Nghiên cứu → Đa chiều

Mùa xuân, nói chuyện nghề nuôi ong mật


 

 

 

MÙA XUÂN, NÓI CHUYỆN NGHỀ NUÔI ONG MẬT


        1.
 Lợi ích kép của của loài ong Đối với tự nhiên và con người là quá rõ ràng, chúng vừa cho ta mật ong thơm ngon bổ dưỡng, vừa cung cấp những dịch vụ sinh thái vô cùng quan trọng như thụ phấn cho cây hay tiêu diệt sâu bệnh trên cây trồngTrong số 20.000 loài ong được biết đến, chỉ có khoảng 2% loài thụ phấn cho 80% các loại cây thụ phấn trên toàn thế giới, đóng góp trung bình 3.251USD/ha/năm cho sản xuất nông nghiệp. Theo một nghiên cứu năm 2005 thì giá trị kinh tế thụ phấn của loài ong đã mang lại nguồn lợi lên tới 153 tỉ Euro mỗi năm trên toàn thế giới chiếm 9,5% sản lượng nông nghiệp toàn cầu.

 

Hầu hết cây ăn quả, không có ong thụ phấn thì đậu quả rất ít. Ở các nước tiên tiến, nhiều trang trại ông nghiệp đều thuê đàn ong để cải thiện mùa màng với giá khá cao (20-40 USD/đàn/tháng). Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (sản xuất trong nhà lưới, nhà kính với quy mô lớn) thì càng cần đến sự giúp đỡ của đàn ong để thụ phấn cho cây. Bằng con đường giúp cây trồng thụ phấn chéo (trên 90% cây trồng cần thụ phấn chéo), ong không chỉ làm tăng sản lượng, mà còn làm tăng chất lượng nông sản, đồng thời đây cũng là cách chọn lọc tự nhiên, tạo ra chất lượng hạt giống tốt (rất cần cho các loại cây nhân giống bằng hạt...). Có một cách tính khác, giá trị mật ong và các sản phẩm phụ là 1 thì giá trị đóng góp cho ngành nông nghiệp là 10. Loài ong có thể nói là một mắt xích vô cùng quan trọng không thể thiếu được trong hệ sinh thái, nếu không có loài ong cũng đồng nghĩa với nguồn lương thực thế giới hay an ninh lương thực quốc gia bị đe dọa nghiêm trọng.
2. Nuôi ong trên thế giới. Nghề nuôi ong lấy mật đã được con người thực hiện từ hàng nghìn năm trước, đưa lại cho con người một nguồn lợi to lớn từ những sản phẩm của ong như: mật ong, phấn hoa, sữa ong chúa, ấu trùng và nhộng ong, sáp ong, keo ong..., trong đó mật ong được sử dụng nhiều nhất trong các lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, mỹ phẩm, công nghiệp thực phẩm. Trong y dược mật ong có thể được sử dụng như một tác nhân chữa bệnh tự nhiên tốt cho tim, da, tiêu diệt vi khuẩn, giúp tiêu hóa, làm giảm cholesterol, hỗ trợ chống oxy hóa, phục hồi giấc ngủ và hàng chục các công dụng khác. Có thể nói mật ong là sản phẩm tinh túy nhất của tạo hóa. Tất cả các vật phẩm, lương thực, thực phẩm đều có hạn sử dụng, quá đi là hư hỏng. Chỉ riêng mật ong, hàng trăm năm, hàng ngàn năm vẫn còn nguyên tinh chất. Nhưng để có 100 gram mật ong, một con ong phải bay đi tìm hoa, thu phấn với một quảng đường dài 46 ngàn km, bằng một vòng quanh trái đất. Thật là đáng nể.
Các nước sản xuất mật ong hàng đầu thế giới là Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Mỹ, Iran, Nga, Ấn Độ, Mexico, Braxin, Ukraina, New zealand, Việt Nam... Chỉ tính riêng 10 nước đứng đầu, sản lượng mật ong ước đạt gần 1,5 triệu tấn/năm. Trong đó Trung Quốc là nước nuôi ong, sản xuất mật ong, xuất khẩu và tiêu thụ mật ong nhiều nhất thế giới với 650.000 tấn mật/năm, trong đó khoảng ¾ phục vụ thị trường nội địa.
3. Nuôi ong ở Việt Nam. Trong những năm gần đây sản lượng mật ong của nước ta tăng đáng kể đưa Việt Nam vươn lên vị trí thứ 6 thế giới và thứ 2 châu Á về xuất khẩu mật ong. Với khí hậu nhiệt đới gió mùa, Việt Nam được thiên nhiên ban tặng điều kiện thời tiết và thổ nhưỡng vô cùng thích hợp, cùng với đa dạng loại cây trồng, là những yếu tố lý tưởng cho nghề nuôi ong. Trong đó, các cây cung cấp nguồn mật chính phải kể đến: cao su, tràm, cà phê, điều, vải, nhãn, keo, bạch đàn, bạc hà… Mỗi loại hoa sẽ cho những loại mật với hương thơm và vị ngọt đặc trưng khác nhau. Theo số liệu từ Hội Nuôi ong Việt Nam cả nước có khoảng 1,2 triệu đàn ong, trong đó tập trung nhiều ở khu vực Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, vùng núi phía Bắc… Trong đó đàn ong nội khoảng 200.000 (chiếm 16,6%), ong ngoại 1.000.000 đàn (chiếm 83,3%). Số người nuôi ong khoảng 30.000 người. Sản lương mật đạt 50.000 tấn (2016). Địa phương nuôi nhiều ong nhất là Đắc Lắc, Đồng Nai.
Mật ong Việt Nam xuất khẩu tới 80%, còn 20% là tiêu thụ nội địa. Có tới, 90% mật ong xuất khẩu được xuất qua thị trường Hoa Kỳ, 10% là thị trường EU và nơi khác. So với năm 2015, Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ 37.000 tấn và đạt giá trị trên 101 triệu đô thì năm 2016 lượng xuất khẩu đã vượt 1.500 tấn nhưng doanh thu giảm đi 36 triệu đô. Lý do là giá xuất khẩu bình quân của Việt Nam là 1,68 usd/kg mật là giá quá thấp nhất so với các nước khác và so với giá bình quân xuất khẩu vào Mỹ là 2,48 US$. Vì thế dù Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ trên 38,5 nghìn tấn nhưng về giá trị chỉ đạt gần 65 triệu usd không bằng Braxin xuất 19 nghìn tấn (giá trị trên 70 triệu đô la). Ngoài lượng mật ong xuất khẩu vào Mỹ Việt Nam còn xuất khẩu sang 13 nước khác thuộc EU, Trung Đông, một số nước châu Á và cả Australia. Tổng lượng mật xuất trên 40.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 70 triệu đô.
Nhiều năm qua, sản lượng sản xuất mật ong của châu Âu sụt giảm, trong khi nhu cầu tiêu thụ không ngừng tăng lên (khoảng 250.000 tấn/năm). Đây là cơ hội lớn cho các doanh nghiệp sản xuất mật ong trong nước, thế nhưng các doanh nghiệp Việt vẫn chưa tận dụng tốt cơ hội này, tính từ đầu năm đến 15/9/2017, Việt Nam đã xuất khẩu 29.000 tấn mật ong các loại, nhưng xuất qua thị trường châu Âu chỉ đạt 1.469 tấn, tức chỉ khoảng 5%. Ngay cả đối với thị trường nội địa 96 triệu dân cũng là bài toán khó giải đối với các doanh nghiệp, mặc dù là nước có sản lượng mật ong lớn nhưng Việt Nam lại là quốc gia có mức tiêu thụ mật ong cực thấp. Trung bình trên thế giới, mức tiêu thụ là 700 gr mật ong/người/năm, thì tại Việt Nam con số này chỉ là 30 – 40 gr, sản lượng tiêu thụ đạt chưa tới 10.000 tấn/năm.
4. Nuôi ong ở Sơn La. Tiềm năng của ngành ong mật Sơn La rất lớn, đảm bảo số lượng và chất lượng cao cho thị trường.
Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là 144.125 km2, diện tích rừng là xấp xỉ 600 ngàn ha, diện tích cây ăn quả hơn 41 ngàn ha, tương lai phát triển 100 ngàn ha, cây lương thực gần 193 ngàn ha, cây công nghiệp gần 20 ngàn ha. Gần đây, được bổ sung gần 7.000 ha cây cao su. Tuy nhiên, theo các chuyên gia nuôi ong cho biết, do điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, nách lá cây cao su ở Sơn La tiết mật rất ít so với cao su ở miền Nam, nên năng suất mật ong cao su ở Sơn La thấp.

 

Nghề nuôi ong Sơn La có từ gần 40 năm nay, ban đầu chỉ là những hộ nhỏ lẻ nuôi theo phương pháp truyền thống, chủ yếu là giống ong nội. Qua quá trình phát triển, đến nay toàn tỉnh có trên 1.250 hộ nuôi ong, tạo việc làm cho 5.000 lao động thường xuyên. Với tổng số khoảng 80.000 đàn ong hiện có, ước tính mỗi năm tỉnh Sơn La cung ứng ra thị trường trên 2.500 tấn mật ong, khoảng 360 tấn phấn hoa và 60 tấn sáp ong, tổng giá trị sản lượng hàng hóa đạt gần 320 tỷ đồng. Hiện nay, Sơn La là tỉnh hàng đầu ở miền Bắc nuôi nhiều ong. Mật ong hoa rừng, mật ong hoa nhãn của Sơn La rất nổi tiếng. Một trong những người có công gây dựng ngành ong Sơn La là ông Hồ Văn Sâm, từng là cán bộ kỳ cựu của ngành ong từ thời còn bao cấp, hiện nay là giám đốc Trung tâm ong, PCT Hội ngành nghề nông nghiệp nông thôn tỉnh. Ông có 30 năm kinh nghiệm nuôi ong, hiện gia đình vợ chồng ông và hầu hết các gia đình anh em, con cái đều theo nghiệp nghề ong. Trong tỉnh có hàng chục gia đình đã nuôi quy mô hơn 1000 đàn, cho doanh thu trên dưới 2 tỷ đồng/năm. Cá biệt có hộ như ông Lê Văn Phương ở Mộc châu nuôi tới 1800 đàn, đạt doanh thu hơn 4 tỷ đồng. Lợi nhuận nuôi ong rất cao, chiếm 40-50% doanh thu. Giá trị mà ngành ong Sơn La đóng góp cho ngành nông nghiệp thông qua con đường thụ phấn cho cây cối và làm chức năng thiên địch còn lớn hơn nhiều. Nếu tính bằng mức trung bình của thế giới (9,5% sản lượng nông nghiệp), thì với giá trị sản lượng của riêng ngành trồng trọt trên dưới 9 ngàn tỷ đồng/năm thì nhiều năm nay, hàng năm ngành ong đóng góp 800-900 tỷ đồng/năm. Nếu tỉnh theo công thức giá trị đóng góp gián tiếp của ong bằng 10 lần giá trị sản phẩm trực tiếp (mật ong, phấn hoa, sữa ong chúa, sáp...), thì mỗi năm ngành ong Sơn La làm lợi cho nông nghiệp hàng ngàn tỷ đồng.
Người nuôi ong Sơn La đã áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, sản phẩm từ ong được sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, nhờ đó chất lượng ngày càng được nâng lên, khẳng định được thương hiệu, uy tín, đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa và xuất khẩu. Đặc biệt sau khi đưa công nghệ hạ thủy phần mật ong vào hoạt động, những lô hàng sản phẩm không đạt tiêu chí chất lượng thủy phần đều được thực hiện qua máy sấy bơm nhiệt để rút nước hạ thủy phần để đảm bảo chất lượng tốt nhất. Các loại mật ong có tỷ lệ nước cao như mật keo, mật ong vải, cà phê. Sau khi khai thác tỷ lệ thủy phần từ 26-28%, khi đưa qua máy hạ thủy phần đều đạt 16-18-21% (do ý muốn của mục đích người nuôi ong đưa vào thị trường nào).
Số lượng mật ong đã được hạ thủy phần khoảng 57 tấn đều đạt kết quả cao, rút bớt được nước trong mật ong xuống 18-21%, nâng cao chất lượng và tăng giá trị mật ong.
     Mật ong Sơn La và phấn hoa Sơn La có uy tín với khách hàng. Hai sản phẩm đã đạt danh hiệu Huy chương vàng thành tựu kinh tế kỹ thuật Việt Nam 1983-1984, Cúp vàng năm 2005, 2006, 2009. Gần đây, năm 2014, mật ong Sơn La đã được Cục sở hứu trí tuệ cấp chứng nhận Nhãn hiệu tập thể. Tương lai có thể được xây dựng và bảo hộ chỉ dẫn địa lý. Hiện báo chí, mạng xã hội và nhiều đại lý ở Hà Nội, Hải phòng và một số địa phương khác giới thiệu sản phẩm mật ong và phấn hoa của Sơn La. Mật ong Sơn La cũng bước đầu xâm nhập thị trường nước ngoài.
Ngành ong Sơn La phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và còn chậm so với Nam Bộ và Tây Nguyên. Tiềm năng có thể tới hơn 300 ngàn đàn, sản lượng mật 7-10 ngàn tấn, nhưng sau 30 năm gây dựng mới phát triển 80 ngàn đàn với sản lượng mật 2500 tấn. Cả quy mô đàn, năng suất mật và sản lượng mật không ổn định. Sản phẩm còn nghèo, chưa đa dạng, chủ yếu là mật nguyên chất, còn phấn hoa, sáp chưa qua chế biến. Sản phẩm có uy tín trong nước, nhưng chưa đạt tiêu chuẩn xuất khẩu sang các thị trường khó tính.
Vấn đề đặt ra cho ngành ong Sơn La tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ KHCN, nâng cao chất lượng giống, chất lượng đàn ong, có khả năng thích nghi tốt hơn với mùa đông, tiến tới tạo giống ong chuyên lấy sữa ong chúa. Áp dụng rộng rãi phương pháp nuôi ong tiên tiến trên tất cả các khâu chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trừ dịch bệnh, khai thấc, bảo quản, chế biến, tiếp thị, quản lý. Duy trì và mở rộng áp dụng kỹ thuật theo tiêu chuẩn VietGap. Phấn đấu sản xuất mật ong hữu cơ, phấn hoa hữu cơ. Xây dựng và áp dụng đại trà lịch mùa vụ cho từng vùng. Thực hiện luân chuyển đàn ong tránh các vùng, các thời điểm ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật và không dùng hóa chất trong phòng trừ dịch bệnh cho ong. Đa dạng hóa sản phẩm và tiêu chuẩn hóa các loại sản phẩm ong. Bảo đảm tiêu chuẩn thủy phần, đặc biệt, phải kiểm soát, triệt để loại bỏ dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong các sản phẩm ong. Tăng cường quản lý nội bộ về thương hiệu, phát huy nhãn hiệu tập thể "Mật ong Sơn La".

Ngành ong rất cần được tỉnh và ngành nông nghiệp chỉ đạo xây dựng quy hoạch phát triển bền vững. Xây dựng chương trình, dự án lồng ghép, hỗ trợ nông dân, tập huấn, dạy nghề chuyển giao công nghệ để các hộ phát triển nghề nuôi ong mật. Nhà nước đã có quy định tiêu chí quy mô chăn nuôi được công nhận là trang trại để được hưởng chế độ tín dụng ưu đãi (Giá trị sản lượng phải trên 780 triệu đồng/năm).Tỉnh cần vận dụng để khuyến khích phát triển các trang trại ong. Hỗ trợ phát triển thương hiệu, tiến tới xây dựng chỉ dẫn địa lý, tập trung kết nối, xây dựng chuỗi sản xuất cung ứng, tiêu thụ sản phẩm; Quan tâm chỉ đạo, khuyến khích, tạo điều kiện để phát triển hợp tác xã ong, củng cố Trung tâm ong, Hội ngành nghề nông nghiệp nông thôn, thành lập Công ty cổ phần hay công ty tư nhân trong ngành ong để đủ sức đầu tư công nghiệp, sản xuất sản phẩm ong đạt tiêu chuẩn xuất khẩu và để làm đầu mối liên kết sản xuất với các hộ nuôi ong. Xúc tiến thị trường xuất khẩu hàng hóa cho sản phẩm “Ong mật Sơn La” để đảm bảo nghề nuôi ong phát triển nhanh và bền vững; tăng cường các biện pháp để quản lý thị trường theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nhằm chống hàng giả, hàng kém chất lượng ảnh hưởng đến thương hiệu của Mật ong Sơn La.
Ngành ong rất cần được ngành nông nghiệp, các ngành công thương, khoa học, y tế, cơ quan báo chí tăng cường phối hợp tuyên truyền phổ biến trong cộng đồng về lợi ích kép của ngành ong mật, tránh hiểu nhầm dẫn đến xua đuổi đàn ong, gây khó khăn cho hộ nuôi ong, hướng dẫn sử dụng phương pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp, dùng thuốc bảo vệ thực vật đúng loại, đùng thời điểm, đúng liều lượng, thay thế dần thuốc hóa học bằng thuốc sinh học để giảm thiểu gây hại cho đàn ong. Tuyên truyền hướng dẫn về lợi ích của việc sử dụng các sản phẩm ong để cải thiện sức khỏe, nâng mức tiêu thụ các sản phẩm ong trong dân.
                                                                                             Đức Tuấn

Tài liệu tham khảo

1. Ong mật. Wikipedia tiếng Việt.

2.Báo cáo tổng quan ngành ong Sơn La (thuộc đề tài khoa học công nghệ cấp tỉnh về ứng dụng công nghệ hạ thủy phần mật ong)

3. Dự án khoa học cấp tỉnh về quản lý và phát triển nhãn hiệu tập thể Mật ong Sơn La

4. Dự án xây dựng mô hình ứng dụng và chuyển giao Khoa học và Công nghệ để phát triển nghề nuôi ong ở Sơn La

5. Hội thảo khoa học về lợi ích của ong mật. http://:www.dongnaihoney.com.vn

6. Phát triển nuôi ongg mật an toàn bền vững. http://:www.dakhoney.com

7. Xuất khẩu mật ong-thế mạnh của ngành nông nghiệp. http://tapchitaichinh.vn

 

 

 

Số lần đọc : 809   Cập nhật lần cuối: 26/02/2018

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 4345866

Số người Onlne: 33