chia Bắc Thành tổng trấn ra nhiều tỉnh hạt. Huyện Từ Liêm thuộc tỉnh Sơn Tây được đưa vào phủ Hoài Đức, gộp với các phủ Ứng Hòa, Lý Nhân, Thường Tín thuộc trấn Sơn Nam, làm thành tỉnh Hà Nội. Cuối thời Minh Mạng (1820-1840), nước ta được đổi tên thành Đại Nam và có lãnh thổ rộng nhất.

 

 

Ngày 19/8/1945, Cách mạng tháng Tám thành công. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với thủ đôHà Nội.

 

 

Suốt ba thập kỷ tiếp theo, tuy đất nước lâm vào cảnh chiến tranh, rồi chia cắt, hai từ “Việt Nam” và “Hà Nội” vẫn được sử dụng phổ biến từ Bắc chí Nam và trở thành thân thiết, thiêng liêng đối với mọi người.

 

Ngày 30/4/1975, miền Nam được giải phóng, non sông quy về một mối. Ngày 2/7/1976, trong kỳ họp đầu tiên của Quốc hội nước Việt Nam thống nhất, toàn thể Quốc hội đã nhất trí lấy tên nước là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và tên thủ đô là Hà Nội. Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992, Hiến pháp 2013 tiếp tục khẳng định quốc hiệu và tên thủ đô đó, đưa nó trở thành chính thức cả về pháp lý lẫn trên thực tế./.
 
 
 

Số lần đọc : 629   Cập nhật lần cuối: 26/08/2019

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 7646249

Số người Onlne: 180