Nghiên cứu → Đa chiều

Những sự nhầm lẫn cần được xem xét


 



Những sự nhầm lẫn cần được xem xét
         
Ở một số tỉnh, thành phố (Gọi chung là tỉnh) đang có sự nhẫm lẫn trong xác định nhiệm vụ (Đề tài, dự án, đề án) KHCN cấp tỉnh, xét công nhận sáng kiến cấp tỉnh, xét tặng giải thưởng KHCN cấp tỉnh.
1. Xác định nhiệm vụ KHCN cấp tỉnh
Xác định nhiệm vụ KHCN hàng năm là khâu đầu tiên và là khâu quan trọng nhất. Đây là khâu xem xét quyết định chủ trương đầu tư đề tài, dự án, đề án, cơ cấu các lĩnh vực, các ngành. Chủ trương đầu tư đúng sẽ quyết định rất lớn đến hiệu quả đầu tư, ngược lại hiệu quả thấp, thậm chí không hiệu quả. Việc xác định danh mục nhiệm vụ KHCN được thực hiện thông qua Hội đồng tư vấn. Công việc của Hội đồng là lựa chọn danh mục, chuẩn xác tên, mục tiêu, nội dung, dự kiến sản phẩm của từng nhiệm vụ. Vì vậy, chất lượng danh mục nhiệm vụ KHCN cấp tỉnh phụ thuộc rất lớn vào sự đánh giá, lựa chọn khách quan, khoa học của Hội đồng.
Theo quy định phân loại của Bộ KHCN (Tại Thông tư số 12/2008/QĐ-BKHCN) thì có 6 lĩnh vực KHCN, gồm: (1) Khoa học tự nhiên; (2) Khoa học kỹ thuật và công nghệ; (3) Khoa học y, dược; (4) Khoa học nông nghiệp; (5) Khoa học xã hội; (6) Khoa học nhân văn. Mỗi lĩnh vực gồm 5-10 ngành khoa học. Mỗi ngành KHCN lại gồm 10-20 chuyên ngành… Thông tư số 07/2014/TT-BKHCN của Bộ KH&CN quy định về trình tự, thủ tục xác định nhiệm vụ khoa học cấp quốc gia sử dụng ngân sách nhà nước. Theo đó, Hội động tư vấn được tổ chức theo chuyên ngành KHCN, mỗi đề xuất đặt hàng phải có 02 phản biện am hiểu về lĩnh vực chuyên môn của nhiệm vụ đề xuất.
          Phần lớn các tỉnh vận dụng thực hiện đúng. Nhưng cũng còn không ít tỉnh theo “truyền thống” thành lập ba Hội đồng tư vấn theo ba khối: Khối các ngành nông lâm nghiệp, bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm sinh, công nghệ sinh học... Khối các ngành công nghiệp, xây dựng, tài nguyên môi trường, công nghệ thông tin và các ngành khác... Khối các ngành xã hội, bao gồm các ngành xã hội, nhân văn, y tế, giáo dục & đào tạo, văn hóa, lịch sử, quản lý kinh tế xã hội... Tổ chức hội đồng theo khối nhiều ngành KHCN cấp I, nhiều lĩnh vực KHCN nói trên là quá rộng, không thể bảo đảm cơ cấu thành viên theo quy định; số lượng hồ sơ mỗi khối quá nhiều (Hàng chục cái) vượt quá khả năng hiểu biết của các  thành viên hội đồng, trong khi thời gian làm việc của hội đồng thường chỉ có 01 buổi. Điều đáng nói nhất là thành phần ủy viên phản biện. Theo quy định, mỗi đề xuất đặt hàng có 02 phản biện. Nhưng nhiều tỉnh quyết định mỗi hội đồng tư vấn có 02 phản biện chung và Hội đồng tiến hành xác định nhiệm vụ ngay từ phiên họp đầu tiên. Dẫn đến một  ủy viên phản biện (Chỉ am hiểu sâu 1 ngành) lại đi phán (nhận xét, đánh giá) cho hàng chục hồ sơ của hàng loạt ngành, lĩnh vực KHCN  khác nhau. Có thể nói, đây là sự nhầm lẫn “chết người”, làm cho việc lựa chọn danh mục, xác định tên, mục tiêu, nội dung nghiên cứu, dự kiến sản phẩm KHCN của từng nhiệm vụ đặt hàng rất khó đảm chuẩn xác.
Đúng ra, địa phương quyết định thành lập hội đồng theo từng chuyên ngành. Nếu thành lập hội đồng đa ngành thì cũng chỉ gồm những ngành có liên quan đến nhau trong cùng một lĩnh vực. Quyết định thành lập hội đồng, gồm số lượng, thành phần (Chủ tịch, Thư ký, các ủy viên), không vội đưa danh tính 02 ủy viên phản biện vào quyết định. Phiên họp đầu tiển của Hội đồng là công bố quyết định thành lập hội đồng, thống nhất chương trình, phương thức làm việc, giao nhận hồ sơ, phân công phản biện (Mỗi hồ sơ chọn 02 ủy viên phản biện có chuyên môn liên quan đến hồ sơ). Nếu hội đồng không đủ người để phân công phản biện thì trưng tập thêm chuyên gia (Không nhất thiết phải nằm trong Hội đồng). Phiên thứ hai hội đồng mới đi vào phân tích, thảo luận, đánh giá, bỏ phiếu lựa chọn danh mục nhiệm vụ, chuẩn xác tên, mục tiêu, nội dung, dự kiến sản phẩm của từng nhiệm vụ.
Việc đề xuất đặt hàng nhiệm vụ KHCN và tổ chức Hội đồng tư vấn xác định danh mục, nhà nước (Trực tiếp là Bộ KHCN) không quy định bắt buộc mấy đợt trong năm. Nhưng thực tế, việc này được Bộ KHCN và các Bộ, Ngành Trung ương từ trước đến nay đều tổ chức làm nhiều đợt (2-4 đợt) trong năm. Một số tỉnh cũng vận dụng như vậy. Tuyển chọn đợt này chưa đủ số lượng thì tuyển chọn tiếp đợt sau, không hạ thấp tiêu chuẩn. Nhưng nhiều tỉnh vẫn chỉ tổ chức 01 đợt trong năm. Nếu “làm rắn”, chọn được ít thì không rải ngân hết tiền ngân sách đã bố trí. Chẳng lẽ trả lại ngân sách hoặc tăng quy mô vốn cho từng đề tài? Dẫn đến, ngoài số nhiệm vụ thực sự cần thiết, xứng đáng đầu tư, thì không ít nhiệm vụ đành phải cho đủ số lượng (Đã được ấn định trước). Đây chưa phải là sự nhầm lẫn, nhưng cũng cần được cân nhắc điều chỉnh.
2. Xét đề tài khoa học/sáng kiến phục vụ thi đua khen thưởng
Rất nhiều danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng và danh hiệu vinh dự đều đòi hỏi điều kiện sáng kiến/đề tài (Trừ trường hợp có thành tích đột xuất đặc biệt xuất sắc mới không đòi hỏi sáng kiến/đề tài).
Điều kiện sáng kiến/đề tài được quy định tại Luật Thi đua khen thưởng, Nghị định của Chính phủ và Thông tư hướng dẫn của Bộ Nội vụ. Theo đó,  sáng kiến/đề tài phải được áp dụng, mang lại hiệu quả thiết thực, phạm vi áp dụng và mức độ ảnh hưởng phải tương ứng với danh hiệu thi đua và các hình thức khen thưởng (cấp cơ sở, cấp tỉnh, cấp b ngành, cấp toàn quốc). Nhưng các tỉnh vận dụng rất khác nhau, không ít tỉnh đã có sự nhầm lẫn.
Nghiên cứu khoa học cấp tỉnh là nghiên cứu ứng dụng, hầu như không có nghiên cứu cơ bản. Sự nhầm lẫn ở đây là địa phương đã không căn cứ vào phạm vi, hiệu quả ứng dụng, tầm ảnh hưởng của đề tài sau khi được nghiệm thu, mà lấy mức xếp hạng của đề tài ở thời điểm nghiệm thu. Mức “Đạt” thì xét Thi đua khen thưởng (TĐKT) cấp cơ sở. Mức “Khá” trở lên thì xét danh hiệu TĐKT cấp tỉnh và đề nghị xét TĐKT cấp toàn quốc (Mặc dù, mấy năm gần đây, nghiệm thu đề tài không còn chấm điểm và xếp theo 4 hạng: Không đạt, Đạt, Khá, Xuất sắc, mà bỏ phiếu xếp theo 3 mức: Không đạt, Đạt, Xuất sắc, tức là Không còn hạng Khá).
Sự nhầm lẫn cũng đã xảy ra trong xét sáng kiến. Dẫn đến chồng chéo với xét công nhận sáng kiến theo Nghị định 13/2012/NĐ-CP của Chính phủ về Điều lệ sáng kiến và Thông tư 18/2013/TT-BKHCN của Bộ KH&CN. Theo Nghị định và Thông tư  thì sáng kiến phát sinh ở đâu do Thủ trưởng đơn vị ở đó thành lập hội đồng xét công nhận trên cơ sở đánh giá  tính mới, hiệu quả áp dụng hoặc áp dụng thử, triển vọng… Sáng kiến có giá trị bản quyền và được hưởng thù lao khi áp dụng (Chủ yếu đối với lĩnh vực sản xuất kinh doanh). Còn “sáng kiến cấp tỉnh”, “sáng kiến cấp toàn quốc” là  cách nói tắt khi xét để phục vụ TĐKT. Theo quy định của nhà nước, không có “cấp” sáng kiến, tức là không có sáng kiến “cấp tỉnh”, sáng kiến “cấp toàn quốc”. Việc xét sáng kiến theo hệ thống TĐKT là xét phạm vi, hiệu quả ứng dụng, tầm ảnh hưởng của sáng kiến sau khi được cơ sở công nhận. Nhưng không ít tỉnh đã tổ chức hội đồng đánh giá lại tính mới, khả năng và hiệu quả áp dụng sáng kiến ở tầm “cấp tỉnh” bằng biểu điểm, thang điểm rất phức tạp, mỗi đợt kéo dài hàng tuần. Cuối cùng UBND tỉnh ra quyết định công nhận “sáng kiến cấp tỉnh”. Đúng ra, địa phương định ra tiêu chí phạm vi ứng dụng và tầm ảnh hưởng của sáng kiến là có thể xét được. Ví dụ, sáng kiến để được công nhận có ảnh hưởng ở tầm cấp tỉnh thì phải được ứng dụng ở phạm vi nào trở lên. Và giấy chứng nhận là chứng nhận phạm vi ảnh hưởng (cấp tỉnh) của sáng kiến (Sáng kiến đã được cơ sở chứng nhận và áp dụng), chứ không chứng nhận “sáng kiến cấp tỉnh”.
Xin giới thiệu một mẫu giấy chứng nhận được cho là phù hợp của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
 
 
 
UBND TỈNH
 
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc 

 
GIẤY CHỨNG NHẬN
Sáng kiến/kết quả nhiệm vụ khoa học và công nghệ có phạm vi ảnh hưởng
(cấp tỉnh, cấp toàn quốc)
 
CHỦ TỊCH UBND TỈNH
CHỨNG NHẬN
 
Tên tác giả (đồng tác giả): ……………………
Đơn vị: ……………………………………………
Có giải pháp( tên giải pháp)……………………
Được công nhận là sáng kiến/kết quả nhiệm vụ khoa học và công nghệ
Có phạm vi ảnh hưởng( cấp tỉnh, cấp toàn quốc), năm...( năm chứng nhận)
 
Số quyết định ……
………….., ngày ….. tháng ….. năm …..
CHỦ TỊCH
(Chữ ký, họ tên; ghi rõ chức vụ và đóng dấu nếu có)
 
 
3. Xét tặng giải thưởng KHCN cấp tỉnh         

          Một số địa phương nhầm lẫn về điều kiện của công trình khoa học và ủy viên phản biện.  

         Theo Nghị định 78/2014 NĐ-CP về giải thưởng KHCN các cấp, một trong những điều kiện cơ bản của công trình được xét tặng giải thưởng KHCN cấp tỉnh là Công trình được công bố ít nhất 1 năm “hoặc” ứng dụng ít nhất 1 năm. Ngoài Nghị định 78, cần nghiên cứu kỹ Thông tư 31/2014/TT-BKHCN và các biểu mẫu hướng dẫn hồ sơ thì  mới hiểu đúng nội hàm chữ “hoặc” ở đây là áp dụng một trong hai điều kiện phù hợp với từng nhóm công trình. Công trình nghiên cứu khoa học thì yêu cầu công bố là bắt buộc, còn “ứng dụng” được khuyến khích; Ngược lại công trình nghiên cứu, phát triển công nghệcông trình ứng dụng công nghệ thì yêu cầu ứng dụng là bắt buộc, còn “công bố” được khuyến khích. Những tỉnh áp dụng chung một trong hai điều kiện cho ba nhóm công trình là lẫn lộn và không đúng. 

         Đối với Hội đồng xét tặng giải thưởng KHCN cấp tỉnh, nhiều địa phương cũng có sự nhầm lẫn tương tự như Hội đồng tư vấn xác định nhiệm vụ KHCN. Cụ thể là khi quyết định thành lập Hội đồng xét tặng giải thưởng KHCN đã đưa danh tính 02 ủy viên phản biện vào danh sách. Như vậy không đúng với quy định của Thông tư 31 là Hội đồng các cấp phải có 02 ủy viên phản biện cho mỗi công trình. Sự nhầm lẫn này là sự nhầm lẫn “chết người”, buộc một ủy viên phản biện phải nhận xét, đánh giá cho hàng chục công trình xét tặng giải thưởng thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều ngành KHCN khác nhau. Dẫn đến số phận cuả các công trình xét tặng giải thưởng cao nhất ở địa phương không tránh khỏi sự đánh giá cảm tính từ phía ủy viên phản biện. Theo Nghị định 78 và thông tư 31, mỗi cấp hội đồng phải hop 02 phiên. Phiên đầu thông qua kế hoạch, phương thức làm việc, nhận hồ sơ, phân công nhiệm vụ, phân công các ủy viên phản biện. Ủy viên phản biện ở trong hội đồng và cần thiết thì trưng tập cả ngoài hội đồng  để bảo đảm mỗi công trình có 02 phản biện. Phiên thứ hai mới đánh giá, bỏ phiếu, xếp giải từng công trình.

       Hiện nay, Nghị định 78 đang được Chính phủ xem xét, hoàn thiện. Đây là dịp các địa phương vận dụng chuẩn xác hơn.

                                                                            Phan Đức
 
Tài liệu tham khảo: 
 

- Luật TĐKT( sửa đổi năm 2013), Nghị định 91/2017/NĐ-CP, Thông tư 08/2017/TT-BNV  của Bộ Nội vụ về TĐKT.
- Nghị định 13/2012/NĐ-CP, Thông tư 18/2013/2014/TT-BKHCN của Bộ KHCN về điều lệ sáng kiến. Thông tư 07/2014/TT-BKHCN của Bộ KHCN về xác định nhiệm vụ KHCN quốc gia.
 
   - Nghị định 78/2014/NĐ-CP, Thông tư 31/TT-BKHCN của Bộ KHCN về giải tưởng KHCN các cấp. 
- Quy định của UBND các tỉnh, thành phố về xác định nhiệm vụ KHCN cấp tỉnh, quy định xét công nhận sáng kiến cấp tỉnh, quy định về giải thưởng KHCN cấp tỉnh, quyết định thành lập các hội đồng tư vấn...( Nguồn internet).

 

 
 
 

Số lần đọc : 171   Cập nhật lần cuối: 18/09/2018

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 4424760

Số người Onlne: 27