Nghiên cứu → Văn hóa - Xã hội - Môi trường

Những phong tục kỳ thú ở Tây Nguyên


 



NHỮNG PHONG TỤC KỲ THÚ Ở TÂY NGUYÊN
 
Nguyễn Tấn Tuấn
 
 
Nhà Rông và nhà Dài
 

Nhà dài của người Ê  Đê

 

          Nhà Dài của đồng bào Tây nguyên thường có 2 cầu thang, một là “thang Cái’” dành riêng cho phụ nữ và khách quý lên xuống. Đỉnh của cầu thang được đẽo giống như mũi con thuyền, phía dưới có một vầng trăng khuyết và bộ ngực phụ nữ tượng trưng cho chế độ mẫu hệ. Cầu “thang Đực” nhỏ hơn và được đặt cách xa phía bên trái, có nhà thiết kế nhiều cầu thang Đực dành cho đàn ông trong gia đình. Bậc của 2 loại cầu thang thường có số lẻ :3,5,7 …
Điều thú vị là nếu bạn muốn biết gia đình nào có bao nhiêu con gái, hãy nhìn vào cửa sổ. Nhà nào có mấy cửa sổ thì có mấy nàng con gái, cửa sổ nào đóng kín nghĩa là cô con gái ấy chưa “bắt chồng”, còn cửa sổ nào mở có nghĩa là cô gái ấy đã “bắt chồng”. Bên trong nhà có những bộ cồng, chiêng, ná, ché rượu dụng cụ săn bắt voi rừng. Đặc biệt có hai chiếc ghế tượng trưng cho quyền lực của người phụ nữ và chỉ dành cho phụ nữ ngồi hoặc khách phụ nữ tới thăm nhà. Ghế được đẽo gọt từ cây gỗ quý chỉ có trong rừng sâu và nhất thiết phải do 7 người thợ làm ra, không được ghép hay đấu nối.
 
 
Lễ hội đâm trâu
 

 

Trong những dịp khánh thành nhà Rông, lễ cầu an, lễ xóa điềm gở cho buôn làng, hay hội hè…thì không thể thiếu lễ đâm trâu, một nghi thức thể hiện lòng tin với các vị thần, đặc biệt là Yàng hay Giàng (Trời). Lễ đâm trâu (còn gọi là lễ ăn trâu) thường kéo dài trong 3 ngày tại sân nhà Rông. Gần đến ngày tổ chức, một số trai tráng trong làng được phân công vào rừng chặt lá, tre, gỗ đem về làm cột dựng cây nêu và làm dàn tế thần.
Con trâu (vật hiến thần) được cột vào gốc nêu bằng dây rừng mềm và dẻo. Ngày đầu tiên của lễ đâm trâu bắt đầu bằng màn nhảy múa, đánh trống, khua chiêng của đồng bào xung quanh cây nêu. Chờ tới khi dân làng tề tựu đông đủ, già đến đứng gần cột Gingga cất giọng cầu khẩn các vị thần linh về chứng giám tấm lòng thành và nhận lễ vật làng dâng tặng.
Khi lễ xong là lúc tiếng cồng chiêng nổi lên vang động. Hai thanh niên trong làng cởi trần đóng khố, tay cầm gươm và khiên từ phía nhà Rông tiến tới gần cây nêu. Trong tư thế vờn nhau, 2 dũng sĩ cố tìm ra những điểm yếu của đối phương. Bất chợt xuất hiện một nhân vật thứ ba dáng vẻ oai phong mạnh mẽ hơn nhiều, tay cầm cây mác dài vờn con trâu. Bị khiêu khích, trâu bắt đầu lồng lên trong tiếng reo hò vang động của lũ làng vây chung quanh. Hai dũng sĩ diễn lại cuộc đọ sức với mức độ mỗi lúc một căng thẳng. Cuối cùng, một trong hai đối thủ đuối sức đanh buông dao và khiên, cúi xuống chịu bại trận. Người thắng trận được mọi người xung quanh hò reo tán thưởng. Tiếp theo là điệu múa của các cô gái Tây Nguyên và đêm lửa hồng bập bùng bên các ché rượu cần.
Khi ánh bình minh vừa rạng, dân làng tề tựu quanh cây nêu chuẩn bị chờ buổi lễ chính thức. Một thanh niên vạm vỡ cầm cây mác múa theo nhịp trống và giữa tiếng reo hò của lũ làng dùng các thế võ để đâm trâu. Sau đó hòa huyết trâu với rượu để cúng thần và cho dân làng cùng uống.  trâu được đem đi thui, xẻ thịt làm thức cúng, túi thiêng (Yang Kơdung) được đưa từ cây nêu xuống đàn tế và rửa bằng huyết trâu.
Ngày hội thứ ba, người già trong làng xẻ đầu trâu làm món cúng. Dân làng uống rượu tới khuya mới kết thúc. Ở một số dân tộc, sau lễ đâm trâu thì không được vào rừng, không tiếp khách lạ trong 3 ngày. Khi tới thăm nhà đồng bào Tây Nguyên, nếu thấy trước sân mỗi nàh có vài cây gạo mọc cao, thấp không đều thì đó chính là những cây nêu từng dùng để cột trâu tế lễ. Những cây ấy bây giờ đã đâm rễ, mọc lá và vẫn được coi là thiêng liêng. Chính vì vậy, khi vào bất kỳ nhà nào, bạn không nên chạm vào cây gạo trước nhà. Mỗi cây nêu là một con trâu bị giết để tế Yàng. Làng nào có nhiều cây gạo thì làng đó thường tổ chức lễ đâm trâu, hoặc có tinh thần đoàn kết cao.
 
Địa danh buôn Đôn
 
Buôn Đôn (tỉnh DakLak) có những cây si xanh um và mát rượi, đây là loài cây cổ thụ vẫn có thể sống dẻo dai trong nắng to, mưa lớn, có thể đương đầu với gió bão và những trận lũ quét ầm ầm từ thượng nguồn sông Sêrêpốk đổ về hằng năm. Theo già làng, những thân cây và chùm rễ khổng lồ ấy đã có từ hàng trăm, hàng nghìn năm trước.
 

Lễ cúng Bến nước

 

Đến buôn Đôn, ta được ngắm tận mắt, sờ tận tay và nghe tận tai câu chuyện về tàng si hiếm thấy, được đi dạo trên chiếc cầu treo luồn ngoằn ngoèo giữa đám rễ si dài hàng trăm mét hút tầm mắt. Đi giữa tấm mạng nhện khổng lồ ấy trong tiếng suối róc rách, bạn còn được nghe tiếng chim K’tia hót và đung đưa theo nhịp của chiếc cầu treo để đến đảo Ea Nô...
Truyền thuyết kể: “Xưa có một cô gái Ê đê bên này sông Sêrêpốk yêu một chàng trai M’Nông bên kia sông. Cha mẹ cô rất giàu, bắp đầy nhà, trâu đầy chuồng, ché rượu đầy vách... nên không chấp nhận chàng trai vì nhà chàng nghèo. Để được sống bên nhau suốt đời, cô gái trốn nhà cùng chàng trai. Cha mẹ cô gái sai người đuổi theo và bắt được, nhốt cô vào buồng. Tìm đủ cách nhưng không cứu được cô gái, chàng ngồi buồn bã rồi chết ngay bên dòng sông. Một thời gian sau, nơi ấy mọc lên một cây si nhỏ. Nhận tin, cô gái xót thương, khóc lóc nhiều ngày đổ bệnh rồi cũng hồn lìa khỏi xác bay đi tìm chàng trai.
Một ngày, phía bờ sông bên này cũng mọc lên một cây si nhỏ. Cứ thế, theo từng con trăng, hai cây si lan ra mép nước, vươn ra bờ bên kia để móc, đan vào nhau như 10 ngón tay thon nhỏ của cô gái được sự che chở từ 10 ngón tay gân guốc và ấm áp của chàng trai... Lâu dần, lũ làng Ê đê và M’Nông coi đó như một biểu tượng vĩnh cửu trong tình yêu của con trai, con gái buôn mình...”. Giờ đây, đi trên chiếc cầu treo ấy (được làm cách đây 6 năm bằng tre, nứa, lồ ô, dài trên 500m, bắc qua một trong 7 nhánh sông Sêrêpốk, đôi khi người ta vẫn cảm được hay chợt nghe thấy tiếng thì thầm, than vãn của đôi trai gái yêu nhau nhưng bạc mệnh thuở nào...
 
 
Lễ hội đua voi
 

 

Ở Tây nguyên hằng năm đều có tổ chức hội đua voi. Muốn dự hội, voi phải được cúng trước cổng buôn để Yàng (trời) đuổi con ma đi và mang thêm nhiều sức mạnh tới cho voi và các quản tượng. Ba ché rượu cần ngon nhất, gà, heo con thui (chia ba phần), rượu trộn huyết heo, cơm trắng, gạo sống là những thực phẩm dùng cho các thầy cúng, già làng làm lễ cúng trong tiếng cồng chiêng vang dội. Sau lễ cúng, các nài voi uống rượu cần, ăn thịt heo và đổ rượu lên đầu voi, khi ấy mới chính thức công nhận cho voi vào hội.
          Các nghi thức cúng bếp lửa, cầu nữ thần mặt trời theo phong tục của người M’nông, lấy lửa theo cách cổ xưa từ đá và từ tre, nứa. Đan xen trong đó là nghi lễ Gọi Yàng (Drông Yang): “Hỡi thần lửa, thần Mặt Trời! Hãy ban cho buôn làng ngọn lửa, cho con trai khỏe mạnh, con gái duyên dáng, cho trẻ con tiếng cười...ơi Yàng.”.
          Kết thúc lễ hội, tất cả mọi người cùng chung vui bên ché rượu cần, múa xoang quanh cột lễ, bếp lửa khổng lồ. Đặc biệt nhạc cụ dân tộc được làm bằng tre, nứa, âm thanh như tiếng đàn T’rưng gọi là tiển lúa về, mừng mùa mới, lúc thì róc rách như tiếng suối chảy, lúc như tiếng gió thổi trên ngàn, hoặc tiếng chày giã gạo... làm xao xuyến lòng người./.
 
 
  

Số lần đọc : 349   Cập nhật lần cuối: 06/06/2019

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 6715730

Số người Onlne: 27