Nghiên cứu → Giáo dục - Đào tạo

Những thay đổi lớn về chính sách đất đai trong giai đoạn mới


 



Những thay đổi lớn về chính sách đất đai trong giai đoạn mới
 
Ngày 16/6/2022, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao". 
Thực hiện Nghị quyết của Trung ương, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường nghiên cứu soạn thảo Luật Đất đai (sửa đổi).
Theo kế hoạch, dự án Luật Đất đai (sửa đổi) sẽ được đưa ra Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp vào tháng 10/2022 và tháng 5/2023; dự kiến thông qua tại kỳ họp tháng 10/2023...
Dự thảo luật hiện đang được lấy ý kiến tham gia của các cấp, các ngành và cá nhân liên quan. Khi Dự thảo luật đã được bổ sung hoàn thiện sẽ đưa ra lấy ý kiến rộng rãi của toàn dân.
Đổi mới, hoàn thiện chính sách đất đai là vấn đề lớn và bức thiết. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta đã phát biểu, đại ý, nhiều người giàu lên vì đất đai, nhưng cũng nhiều người nghèo đi vì đất đai. Khiếu kiện nhiều nhất, phức tạp nhất cũng về đất đai. Nhiều cán bộ sai phạm, bị xử lý kỷ luật, bị đi tù cũng vì đất đai. Mất đoàn kết, chia rẽ nội bộ cũng vì đất đai. Mất anh em cũng vì đất đai... Các chuyên gia cho rằng, đất đai là nguồn lực cực kỳ quan trọng, nhưng đang bị sử dụng lãng phí, làm phát sinh nhiều tiêu cực, vướng mắc. Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, để nước ta đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, tiến tới phồn vinh, hạnh phúc  thì phải đổi mới và hoàn thiện thể chế, chính sách đất đai.
 Đất đai là vấn đề nhạy cảm, phức tạp liên quan đến mọi cấp, mọi ngành, mọi tổ chức, doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân, liên quan đến quá khứ - hiện tại - tương lai.Để hoàn thiệnLuật Đất đai (sửa đổi) phải trên cơ sở tổng kết, khảo sát thực tế, thu hút nhiều kênh tham gia, tư vấn, phản biện.  
Đây là dịp hệ thống Liên hiệp các Hội Khoa học & Kỹ thuật và các hội thành viên phát huy trách nhiệm, tâm huyết để đóng góp ý kiến.
Xin giới thiệu tóm tắt những điểm mới trong Nghị quyết 18/TW và trong Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) để các bạn quan tâm tham khảo.
 
 
Tổng hợp Điểm mới tại Nghị quyết 18-NQ/TW năm 2022 về chính sách đất đai
 
Điểm mới trong Dự thảo Luật Đất đai 2023
 
1. Hoàn thành sửa đổi Luật Đất đai năm 2013 và các luật khác có liên quan đến năm 2025, định hướng đến năm 2030
Cụ thể, Ban Chấp hành Trung ương yêu cầu đến năm 2023 phải hoàn thành sửa đổi Luật Đất đai 2013 và một số luật liên quan, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất. 
Giải quyết cơ bản những tồn tại, vướng mắc có liên quan đến quản lý và sử dụng đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh; đất quốc phòng, an ninh kết hợp với sản xuất và xây dựng kinh tế; đất của các cơ sở sản xuất, đơn vị sự nghiệp đã di dời khỏi trung tâm các đô thị lớn; đất lấn biển; đất tôn giáo; đất nghĩa trang; đất kết hợp sử dụng nhiều mục đích; đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số…
 
2. Bỏ khung giá đất, có phương pháp xác định giá đất theo nguyên tắc thị trường
Để hoàn thiện cơ chế xác định giá đất, Nghị quyết
 Trung ương quy định: Bỏ khung giá đất, có cơ chế, phương pháp xác định giá đất theo nguyên tắc thị trường, quy định chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của cơ quan có nhiệm vụ xác định giá đất.
(Hiện hành, khung giá đất được quy định tại Nghị định 96/2019/NĐ-CP , là cơ sở để các địa phương ban hành bảng giá đất cho giai đoạn 2020-2024).
Trung ương xây dựng tiêu chí và quy trình kiểm tra, giám sát các địa phương trong việc xây dựng bảng giá đất. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định và kiểm tra, giám sát việc thực hiện giá đất. 
Có cơ chế hữu hiệu để nâng cao chất lượng công tác định giá đất, bảo đảm tính độc lập của hội đồng thẩm định giá đất, năng lực của tổ chức tư vấn xác định giá đất, năng lực và đạo đức của các định giá viên. Bổ sung, hoàn thiện các quy định bảo đảm công khai, minh bạch như: Công khai giá đất, bắt buộc giao dịch qua các sàn giao dịch, thanh toán qua ngân hàng, không dùng tiền mặt; Xử lý nghiêm các vi phạm…
 
3. Đánh thuế cao hơn đối với người sở hữu nhiều nhà, đất
 
Nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính về đất đai, Ban Chấp hành Trung ương yêu cầu quy định mức thuế cao hơn đối với người sử dụng nhiều diện tích đất, nhiều nhà ở, đầu cơ đất, chậm sử dụng đất, bỏ đất hoang. 
Đồng thời, có chính sách ưu đãi thuế, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phù hợp với lĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu tư; đối với hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, gia đình người có công với cách mạng; những địa phương được quy hoạch sản xuất nhằm bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, bảo vệ các loại rừng, nhất là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng…
(Hiện hành, chính sách ưu đãi thuế, tiền sử dụng đất đối với hộ nghèo thực hiện theo quy định tại Điều 11  Nghị định 45/2014/NĐ-CP; đối với người có công thực hiện theo quy định tại Nghị định 131/2021/NĐ-CP.)
 
4. Giao đất, cho thuê đất chủ yếu thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất
Nghị quyết 18-NQ/TW quy định trong thời gian tới sẽ thực hiện việc giao đất, cho thuê đất chủ yếu thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất. 
Đồng thời, quy định cụ thể về đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất;
Hạn chế và quy định chặt chẽ các trường hợp giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất; 
Bảo đảm công khai, minh bạch, có cơ chế đồng bộ, cụ thể để xử lý vi phạm quy định về giao đất, cho thuê đất, nhất là liên quan tới đấu giá quyền sử dụng đất và đấu thầu dự án có sử dụng đất.
(Hiện nay, việc cho thuê đất chủ yếu thực hiện theo Điều 56 Luật Đất đai 2013 )
 
5. Cơ sở tôn giáo sử dụng đất vào mục đích khác phải trả tiền thuê đất theo quy định
Hiện nay, Điều 54 Luật Đất đai 2013 quy định cơ sở tôn giáo sử dụng đất phi nông nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 159 Luật Đất đai 2013 thuộc đối tượng được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất. 
Tuy nhiên, theo Nghị quyết 18-NQ/TW thì trong tương lai, việc giao đất cho cơ sở tôn giáo được quy định theo hướng như sau:
- Nhà nước thực hiện giao đất có hạn mức không thu tiền sử dụng đất đối với đất sử dụng làm cơ sở thờ tự, trụ sở của các tổ chức tôn giáo. 
 
- Các tổ chức tôn giáo sử dụng đất vào mục đích khác phải trả tiền thuê đất cho Nhà nước theo quy định của pháp luật. 
- Quy định điều kiện giao đất, cho thuê đất, hạn mức sử dụng đối với các tổ chức tôn giáo phù hợp với quỹ đất hiện có của địa phương.
 
6. Sắp có quy định cụ thể bồi thường, hỗ trợ tái định cư nếu người dân bị thu hồi đất
Cụ thể, Nghị quyết 18-NQ/TW quy định đối với trường hợp thu hồi đất mà phải bố trí tái định cư thì phải hoàn thành bố trí tái định cư trước khi thu hồi đất. 
Việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải đi trước một bước, bảo đảm công khai, minh bạch, hài hòa lợi ích của Nhà nước, người có đất bị thu hồi và nhà đầu tư theo quy định của Hiến pháp và pháp luật; 
Đồng thời, có quy định cụ thể về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để sau khi thu hồi đất thì người dân có đất bị thu hồi phải có chỗ ở, bảo đảm cuộc sống bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ.
(Hiện nay, việc bồi thường sau khi người dân bị thu hồi đất thực hiện theo quy định từ Điều 88 - 92 Luật Đất đai 2013 )
 
7. Mở rộng đối tượng, hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp
Theo quy định hiện hành, hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân quy định tại Điều 44 Nghị định 43/2014/NĐ-CP.
Trong tương lai sẽ ban hành quy định mở rộng đối tượng, hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp phù hợp với đặc điểm, điều kiện của từng vùng, địa phương, với việc chuyển đổi nghề, việc làm, lao động ở nông thôn.
Đồng thời, xây dựng quy định về ngân hàng cho thuê đất nông nghiệp. 
Xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp và tổ chức thực hiện thu hồi đất giao khoán không đầu tư từ các công ty nông, lâm nghiệp về địa phương quản lý và thực hiện giao đất, cho thuê đất theo quy định, phù hợp với điều kiện của từng địa phương, vùng, miền. 
Có chính sách phù hợp để ưu tiên giao đất cho đồng bào dân tộc thiếu đất sản xuất, cùng với các cơ chế hiệu quả để ngăn chặn người dân chuyển nhượng sau khi được giao đất.
 
8. Quy định chế độ sử dụng đất xây dựng công trình trên không, công trình ngầm, đất hình thành từ hoạt động lấn biển
Đây là một trong những điểm mới được nhắc đến tại Nghị quyết 18-NQ/TW . Theo đó, Ban Chấp hành Trung ương chủ trương:
- Bổ sung, hoàn thiện các quy định đối với quản lý, sử dụng đất quốc phòng, an ninh trên cơ sở tổng kết việc thí điểm một số chính sách để tháo gỡ vướng mắc, tồn đọng trong quản lý, sử dụng đất quốc phòng, an ninh kết hợp với sản xuất và xây dựng kinh tế. 
- Bổ sung các quy định về đất ở kết hợp với thương mại, dịch vụ; đất nông nghiệp kết hợp với thương mại, dịch vụ; đất dự án du lịch có yếu tố tâm linh. 
- Quy định chế độ sử dụng đất xây dựng công trình trên không, công trình ngầm, đất hình thành từ hoạt động lấn biển.
 
Về cơ bản, bố cục của Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) được sắp xếp như Luật Đất đai 2013, tuy nhiên có tăng thêm 02 chương về phát triển quỹ đất và tách chương thu hồi đất, trưng dụng đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư thành 2 chương.
Theo đó Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), gồm 237 điều, trong đó giữ nguyên 48 điều; sửa đổi, bổ sung 153 điều; bổ sung mới 36 điều và bãi bỏ 8 điều so với Luật Đất đai 2013.
 
(1) Bỏ quy định về khung giá đất, sẽ xác định giá đất theo nguyên tắc thị trường?
Theo pháp luật hiện hành thì khung giá đất được quy định tại Điều 113 Luật Đất đai 2013 khi Chính phủ sẽ ban hành khung giá đất định kỳ 05 năm một lần đối với từng loại đất, theo từng vùng.
Đến Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã bỏ quy định về khung giá đất, thay vào đó, việc định giá đất sẽ xác định theo những nguyên tắc tại Điều 12, Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) và Nhà nước sẽ ban hành bảng giá đất và quyết định giá đất cụ thể theo Điều 130 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), cụ thể:
 
"Điều 129. Nguyên tắc, phương pháp định giá đất
 
1. Việc định giá đất phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:
 
...
 
c) Phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường trong điều kiện bình thường;
 
...
 
2. Chính phủ quy định cụ thể về quy chuẩn, phương pháp định giá đất, quy trình kiểm tra, giám sát việc xây dựng bảng giá đất và định giá đất cụ thể."
Như vậy, Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã bỏ quy định về khung giá đất, thay vào đó Nhà nước sẽ quy định nguyên tắc, phương pháp định giá đất và ban hành bảng giá đất và quyết định giá đất cụ thể.
 
(2) Thực hiện công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất?
Dự thảo đã bổ sung quy định mới về việc công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại Điều 50 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi). Theo đó, những quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt phải được công bố công khai.
Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm công bố công khai quy hoạch theo quy định.
Thời điểm, thời hạn công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng là trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyêt, phải thực hiện việc công bố công khai.
 
(3) Việc giao đất, cho thuê đất sẽ được thực hiện chủ yếu thông qua đấu giá quyền sử dụng đất?
Theo Điều 52 Luật Đất đai 2013 quy định căn cứ để giao đất, cho thuê đất như sau:
 
“Điều 52. Căn cứ để giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất
 
1. Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
 
2. Nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất”.
Tuy nhiên đến Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), việc giao đất, cho thuê đất sẽ được thực hiện chủ yếu thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất để tăng thu ngân sách nhà nước và huy động các nguồn lực xã hội đối với các dự án đầu tư có tính chất điểm nhấn. Tạo động lực phát triển về hạ tầng đồng bộ, về kiến trúc.
Cụ thể Điều 54, Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) quy định:
 
“Điều 54. Căn cứ để giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất
 
1. Kết quả đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất.
 
2. Trường hợp giao đất, cho thuê đất không đấu giá quyền sử dụng đất, không đấu thầu dự án có sử dụng đất; trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất:
 
…”
Ngoài ra, Dự thảo cũng quy định các tiêu chí cụ thể khi giao đất, cho thuê đất thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất và không thông qua đấu giá, đấu thầu
Trường hợp cho thuê đất trả tiền một lần, cho thuê đất trả tiền hàng năm để đảm bảo dễ thực thi, dễ kiểm tra, dễ giám sát và nguồn thu ổn định, tạo điều kiện cho người sử dụng đất chủ động hạch toán sản xuất kinh doanh.
 
(4) Hoàn thiện nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: Nội dung quy hoạch phải gắn với không gian, phân vùng sử dụng đất và hệ sinh thái tự nhiên?
Điều 37, Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã bổ sung, hoàn thiện các nguyên tắc khi lập quy hoạch kế hoạch sử dụng đất so với quy định tại Điều 35 Luật Đất đai 2013. Cụ thể:
 
"Điều 37. Nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
 
1. Quy hoạch sử dụng đất quốc gia, các quy hoạch quốc gia và các quy hoạch ngành lĩnh vực có sử dụng đất phải đảm bảo phù hợp, thống nhất, đồng bộ, gắn kết chặt chẽ, thúc đẩy lẫn nhau phát triển.
 
...
 
3. Nội dung quy hoạch sử dụng đất phải kết hợp giữa chỉ tiêu sử dụng các loại đất gắn với không gian, phân vùng sử dụng đất, hệ sinh thái tự nhiên. Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện thể hiện đến từng thửa đất.
 
...”
Đây là nội dung mới so với quy định tại Luật Đất đai 2013 nhằm hoàn thiện, đồng bộ các chế định cho xây dựng hệ thống quy hoạch sử dụng đất đai tại Việt Nam.
 
(5) Phân cấp cho các địa phương trong quản lý, sử dụng đất đai?
Điều 223 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã quy định về phân cấp thẩm quyền cho các địa phương trong theo dõi và đánh giá đối với quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn. Đây là quy định mới chưa từng có trong Luật Đất đai 2013.
Cụ thể, Dự thảo đã thiết lập các cơ chế quản lý thống nhất của Trung ương thông qua quy định về hệ thống thông tin đất đai, cơ sở dữ liệu về đất đai thống nhất tập trung quản lý mọi biến động của từng thửa đất;
Xây dựng các cơ chế giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong tổ chức thực thi chính sách, pháp luật được giao ở từng cấp tại Điều 221 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi).
 
"Điều 223. Theo dõi và đánh giá đối với quản lý và sử dụng đất đai
 
...
 
4. Trách nhiệm thực hiện theo dõi và đánh giá
 
a) Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm giúp Chính phủ theo dõi và đánh giá đối với việc quản lý và sử dụng đất của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; việc sử dụng đất đối với các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư, Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư mà phải thu hồi đất;
 
b) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thực hiện theo dõi, đánh giá việc quản lý và sử dụng đất đai đối với cấp huyện trực thuộc; đánh giá việc quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn tỉnh;
 
c) Ủy ban nhân dân cấp huyện tổ chức thực hiện theo dõi, đánh giá việc quản lý và sử dụng đất đai đối với cấp xã trực thuộc; đánh giá việc quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn huyện;
 
d) Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện theo dõi, đánh giá việc quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn xã.
 
(6) Việc thu hồi đất ở chỉ được thực hiện sau khi hoàn thành bố trí tái định cư, trừ trường hợp tái định cư tại chỗ?
Việc lập và thực hiện dự án tái định cư được quy định tại Điều 85 Luật Đất đai 2013 như sau:
 
"Điều 85. Lập và thực hiện dự án tái định cư
 
1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm tổ chức lập và thực hiện dự án tái định cư trước khi thu hồi đất.
 
2. Khu tái định cư tập trung phải xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, phù hợp với điều kiện, phong tục, tập quán của từng vùng, miền.
 
3. Việc thu hồi đất ở chỉ được thực hiện sau khi hoàn thành xây dựng nhà ở hoặc cơ sở hạ tầng của khu tái định cư.
Tuy nhiên, tại Điều 93 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã sửa đổi khoản 3 Điều 85 Luật Đất đai 2013. Theo đó, việc thu hồi đất ở chỉ được thực hiện sau khi hoàn thành bố trí tái định cư, trừ trường hợp tái định cư tại chỗ.
Sự thay đổi này đã đảm bảo giải quyết hài hòa lợi ích giữa người sử dụng đất, Nhà nước, nhà đầu tư thông qua chính sách bồi thường, giải quyết vấn đề an sinh bền vững cho người có đất bị thu hồi.
Ngoài ra, để giải quyết tình trạng chậm triển khai dự án do chậm bàn giao mặt bằng, Điều 100 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã quy định thẩm quyền tách dự án đầu tư cho cơ quan quyết định chủ trương đầu tư dự án UBND cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo tổ chức thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư sau khi dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền tách thành dự án độc lập.
 
(7) Quy định mới về ngân hàng đất nông nghiệp? Mở rộng hạn mức, đối tượng được nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp?
Luật Đất đai sửa đổi tiếp tục hoàn thiện các quyền, nhất là quyền chuyển nhượng, thế chấp quyền thuê trong hợp đồng thuê đất trả tiền hàng năm.
Ngoài ra, Điều 145, Điều 146 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã mở rộng hạn mức, đối tượng được nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp để thúc đẩy thương mại hoá quyền sử dụng đất, vốn hóa thị trường, phát huy nguồn lực đất đai.
Bên cạnh đó, Dự thảo đã có quy định mới về ngân hàng đất nông nghiệp tại Điều 106 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) cùng các cơ chế ngân hàng cho thuê đất nông nghiệp để thuận tiện cho người có nhu cầu đất dùng sản xuất nông nghiệp và nông dân chuyển đổi linh hoạt cơ cấu cây trồng, vật nuôi, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo quy hoạch.
 
(8) Đất đai được kết hợp sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau để làm tăng hiệu quả sử dụng đất?
Dự thảo đã có quy định mới về đất sử dụng đa mục đích tại Điều 184 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), theo đó:
Đất đai được kết hợp sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau để làm tăng hiệu quả sử dụng đất. Ví dụ đất đa mục đích đất nông nghiệp kết hợp với thương mại, dịch vụ; đất quốc phòng, an ninh kết hợp với lao động sản xuất, xây dựng kinh tế, đất tôn giáo kết hợp với mục đích khác; đất có mặt nước sử dụng đa mục đích.
Tuy nhiên, việc sử dụng đất sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau phải bảo đảm các nguyên tắc tại khoản 2 Điều 184 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi):
 
"Điều 184. Đất sử dụng đa mục đích
 
2. Việc sử dụng đất sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:
 
a) Phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép;
 
b) Không làm thay đổi mục đích sử dụng đất chính;
 
c) Không làm ảnh hưởng đến việc bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên, đa dạng sinh học, cảnh quan môi trường;
 
d) Không làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của các thửa đất liền kề;
 
đ) Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính theo quy định;
 
e) Phải tuân thủ các pháp luật chuyên ngành.
                            
                                                                           Phan Đức Ngữ
 
                                                             Nguồn: thuvienphapluat và internet
 
 
 

Số lần đọc : 250   Cập nhật lần cuối: 20/09/2022

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 13130974

Số người Onlne: 26