Nghiên cứu → Lịch sử

Phong trào bình dân học vụ ở Sơn La trong kháng chiến chống pháp (1945 – 1954)


 


PHONG TRÀO BÌNH DÂN HỌC VỤ Ở SƠN LA TRONG KHÁNG CHIẾN
CHỐNG PHÁP (1945 – 1954)
 
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, đất nước ta phải đối mặt với nạn “thù trong”, “giặc ngoài” vô cùng nghiêm trọng. Theo thỏa thuận của Đồng minh, quân Tưởng kéo vào giải giáp vũ khí quân đội Nhật ở miền Bắc;tại miền Nam quân Pháp núp sau thực dân Anhlăm le vào cướp nước ta một lần nữa. Trong lúc đó, nạn đói, nạn mù chữ và nạn tài chính kiệt quệ đang trở thành mối đe dọa lớn đối với nước VNDCCH non trẻ. Tại Sơn La, tình hìnhnghiêm trọng hơn, bởi quân Tưởng đã ra mặt phản động, cho giải tán chính quyền cách mạng và thi hành nhiều chính sách gây chia rẽ tình đoàn kết giữa các dân tộc anh em, hòng làm tan rã lực lượng cách mạng. Hưởng ứng phong trào Bình dân học vụ do Chính phủ phát động, tại Sơn La đã diễn ra phong trào diệt giặc dốt sôi nổi và trở thành nhiệm vụ xuyên suốt của chính quyền Sơn La trong 9 năm kháng chiến chống Pháp 1945 - 1954.
Ngay sau khi quân Tưởng từ Lai Châu tràn vào, Trung ương đã cử nhiều cán bộ lên tăng cường cho Sơn La củng cố chính quyền địa phương. Do đặc điểm dân cư Sơn La bấy giờ phần lớn còn chưa biết tiếng Kinh, trình độ giác ngộ cách mạng còn rất yếu. Do đó để xây dựng phong trào bình dân học vụ và giải quyết các nhiệm vụ cần kíp trước mắt là chống giặc ngoại xâm, bài trừ nội phản, cứu đói, cứu rách... trước tiên phải xây dựng được đội ngũ cán bộ có đủ trình độ cho các địa phương bằng cách mở các lớp quân chính, khóa đào tạo cán bộ địa phương cấp tốc; đồng thời kêu gọi những người có trình độ tham gia vào đội ngũ giáo viên trong các lớp bình dân học vụ. Trải qua nhiều lớp huấn luyện, Sơn La đã có một số cán bộ đủ sức gánh vác các hoạt động trong khu vực mình quản lý, tuy số lượng còn khiêm tốn so với nhu cầu thực tế của phong trào. Phong trào bình dân học vụ còn được triển khai đồng thời với việc xây dựng các tổ chức cứu quốc, các đoàn thể cứu quốc, để từ đó các mặt văn hóa, xã hội như xóa mù chữ, bình dân học vụ và xây dựng đời sống mới đã bước đầu được triển khai rộng rãi đến nhân dân. Các hoạt động đó đã gây được khí thế sôi nổi trong nhân dân các dân tộc khắp các bản, xã. Phong trào cứu tế, chống đói, chống giặc ngoại xâm và diệt giặc dốt lúc đó được cán bộ và nhân dân gọi chung là “đánh ba giặc cùng lúc”.
Sôi nổi nhất là ở Mộc Châu, nơi đây chính quyền cách mạng tuy được thành lập tương đối muộn (10/1945), nhưng lại là nơi đầu tiên được đón nhận cán bộ tăng cường từ Trung ương (đồng chí Bùi Thọ Chuyên) và cũng là nơi bị thực dân Pháp chiếm đóng muộn nhất. Chính vì thế phong trào bình dân học vụ ở đây được phát động sớm và ít chịu ảnh hưởng bởi chiến tranh hơn các địa phương khác. Đầu tháng 10/1945 ở huyện Mộc Châu đã tổ chức lễ ra quân đánh giặc dốt. Nhiều thanh niên cốt cán biết chữ và tiếng phổ thông được cử đi dạy các lớp bình dân ở một số xã, bản trong huyện, đồng thời phát động nhân dân cùng hưởng ứng đánh “ba giặc”. Ở các châu huyện khác như Mường La, Mai Sơn, Phù Yên, các lớp bình dân học vụ cũng được mở kết hợp với các lớp bồi dưỡng thanh niên, phụ nữ, cốt cán nhằm đảm bảo khả năng tiếp thu, cũng như củng cố trình độ cho cán bộ hoạt động trước mắt và lâu dài. Thời gian này, phong trào bình dân học vụ chủ yếu mới dừng lại ở việc tập hợp và tổ chức đội ngũ cán bộ, cốt cán địa phương nhằm xây dựng lực lượng cho phong trào. Việc tổ chức dạy học mới thực hiện ở một số nơi có nhiều thanh niên tiến bộ, nhanh nhẹn có khả năng tiếp thu được văn hóa mới. Phong trào củng cố các cơ sở kháng chiến cũng như công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, thanh niên đang phát triển mạnh mẽ thì tháng 4-1946, quân Pháp kéo về đánh chiếm Thuận Châu, Chiềng Pấc, Tỉnh lỵ, các cơ quan của tỉnh phải rút lui dần về Mộc Hạ, Xuân Đài, Thu Cúc. Đến giữa năm 1947, sau khi tỉnh trở lại xây dựng được chỗ đứng chân vững chắc ở căn cứ Mộc Hạ, Mộc Châu, phong trào bình dân học vụ mới tiếp tục được khôi phục và phát động mạnh mẽ.
Sau khi có chủ trương sát nhập Sơn La và Lai Châu thành liên tỉnh Sơn – Lai (3/1948), Ty Bình dân học vụ Sơn – Lai cũng được lập từ ngày 1/5/1948, gồm hai ban, Ban Mộc Châu và Ban Phù Yên. Bộ máy gồm 01 trưởng ty và 01 phó trưởng ty, 01 thư ký và 01 nhân viên. Ban Bình dân học vụ huyện Mộc có một trưởng ban và phó trưởng ban, một nhân viên; Huyện Phù Yên có một trưởng ban, một cán bộ chuyên trách. Tổng số nhân viên thuộc Ty Bình dân học vụ Sơn - Lai có 13 người. Thời kỳ này, các cán bộ Bình dân học vụ luôn đi sâu sát cùng nhân dân để kết hợp vừa dạy học vừa cổ động, tuyên truyền, giải thích về đường lối kháng chiến của Đảng và nghĩa vụ đối với cuộc kháng chiến của nhân dân. Chỉ tính riêng trong 4 tháng đầu hoạt động (từ tháng 5 đến tháng 9/1948), Ty BDHV Sơn - Lai đã tổ chức được 49 lớp học với 1.046 học viên theo học. Trong đó có 257 học viên sắp thi mãn khóa[1]. Đến quý I năm 1949, Ty Bình dân học vụ đã mở rộng hoạt động ra trong 4 huyện Mộc, Phù Yên, Yên Châu, Mai Sơn. Mặc dù dân chúng rất ham học, giáo viên đều có tinh thần, nhưng do học cụ thiếu thốn vì vận tải, tiếp tế khó khăn nên trong vùng tự do ở Mộc Châu còn có tới 87% dân chúng mù chữ. Trong số 11.637 người dân ở vùng tự do Mộc Châu từ 8 tuổi trở lên thì mới có 1.512 người biết chữ (kể cả những người đã biết đọc, biết viết từ trước). Huyện Phù Yên tại khu tự do có 467 người từ 8 tuổi trở lên thì có 57 người biết chữ quốc ngữ[2].Phong trào ở Mai Sơn và Yên Châu chưa thu được kết quả. Về sách vở, ngoài những cuốn sách giáo khoa của BDHV khu đã phát cho học viên thì không còn loại nào khác.Tỉnh vẫn chưa thành lập được trường tiểu học và trung học.
Đến hết năm 1948, mỗi bản trong khu tự do ở Mộc Hạ đều có một lớp bình dân học vụ. Phong trào xây dựng nếp sống mới như ăn ở sạch sẽ, giảm bớt những phong tục lạc hậu, rườm rà đã nhen nhóm lên ở nhiều nơi. Việc học tập trong nhân dân được chú ý và tiến bộ rõ rệt. Một số lớp tiểu học và nhiều lớp bình dân học vụ được mở khắp các xã, bản. Nhân dân đều hăng hái tham gia học tập, nhờ đó có nhiều người đã thoát nạn mù chữ. Học sinh theo học lớp bình dân học vụ đều được phát nhiều sách vở miễn phí.Một nguyên nhân khác khiến cho phong trào bình dân học vụ phát triển nhanh ở khu tự do là bởi khu vực kiểm soát của ta còn nhỏ, hẹp, cán bộ tập trung đông đã nhanh chóng phát động được phong trào bình dân học vụ và đạt được những thành tích khả quan.
Cuối năm 1949, Ty Tiểu học vụ được thành lập trên cơ sở tách từ Ty Bình dân học vụ do ông Lò Văn San[3] làm Trưởng ty; Ty Bình dân học vụ do ông Hà Văn Án[4] làm Trưởng ty. Ty Tiểu học vụ được thành lập nhưng phải đến sau khi phát động phong trào “đào tạo cán bộ, học tập lý luận” đầu năm 1950 ở các cơ quan đoàn thể và chính quyền ở trong khu tự do, phong trào tiểu học vụ mới được nhen nhóm và thành lập được một trường tiểu học ở vùng tự do Xuân Đài.
Năm 1950,tại vùng địch kiểm soát, Pháp cho nghiên cứu Latinh hóa chữ Thái và thử đưa vào dạy trong các trường học tại Tỉnh lỵ và Huyện lỵ. Đồng thời, chúng ra sức phát triển nền giáo dục lệch lạc, nhằm gây tâm lý tự ti, vong bản,khuyến khích lối sống hủ bại với các tệ nạn rượu chè, cờ bạc, đĩ điếm, dùng nhiều xa xỉ phẩm, thuốc men, vải muối để dụ dỗ nhân dân, quay lưng lại với kháng chiến.Để đối phó với âm mưu của địch, Ty Bình dân học vụ và Tiểu học vụ đã hướng dẫn cán bộ, giáo viên cố gắng tuyên truyền giải thích cho nhân dân hiểu rõ âm mưu thâm độc của địch, đồng thời cố gắng mở được một trường tiểu học tại nơi sơ tán ở Xuân Đài, Phú Thọ và có kế hoạch đào tạo giáo viên tiểu học để cung cấp cho phong trào. Tỉnh cũng choxúc tiến nghiên cứu việc Latinh hóa chữ Tháiđể đưa ra xin ý kiến của quần chúng. Thời gian này do địch tăng cường đánh phá vào khu tự do của ta, phần cũng do nạn đói đang diễn ra gay gắt, cùng với việcthiếu bút mực, học cụ nên phong trào bình dân học vụ sút kém hơn so với thời kỳ trước. Việc vận động đời sống mới trong nhân dân tuy có đưa ra song do kế hoạch còn nhiều thiếu sót, các địa phương chưa tích cực thực hiện nên hiệu quả chưa cao. Vấn đề cứu tế và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân do thiếu cán bộ và thuốc men nên chỉ thực hiện được trong một sốkhu tự do. Nhìn chung thời kỳ này, các ngành, các giới đều tập trung sức mạnh vào cuộc kháng chiến, song do phân bổ nguồn lực chưa hợp lý, nên so với quân sự thì các mặt văn hóa – xã hội vẫn chưa có bước tiến phù hợp. Một nguyên nhân nữa khiến cho phong trào Bình dân học vụ thời kỳ này có sự sút kém là do khu tự do được mở rộng, cán bộ đã ít lại phải phân tán nhiều nơi, khiến cho phong trào chững lại. Tính đến năm 1950, sau ba năm hoạt động, phong trào bình dân học vụ vẫn chưa thanh toán dứt điểm nạn mù chữ ở một bản nào. Sở dĩ kết quả của bình dân học vụ nghèo nàn như vậy là do hoàn cảnh nhân dân thiếu đói, học cụ, sách vở thiếu thốn, tham gia học không đều, biết đọc biết viết một chút lại bỏ dở nên nhanh chóng bị tái mù. Một phần khác là do một số giáo viên, cán bộ chưa nhiệt tình công tác, còn ngại khó, ngại khổ, chưa hết lòng, hết sức lăn lộn với phong trào.
Trước thực trạng đó, Tỉnh đã đề ra chủ trương phát triển văn hóa kháng chiến và dân chủ mới, chấn chỉnh và đẩy mạnh phong trào diệt dốt, phát triển các trường tiểu học, chú trọng việc đào tạo giáo viên. Vận động cải cách các phong tục lạc hậu một cách sâu rộng trong nhân dân; chấn chỉnh y tế và cứu tế giúp nhân dân chống lại bệnh tật. Bước sang năm 1951, để tạo ra cơ sở vững chắc cho nền giáo dục dân chủ nhân dân, Tỉnh tiếp tục chủ trương phát triển mạnh bình dân học vụ rộng rãi, mở các lớp dự bị bình dân ở các bản lớn có trên 30% người dân thoát nạn mù chữ. Khuếch trương và hướng dẫn phong trào học tập trong các đoàn thể cơ quan nhằm nêu gương học tập trong nhân dân. Xây dựng nề nếp cho nền tiểu học vụ, chuẩn bị tiếp quản và xây dựng cơ sở giáo dục ở các vùng mới giải phóng; tăng cường giáo dục dân chủ cho nhân dân.Ty Bình dân học vụ đã tích cực đào tạo và bổ túc giáo viên sơ cấp; đào tạo giáo viên dự bị; bổ túc cho giáo viên bình dân học vụ, tập huấn nâng cao trình độ giảng dạy, tập trung cán bộ khá để thanh toán nạn mù chữ ở những bản có phong trào khá nhất. Mở thêm các lớp học ở vùng Mán, Mèo. Chuẩn bị cán bộ giáo dục cho những vùng sắp được giải phóng; giải quyết vấn đề học phẩm cho học sinh; cố gắng xây dựng tài liệu học tập bằng tiếng dân tộc.Ty Tiểu học vụ cho mở ký túc xá; mở thêm trường học ở những nơi nhiều trẻ em; bổ túc dìu dắt giáo viên mới, giáo dục cải tạo giáo viên cũ. Ngành giáo dục của tỉnh đã nỗ lực đẩy mạnh phong trào “rèn cán chỉnh cơ”; tổ chức Công đoàn giáo dục và Học sinh đoàn; lập Hội giúp giáo giới xã, thúc đẩy Hội giúp giáo giới hoạt động. Khuyến khích và hướng dẫn phong trào tự học trong nhân dân; chọn lựa những nơi khá tổ chức hội đọc sách báo. Chọn những người biết chữ để đưa sách báo vào đọc cho nhân dân; Ban huấn học nghiên cứu để phát hành những tài liệu học tập. Để tăng cường dân chủ trong nhân dân, tỉnh còn tổ chức những đại hội toàn dân hướng dẫn cho nhân dân kiểm thảo chủ trương của đoàn thể, chính quyền và phê bình cán bộ; các cuộc hội nghị của chính quyền còn mời đại biểu dân đến để góp ý kiến vào chủ trương của chính quyền; các lớp huấn luyện của đoàn thể quần chúng thêm vào chương trình giáo dục dân chủ cho nhân dân.
Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhất là việc đảm bảo cuộc sống cho cán bộ, giáo viên, nhưng từ tháng 4 đến tháng 8/1950, Ty Bình dân học vụ và tiểu học vụ đã trích lương ủng hộ 4.370 đồng cho cấp dưỡng bộ đội địa phương. Đầu năm 1951, Tỉnh đã thành lập được ký túc xá cho những con em của bần cố nông, những gia đình có công với cách mạng vào học. Nhưng do tình hình tài chính eo hẹp, nên việc duy trì hoạt động chưa thường xuyên. Các trường tiểu học vụ, lớp bình dân học vụ bị đình đốn trong một thời gian khá dài, nay đã dần được khôi phục. Trong tỉnh đã mở được 1 trường tiểu học ở bản Chiềng Ban (Mường Tè, Vân Hồ) với số học sinh là 41 người. Đầu năm 1952 tiếp tục mở tại các bản Bó Bụt, Bản Men, To Ngùi và Pơ Tào. Trong hoàn cảnh chiến tranh lan rộng, Ty BDHV vẫn nỗ lực công tác, thực hiện kế hoạch củng cố phong trào ở những nơi khó khăn. Tháng 1/1951 Ty tiếp tục cử cán bộ đi củng cố phong trào tại các bản thì bị cuộc tấn công của địch vào khu tự do làm gián đoạn. Công tác chưa khôi phục được thì lại tiếp đến cuộc tấn công của địch lần thứ hai vào đầu tháng 4/1951. Đến tháng 4/1951 Ty Tiểu học vụ đã xây dựng thêm một trường ký túc xá ở Xuân Đài. Tổng số học sinh tiểu học các trường lên tới gần 1.000 em. Năm 1951, Ty Tiểu học vụ được đổi tên thành Ty Giáo dục phổ thông. Bên cạnh việc dạy và học chữ Quốc ngữ, chữ Thái, chữ nhovẫn được phổ biếntrong đồng bào các dân tộc. Do đó, tỉnh cũng đã xây dựng xong dự thảo Latinh hóa chữ Thái và thống nhất chữ ở các địa phương gửi đi lấy ý kiến các nơi để giúp người dân học và viết được dễ dàng hơn. Ty Giáo dục phổ thông đã mở được một trường học cho đồng bào tản cư ở Xuân Đài và phối hợp với Ty Bình dân học vụ mở 4 lớp ở khu tự do và xuất bản sách vỡ lòng bằng tiếng Thái Latinh hóa.
Ngày 12/1/1952, Liên khu Việt Bắc ra Quyết định tách liên tỉnh Sơn – Lai làm hai tỉnh như cũ. Ty Bình dân học vụ và Ty giáo dục phổ thông lại sát nhập lại thành Ty Giáo dục phổ thông và Bình dân học vụ do ông Lò Văn San làm Trưởng ty, ông Hà Văn Án làm Phó ty. Thời gian này, tình hình Sơn La gặp rất nhiều khó khăn do địch tăng cường càn quét, làm tan rã nhiều khu du kích khiến nhân dân đói kém, vận tải tiếp tế khó khăn, cấp dưỡng thiếu thốn, làm ảnh hưởng đến tinh thần của một bộ phận cán bộ và nhân dân. Một số người tỏ ra mệt mỏi, cầu an, tiêu cực trong công tác, tinh thần sút kém, lề lối làm việc quan liêu, mệnh lệnh. Cán bộ nhân viên có năng lực lại thiếu, phải kiêm nhiệmnhiều việc, nên một số ngành, cấp tỏ ra trì trệ, không đủ sức đảm đương công việc ngày một nặng nề và khó khăn. Ngành giáo dục cũng không tránh khỏi tình trạng đó. Để cải thiện tình hình và tích cực chuẩn bị cho Chiến dịch Tây Bắc năm 1952, Tỉnh đã tổ chức Hội nghị học tập cho cán bộ nhân viên từ tỉnh đến huyện, xã tham dựnhằm chỉnh đốntác phong, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công nhân viên. Nhờ đó tình hình công tác của các ngành đã được cải thiện rõ rệt. Cán bộ, nhân viên các cấp, các ngành đều hăng hái bắt tay vào chuẩn bị cho Chiến dịch Tây Bắc thắng lợi. Cán bộ, nhân viên Ty Giáo dục phổ thông và Bình dân học vụ cũng góp một phần công sức trong thắng lợi chung của đất nước, nhất là việc chuẩn bị công tác giáo dục cho các vùng mới giải phóng.Một trong những nhiệm vụ hàng đầu của Ty vẫn là tổ chức vận động học sinh đi học, giúp đỡ nhà trường tu sửa trường lớp, biên soạn chương trình giáo dục với trọng tâm là cổ động nhân dân tăng gia sản xuất, thi đua đóng góp sức người sức của chuẩn bị cho chiến dịch Tây Bắc.
Hòa bình được lập lại, yêu cầu về giáo dục của nhân dân ngày một cao, công tác giáo dục lại càng đòi hỏi phải nâng cao chất lượng dạy và học, mở mang thêm trường lớp. Đến năm 1954, tỉnh Sơn La đã mở thêm được 14 trường học, so với năm 1953 tăng lên 9 trường.Tỉnh cũng hoàn thành chỉnh huấn và bổ túc nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên. Nạn mù chữ dần được thanh toán. Để chuẩn bị cho việc thành lập khu tự trị, ngành giáo dục đã chủ trì việc nghiên cứu thống nhất chữ Thái. Tháng 11/1954 ngành giáo dục đã triệu tập một hội nghị gồm 78 đại biểu gồm các thân sỹ và nhân vật am hiểu chữ Thái để xây dựng chữ Thái thống nhất cho 16 châu ở Tây Bắc. Đồng thời tiến hành biên soạn tài liệu hướng dẫn và sách giáo khoa. Mặc dù đạt được một số thành tựu, song công tác giáo dục thời kỳ này cũng có một số hạn chế như còn ít chú ý tới các dân tộc vùng cao; trong giảng dạy còn chưa chú ý đến tâm lý trẻ em các dân tộc để áp dụng phương pháp thích hợp. Một bộ phận giáo viên còn chưa an tâm công tác, tư tưởng muốn về xuôi, thiếu tinh thần trách nhiệm.
Cho đến hết năm 1954, ngành giáo dục của tỉnh Sơn La vẫn bao gồm hai hệ: Giáo dục phổ thông và Bình dân học vụ.
- Hệ giáo dục phổ thông (gồm phổ thông và vỡ lòng)có ở tất cả các huyện với tổng số 14 trường với 23 lớp, trong đó có 15 lớp 1, 6 lớp 2 và 2 lớp 3 với tổng số 498 học sinh.Số lớp vỡ lòng trong 7 huyện có 160 lớp gồm 4.074 học sinh. Những lớp phổ thông và vỡ lòng trong tỉnh đều học chữ Quốc ngữ, chưa học chữ Thái và mới phát triển chủ yếu ở vùng thấp, vùng cao chỉ có một số ít tham gia.
- Hệ bình dân học vụ: Gồm các lớp học chữ Quốc ngữ và lớp học chữ Thái. Lớp học chữ Quốc ngữ dành cho cán bộ xã (ủy ban xã, trưởng bản…) ở Châu Mộc có 3 lớp, Phù Yên có 6 lớp với 212 học viên. Đa số học viên đều đã biết đọc, biết viết. Riêng huyện Phù Yên còn có 1 lớp dự bị bình dân.Các lớp học chữ Thái có 1.298 học sinh ở 3 huyện Mường La, Sông Mã và Mai Sơn. Các học sinh đều đã biết đọc biết viết.Ngoài ra, bên cạnh các trường lớp chính quy do ngành giáo dục mở còn có các lớp học do nhân dân tổ chức. Loại hình nàytoàn tỉnh có 313 lớp với 6.447 học viên[5].
Việc đào tạo giáo viên cũng được mở rộng, năm 1954 toàn tỉnh cóthêm 472 giáo viên được đào tạo, cán bộ bình dân học vụ có 52 người. Phong trào giáo dục phổ thông và bình dân ở Sơn La nhìn chung phát triển hơn trước rất nhiều cả về số trường lớp và học sinh. Số người đi học trong toàn tỉnh năm 1954 là 12.559 so với dân số là 140.000, đạt tỷ lệ 8,9% dân số được đi học. Trong khoảng 3.000 cán bộ xã trong toàn tỉnh đã có khoảng 1.500 người biết đọc biết viết[6].Nhân dân các địa phương rất ham học và tích cựctham gia phong trào xóa nạn mù chữ, nhất là phong trào học chữ Thái. Nơi nơi, người dân đều phấn khởi nói rằng “Dưới chế độ Cụ Hồ con mình mới được đi học”.Phấn khởi nhất vẫn là một số gia đình có con em được học bổng. Họ nói: “Trước không những không được đi học mà còn phải đi hầu hạ cho con nhà phìa tạo; ngày nay được đi học, lại được Chính phủ trợ cấp nên nhân dân rất tin phục Chính phủ”.
Từ phong trào Bình dân học vụ nhỏ bé sau Cách mạng tháng Tám, ngành giáo dục Sơn La đã có những bước tiến vượt bậc và đóng góp to lớn cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, là nền tảng cho giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên của tỉnh sau này. Mặc dù còn non trẻ, hoạt động trong điều kiện khó khăn, song nền giáo dục Sơn La thời kỳ 1945-1954 đã chứng tỏ là nền giáo dục dân chủ, của dân, do dân, vì dân theo nguyên tắc: dân tộc, khoa học, đại chúng. Tuy mới thu được một số thành tựu ban đầu, song nền giáo dục mới đã có tác dụng tích cực, góp phần tạo nên nguồn nhân lực có chất lượng, xây dựng, củng cố niềm tin của nhân dân vào chế độ mới, thúc đẩy cuộc kháng chiến, kiến quốc đi tới thắng lợi và chuẩn bị cơ sở cho sự nghiệp giáo dục, đào tạo của Sơn La trong các thời kỳ sau./.
#HSL

 



[1] Báo cáo Tam cá nguyệt thứ 3 (tháng 7,8,9) năm 1948 của Đảng bộ Sơn La, lưu tại Hội Khoa học Lịch sử Sơn La.
[2] Báo cáo Tam cá nguyệt thứ nhất (tháng 1, 2, 3) năm 1949 của Đảng bộ Sơn La lưu tại Hội Khoa học Lịch sử Sơn La.
[3] Lò Văn San là giáo học trường Tiểu học tại tỉnh lỵ, có tư tưởng yêu nước và thường tuyên truyền, giáo dục tỉnh thần đấu tranh cho học sinh. Sau cách mạng ông được bầu Ủy viên lâm thời, UBHC tỉnh Sơn La năm 1945. Sau này làm Trưởng ty giáo dục Khu tự trị Thái – Mèo.
[4] Hà Văn Án, người Mường Chanh, Mai Sơn, là thí sinh duy nhất thi đỗ Tiểu học Pháp – Việt năm 1931, sau được bổ làm giáo học ở Suối Rút, Hòa Bình. Năm 1974 là Chủ tịch UBMTTQ tỉnh Sơn La
[5] Báo cáo công tác năm 1954 của Đảng bộ tỉnh Sơn La, lưu tại Hội Khoa học Lịch sử Sơn la.
[6] Sđd.

 

Số lần đọc : 301   Cập nhật lần cuối: 10/06/2020

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 9883534

Số người Onlne: 10