Nghiên cứu → Lịch sử

Nhìn lại trang sử 230 năm Quang Trung đánh bại gần 300.000 quân xâm lược Mãn Thanh


 



Nhìn lại trang sử 230 năm Quang Trung đánh bại
gần 300.000 quân xâm lược Mãn Thanh
 
Tú Ân
 

 

Vua Quang Trung tiến vào Thành thăng Long - Ảnh Tú Ân chụp tại Bảo tàng Quang Trung. 

 
Năm 2019 kỷ niệm 230 năm Hoàng đế Quang Trung đánh bại 29 vạn quân xâm lược Mãn Thanh, đặc biệt là trận Ngọc Hồi – Đống Đa ngày mùng 5 Tết Kỷ Dậu – 1789. Người Việt Nam ở khắp mọi nơi trên thế giới đều tự hào trang sử chống xâm lược và tinh thần bất tốc chiến, tốc thắng của người xưa.
Hơn 230 năm trước, vua Càn Long của triều đình nhà Mãn Thanh luôn nung nấu ý định xâm chiếm nước Đại Việt. Dịp tốt cho ông vua Tàu là từ lá thư cầu viện của Lê Chiêu Thống nhờ ngoại bang đánh quân Tây Sơn đang trấn giữ ở phía Nam Việt Nam, nhà Mãn Thanh lập tức phái Tổng Lưỡng Quảng - Tôn Sĩ Nghị đem gần 300.000 quân tiến đánh nước ta. Trước thế giặc dông, quân Tây Sơn tạm thời rút về phòng ngự tại núi Tam Điệp (Thanh Hóa). Nghe tin báo, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ từ Phú Xuân (Thừa Thiên – Huế) liền lập đàn tế lễ xin lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung, kêu gọi toàn dân cùng đồng lòng đầu quân diệt giặc ngoại xâm. Trong chiếu lên ngôi Nguyễn Huệ viết:
"Nước Việt ta từ đời Đinh, Lê, Lý, Trần gầy dựng cho đến ngày nay, thánh  minh dấy lên không phải là một họ, nhưng thịnh suy, dài ngắn, vận mệnh do trời, không phải sức người tạo ra được. Trước đây Nhà Lê mất triều chính, họ Trịnh và cựu Nguyễn chia bờ cõi. Hơn hai trăm năm nay, kỷ cương rối loạn, vua Lê chỉ là hư vị, cường thần tự ý vun trồng, giềng mối của trời đất một phen rơi xuống không nâng lên được, chưa có lúc nào hư hỏng quá như lúc này vậy. Vả lại mấy năm gần đây, Nam Bắc gây việc binh đao, người dân rơi vào chốn bùn than. Trẫm hai lần gây dựng họ Lê, thế mà tự quân họ Lê không biết giữ xã tắc, bỏ nước đi bôn vong, sĩ dân Bắc Hà không hướng về họ Lê, chỉ trông mong vào trẫm, về phần đại huynh (Nguyễn Nhạc) có ý mỏi mệt, tình nguyện giữ một phủ Quy Nhơn, tự nhún xưng là Tây Vương, mấy nghìn dặm đất về phương Nam thuộc hết về trẫm. Trẫm tự nghĩ tài đức không bằng người xưa, mà đất đai thì rộng, người dân thì nhiều, ngẫm nghĩ cách thống trị, lo ngay ngáy như dây cương mục chỉ huy sáu ngựa. Nay xem khí thần rất hệ trọng, ngôi trời thật khó khăn, trẫm chỉ lo không kham nổi, nhưng sức triệu người trong bốn bể đều xúm quanh cả vào thân trẫm, đó là ý trời đã định, không phải do người làm ra. Trẫm nay ứng mệnh trời, thuận lòng người không thể khăng khăng cố giữ sự khiêm nhường. Trẫm chọn ngày 22 tháng 11 năm nay lên ngôi thiên tử, đặt niên hiệu là Quang Trung năm đầu, truyền bảo cho trăm họ muôn dân phải tuân theo giáo lệnh của nhà vua. Nhân nghĩa, trung chính là đạo lớn của người, trẫm nay cùng dân đổi mới, vâng theo mưu mô sáng suốt của vua thánh đời trước, lấy giáo hóa trị thiên hạ"(Hàn Các Anh Hoa - Ngô Thì Nhậm). 
Hoàng đế Quang Trung chiêu mộ thêm quân lính, tích trữ quân lương, tổ chức thành các đạo binh, rồi ban sắc lệnh tiến quân thần tốc ra Bắc. Đêm 30 Tết Kỷ Dậu 1789, từ vùng núi Tam Điệp, sau khi đã cho quan quân ăn Tết sớm,  Quang Trung truyền lệnh tổng tấn công thần tốc ra Bắc, kế hoạch các cánh quân sẽ  gặp nhau tại nội thành Thăng Long vào ngày mồng Bảy Tết âm lịch. 
Quân Tây Sơn trên đường hành quân thần tốc đã lần lượt đánh tan các cứ điểm của giặc Mãn Thanh, giành chiến thắng liên tiếp, tiêu diệt đồn Gián Khẩu, Hà Hồi, Ngọc Hồi cho đến Khương Thượng - Đống Đa, buộc tướng giặc là Sầm Nghi Đống của quân Mãn Thanh (Trung Quốc) phải tự sát. Đến ngày mùng năm Tết, Hoàng đế Quang Trung đánh chiếm Hoàng thành Thăng Long, so với kế hoạch thì sớm hơn hai ngày. Tôn Sĩ Nghị cùng tàn quân Mãn Thanh vô cùng hỗn loạn, cởi bỏ quân phục, ấn tín, tháo chạy về nước. Vua quan nhà Lê phần lớn cũng tháo chạy theo quân giặc.
Chiến thắng Đống Đa đã ghi thêm vào trang sử oai hùng của nhân dân thành tích chống giặc ngoại xâm, bảo vệ giang sơn bờ cõi của dân tộc Việt Nam. Nước ta thời ấy trên danh nghĩa thuộc về cuối triều đại Hậu Lê, tuy nhiên thực chất tất cả quyền hành lại nằm trong tay những quyền thần như Chúa Trịnh cát cứ phía Bắc, gọi là Đàng Ngoài và Chúa Nguyễn phía Nam, tức Đàng Trong. Cuộc phân tranh Trịnh - Nguyễn đã chia đôi đất nước Đại Việt với những cuộc chiến tranh giành đất đai kéo dài hàng trăm năm trước đó đã làm cho dân tình khổ sở, nơi nơi oán thán.
Ở Đàng Ngoài thì vua Lê nhu nhược, chính sự nằm trong tay chúa Trịnh nên tướng lười, quân kiêu, chỉ chuyên sống xa hoa, nhũng nhiễu, hà sách dân chúng. Ở Đàng trong Chúa Nguyễn cũng chẳng tốt hơn, quyền thần Trương Phúc Loan, tham lam vô độ, chủ trương sưu cao, thuế nặng để vơ vét của cải, gây phẩn nộ cho nhân dân.
Danh nhân Lê Quý Đôn trong tác phẩm “Phủ Biên tạp lục” đã nhận xét về thời kỳ chúa Nguyễn như sau: "Từ quan to đến quan nhỏ, nhà cửa chạm trổ, tường xây bằng gạch đá, trướng vóc màn the, đồ dùng toàn bằng đồng, bằng sứ, bàn ghế bằng gỗ đàn, gỗ trắc, ấm chén bằng sứ, yên ngựa - dây cương đều nạm vàng, nạm bạc, quần là, áo lượt, nệm hoa, chiếu mây, lấy phú quý phong lưu để khoe khoang lẫn nhau. Họ coi vàng bạc như cát, thóc gạo như bùn, hoang phí vô cùng..." 
Có lẽ đó là lý do khi nhà Tây Sơn khi dùng ngọn cờ chính nghĩa để chiêu mộ nghĩa quân tại đất Tây Sơn, Bình Định đã được người dân hưỡng ứng mạnh mẽ. Quân đội Tây Sơn lớn mạnh rất nhanh, lần lượt đánh dẹp chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và truy đuổi quân của chúa Nguyễn Đàng trong chạy trốn xuống tận vùng cực Nam bộ. Sử sách đến nay lưu danh những trận đại chiến ác liệt của Nguyễn Huệ ở Rạch Gầm, Xoài Mút, đánh tan hàng vạn quân Xiêm (Thái Lan) xâm lược nước ta theo thư cầu viện của chúa Nguyễn. Chỉ tiếc rằng, đến năm 1802 triều đại Tây Sơn chấm dứt, chỉ tồn tại vỏn vẹn 15 năm. Khi vua Quang Trung đột ngột qua đời, triều chính bị chia rẽ và Quang Toản kế vị Quang Trung khi còn quá nhỏ, bị Nguyễn Ánh, tức vua Gia Long đánh bại. 
Công trạng vua Quang Trung và nhà Tây Sơn được nhiều sách sử ở Việt Nam và thế giới ghi chép khác nhau, tùy theo từng góc nhìn và giai đoạn lịch sử khác nhau. Triều đình nhà Nguyễn thời ấy coi nhà Tây Sơn là quân phản loạn. Tuy nhiên nhân dân Việt Nam đã ghi nhận công lao đấu tranh vệ quốc của ba anh em nhà Tây Sơn Nguyễn Nhạc – Nguyễn Huệ -  Nguyễn Lữ cùng các tướng tài như Võ Văn Dũng, Bùi Thị Xuân, Trần Quang Diệu, Đô Đốc Tuyết, Đô Đốc Lộc hay các danh sĩ Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Thiếp... là những bậc anh hùng dân tộc, Tất cả đều được lập bia tượng, miếu thờ và tưởng niệm hằng năm.
Cuộc khởi nghĩa của nhà Tây Sơn thành công vì đã biết kết hợp lòng dân giữa lúc những kẻ nắm quyền đương thời chỉ biết tham lam, vơ vét và trông cậy ngoại bang. Sự thành công còn có nguyên nhân sâu xa khác là sự chính nghĩa của Hoàng đế Quang Trung đã quy tụ được tinh thần yêu nước của nhân dân trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giữ gìn độc lập dân tộc.

 

 
 
 

Số lần đọc : 870   Cập nhật lần cuối: 26/03/2019

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 6476294

Số người Onlne: 28