Nghiên cứu → Đa chiều

Phụ nữ việt nam- người viết tiếp trang sử vàng trong công cuộc đổi mới và hội nhập


 

 

 

 

 

 

Kỉ niệm 87 năm ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (20/10/1930- 20/10/2017)

 

Phụ nữ việt nam- người viết tiếp trang sử vàng trong công cuộc đổi mới và hội nhập 
 
 

Gần tròn một thế kỷ, là móc đánh dấu quan trọng những thành tựu của phụ nữ Việt Nam trong mọi mặt đời sống  kinh tế- xã hội. Ngày nay, phụ nữ Việt Nam tiếp tục không ngừng vươn lên, viết tiếp trang sử vàng trong công cuộc đổi mới và hội nhập, để xứng đáng với lời khen của Bác Hồ kính yêu “từ xưa đến nay, từ Nam chí Bắc, từ trẻ đến già, phụ nữ Việt Nam thật là anh hùng”.  
 

Một thời gian ngắn sau Cách mạng Tháng Mười, được ánh sáng của Quốc tế Cộng sản soi rọi, đặc biệt là Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin, đã giải đáp trăn trở của Người về vấn đề giải phóng các dân tộc thuộc địa, giải phóng dân tộc Việt Nam. Dựa vào bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn cuộc đấu tranh cách mạng ở nước Nga Xô viết, Người khẳng định: "An Nam cách mệnh cũng phải có nữ giới tham gia mới thành công, mà nữ giới An Nam muốn cách mệnh thì phải theo Phụ nữ quốc tế chỉ bảo". Như vậy, trong tư duy của Hồ Chí Minh, phụ nữ Việt Nam muốn thoát khỏi áp bức bất công chỉ có một con đường - đó là đi theo cách mạng và làm cách mạng để giành độc lập dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội. 

Trong cuốn “Đường cách mệnh”, được xuất bản lần đầu vào năm 1927, đến nay tròn 90 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Muốn thế giới cách mệnh thành công, thì phải vận động bà con gái công nông các nước. Vì vậy Đệ tam Quốc tế, tổ chức phụ nữ quốc tế … Mỗi Đảng cộng sản phải có một Bộ phụ nữ trực tiếp thuộc về phụ nữ quốc tế” (1). Như vậy, Người đã chẳng những nhấn mạnh vai trò của phụ nữ mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của phụ nữ trong đấu tranh cách mạng. 

Trong các Văn kiện thành lập Ðảng tháng 2 năm 1930, Bác Hồ đã nêu một chủ trương lớn về phương diện xã hộiNam nữ bình quyền”  là một trong những nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam. Tháng 10/1930, Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Án nghị quyết của Trung ương toàn thể hội nghị về Phụ nữ vận động. Án nghị quyết nhấn mạnh: “Lực lượng cách mạng của phụ nữ là một cái lực lượng rất trọng yếu. Nếu quảng đại quần chúng phụ nữ không tham gia vào những cuộc tranh đấu cách mạng thì cách mạng không thắng lợi được. Bởi vậy nên công tác trong quần chúng phụ nữ không phải là một cái nhiệm vụ phụ thuộc của Đảng; công tác ấy chánh là một cái nhiệm vụ lớn và rất trọng yếu” (2). Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần tuyên bố với thế giới và quốc dân rằng: phụ nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân. Đánh giá cao vai trò cuả phụ nữ khi nhìn nhận họ là một lực lượng lao động đông đảo của xã hội, Người còn thấy rõ khả năng làm việc không thua kém nam giới của phụ nữ. Người nêu những tấm gương tiêu biểu của phụ nữ như: Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Thị Định... Người còn nhấn mạnh: "Để xây dựng được chủ nghĩa xã hội thì phải thực sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ"; và Người còn chỉ rõ rằng: "Chúng ta làm cách mạng để tranh lấy quyền bình đẳng, trai gái đều ngang quyền như nhau (3). Người cũng đề cao vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã hội: “Non sống gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ…”(4) 

Khi sửa di chúc năm 1968, Bác dành riêng một đoạn để nói về phụ nữ “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ” (5).  

Thấm nhuần tư tưởng và Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, gần 50 năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng và phát triển một cách toàn diện tư tưởng của Người trong công cuộc đổi mới và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; các tầng lớp phụ nữ đã có nhiều cố gắng nỗ lực để hướng tới sự bình đẳng thực chất cho phụ nữ. Xuyên suốt từ Cương lĩnh Chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 đến các Văn kiện Đảng từ Đại hội VI (1986), Đại hội XII (2016) đều đề cập đến vấn đề phụ nữ và thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, nhằm phát huy giá trị và vai trò của phụ nữ trong thời đại mới và thời kỳ hội nhập. 

Dưới góc độ Nhà nước, hệ thống pháp luật về bình đẳng giới đã được hình thành và ngày càng hoàn thiện. Cụ thể, Hiếp pháp 2013 kế thừa và tiếp tục ghi nhận quyền bình đẳng, không bị phân biệt đối xử cũng như quy định chính sách của Nhà nước trong việc đảm bảo điều kiện để phụ nữ phát triển. Tiếp đó, Luật bình đẳng giới 2006 ra đời là trung tâm của hệ thống chính sách, pháp luật về bình đẳng giới. Luật đã cụ thể hóa và hệ thống hóa các quy định về bình đẳng nam, nữ trong các văn bản của nhà nước ta, đồng thời thể chế hóa Công ước CEDAW- điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên. Sau đó, năm 2011, Bộ chỉ tiêu thống kê phát triển giới của quốc gia đã được ban hành. Bộ chỉ tiêu gồm 105 chỉ tiêu trong 11 lĩnh vực được phân công cho các cơ quan, bộ, ngành, tổ chức chính trị-xã hội thu thập và thống kê. Năm 2014, Thủ tướng chính phủ ban hành chế độ báo cáo thống kê tổng hợp áp dụng đối với bộ, ngành đã tiếp tục hoàn thiện và hệ thống hóa công tác trên. Bên cạnh đó, vấn đề bình đẳng giới đã được Ủy ban thẩm tra lồng ghép đối với 63 luật, 03 pháp lệnh và 03 nghị quyết. Trong đó có các đạo luật tiêu biểu như: Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Bộ luật lao động, Luật bảo hiểm xã hội, luật phòng chống bạo lực gia đình, Luật việc làm, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân… 

Với những nỗ lực cải cách hệ thống chính sách, pháp luật bảo đảm bình đẳng giới như nêu trên, phụ nữ Việt Nam đã tham gia ngày càng nhiều vào các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trao quyền cho phụ nữ là chìa khóa vàng thúc đẩy sự phát triển xã hội. Theo xếp hạng của về chỉ số bất bình đẳng giới (GII) năm 2014, Việt Nam xếp thứ 60/154 quốc gia được xếp hạng. Điều đó cho thấy những nỗ lực bảo đảm bình đẳng giới của Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận. 

Phụ nữ chiếm tới 51,5% dân số và 48% lực lượng lao động xã hội, phụ nữ Việt Nam ngày càng tham gia nhiều hơn công việc xã hội, bình đẳng hơn trên nhiều lĩnh vực, đóng góp ngày càng lớn cho gia đình và xã hội. Điều kiện sống của đại đa số phụ nữ, trẻ em gái được cải thiện; kiến thức về tổ chức cuộc sống gia đình, về chăm sóc sức khoẻ được nâng lên; tiếp cận dịch vụ y tế tốt hơn nên sức khoẻ tiếp tục được cải thiện, tuổi thọ trung bình tăng (năm 2009 là 75,6 tuổi, năm 2016 là 76 tuổi). Tỷ lệ phụ nữ tham gia Quốc hội khóa XIV (2016-2021) đạt 26,8%, đưa Việt Nam nằm trong nhóm nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao ở khu vực và thế giới. Phụ nữ đảm nhiệm nhiều vị trí lãnh đạo chủ chốt của đất nước như Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch nước, Bộ trưởng; Thứ trưởng. Ở các địa phương, nhiều phụ nữ giữ vai trò chủ chốt ở các cấp, các ngành, góp phần giải quyết các vấn đề quan trọng. Nữ doanh nhân là người dân tộc thiểu số tăng, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số ngày càng được phát huy. 

Có thể khẳng định rằng, từ truyền thống đến hiện đại, người phụ nữ Việt Nam  từ luôn luôn giữ gìn và phát huy những phẩm chất “công, dung, ngôn, hạnh” trong truyền thống đến “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” trong thời kỳ cách mạng giải phóng dân tộc, cho đến “yêu nước, có tri thức, sức khỏe, năng động, sáng tạo, có lối sống văn hóa, có lòng nhân hậu” trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế. Đó là một dòng chảy liên tục, có sự kế thừa, sự phát huy và bồi đắp những giá trị, những phẩm chất mới. Những phẩm chất đó phù hợp với đạo lý, truyền thống văn hóa dân tộc, đồng thời đáp ứng những yêu cầu mà thời đại đặt ra. 

Nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, vị thế của phụ nữ, Văn kiện Đại hội XII của Đảng (tháng 01-2016) xác định phương hướng: “Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ. Nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện luật pháp, chính sách đối với lao động nữ, tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò và trách nhiệm của mình. Kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội và xử lý nghiêm minh theo pháp luật các hành vi bạo lực, buôn bán, xâm hại nhân phẩm phụ nữ” (6). Tại Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XII nhiệm kỳ 2017-2022 cùng đề ra Phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”; 02 cuộc vận động: “Rèn luyện phẩm chất đạo đức: tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang”; “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch”gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh (7). 

Mặc dầu Đảng và Nhà nước ta đã có rất nhiều chủ trương, chính sách nhằm xây dựng và phát triển phụ nữ. Song bên cạnh đó, phụ nữ Việt Nam vẫn còn chịu nhiều thiệt thòi, nạn ngược đãi phụ nữ vẫn còn tồn tại ở một số nơi, đặc biệt là ở những vùng, những khu vực trình độ dân trí chưa cao. Chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng Nho giáo, vì vậy định kiến về giới còn tồn tại trong xã hội Việt Nam, kể cả ở một số bộ phận cán bộ. 

Với quyết tâm chính trị cao của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, trong lãnh đạo, điều hành đất nước theo phương châm kiến tạo, phục vụ đang tạo ra luồng sinh khí mới, nhất định trong thời gian tới phong trào phụ nữ nước ta sẽ phát triển mạnh mẽ và khởi sắc hơn nữa, đóng góp xứng đáng vào việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ XII nhiệm kỳ 2017-2022 đề ra, làm cho nước ta ngày càng giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên CNXH./.

 

 

Chú thích:  

(1,2,3,4,)-Hồ Chí Minh toàn tập, NxB CTQG, HN năm 2002, tập 1, 3, 6, 12.
(5)-Toàn văn Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, NXB Trẻ, năm 2007 trang 52. 
(6)--Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, trang 163. 
(7)-Website:  http://hoilhpn.org.vn: Nghị quyết Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XII.  

Tham khảo thêm:  

1 -Văn phòng Phát triển bền vững, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2016), Báo cáo nghiên cứu, rà soát 17 mục tiêu chung và 169 mục tiêu cụ thể trong Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững của Liên hợp quốc để đánh giá thực trạng và xác định các mục tiêu phù hợp, khả thi với điều kiện của Việt Nam, làm cơ sở cho việc quốc gia hóa các mục tiêu phát triển bền vững toàn cầu.  
2. Báo cáo số 08/BC-UBQG ngày 3/2/2016 của Ủy ban Quốc gia Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam về kết quả hoạt động năm 2016. 
3- Xem Hội đồng bầu cử quốc gia: “Báo cáo tóm tắt tổng kết cuộc bầu cử Quốc hội khóa XIV và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021”, ngày 17-7-2016. 
3. -Báo cáo tình hình thực hiện pháp luật về Bình đẳng giới và Mục tiêu quốc gia về Bình đẳng giới  năm 2016, Ủy ban Dân tộc ban hành ngày 14 tháng 02 năm 2017. 
4- Các Luật liên quan có liên quan, như: Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Bộ luật lao động, Luật bảo hiểm xã hội, luật phòng chống bạo lực gia đình, Luật việc làm, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân… 
 
 
 
 

Số lần đọc : 3606   Cập nhật lần cuối: 18/10/2017

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 3615135

Số người Onlne: 79

Thông tin doanh nghiệp