Nghiên cứu → Đa chiều

Một số vấn đề về chỉ tiêu và số liệu kinh tế xã hội cấp huyện


 



Một số vấn đề về chỉ tiêu và số liệu kinh tế xã hội cấp huyện

 
Vừa qua, tác giả bài này được tham gia ý kiến về dự thảo báo cáo Chính trị Đại hội đảng bộ Thành phố và hai huyện Thuận Châu, Vân Hồ nhiệm kỳ 2020-2025. Tác giả cũng tra cứu trên công thông tin điện tử UBND tỉnh thấy có Nghị quyết HĐND huyện về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2020 của 4 huyện (Bắc Yên, Yên Châu, Mai Sơn, Sông Mã). Thành phố và các huyện khác không tra cứu được, kể cả trên trang Web của huyện, Thành phố và sở KH&ĐT. 
Tác giả chia sẻ một số vấn đề như sau (1):
 
1. Sơ bộ hệ thống  tình hình chỉ tiêu
 
Chỉ tiêu Kinh tế- xã hội
 
Nghị quyết HĐND huyện về Kế hoạch phát triển KTXH năm 2020
 
Dự thảo báo cáo Chính trị đại hội nhiệm kỳ 2020-2025
 
Bắc Yên
 
Yên Châu
 
Sông Mã
 
Mai Sơn
 
Thành phố
 
Thuận Châu
 
Vân Hồ
 
I. Tổng quát
 
 
 
 
 
 
 
 
1.Tổng số
 
25
 
20
 
27
 
25
 
18
 
17
 
17
 
2.Kinh tế
3
7
4
8
4
6
9
 
3.Xã hội
18
10
18
13
11
8
6
 
4.Môi trường
4
3
5
4
3
3
1
 
5.Phân theo các nhóm
 
 
3 lĩnh vực KT, XH, MT
 
Nhóm chỉ tiêu bình quân, và nhóm chỉ tiêu cuối nhiệm kỳ
 
Đan xen 3 lĩnh vực KT, XH, MT
 
4 lĩnh vực KT, XH, MT, kết cấu hạ tầng
 
II. Trích một số chỉ tiêu
 
 
 
 
 
 
 
1.Giá trị sản xuất
 
 
 
 
0
 
Phần đánh giá nhiệm kỳ 2015-2020 có.
 
Phần chỉ tiêu nhiệm kỳ 2020-2025 không có
2.Tốc độ tăng trưởng
 
0
 
0
 
0
 
0
 
 
0
 
0
 
3.Cơ cấu Sản xuất
 
0
 
0
 
 
 
Có ở phần đánh giá và phần chỉ tiêu
 
Có ở phần đánh giá, còn ở phần chỉ tiêu có ở biểu phụ lục
4.Chỉ tiêu cây, con
 
0
 
0
 
0
 
 
0
 
 
5.Vốn đầu tư xã hội 5 năm
 
 
 
 
 
 
 
6.Thu ngân sách
 
2020
 
2020
 
2020
 
2020
 
Đến 2025
 
Đến 2025
 
5 năm
-Tỷ lệ tự cân đối
 
0
 
0
 
0
 
0
 
0
 
0
 
0
 
7.Thu nhập bình quân/người
 
0
 
0
 
 
0
 
Có ở phần đánh giá, không có ở phần chỉ tiêu
 
0
 
Có ở phần đánh giá, có ở biểu phụ lục chỉ tiêu
8.Tỷ lệ giảm hộ nghèo
 
2020
 
2020
 
2020
 
2020
 
 Bình quân năm
 
Bình quân năm
 
Bình quân năm
7.Tỷ lệ lao động nông nghiệp
 
 
0
 
 
0
 
0
 
 
8.Tỷ lệ lao động qua đào tạo
 
 
0
 
 
0
 
 
0
 
0
 
 
9.Chỉ tiêu về giáo dục
 
Xã phổ cập,
 
Trường đạt chuẩn 
 
0
 
 
Xã phổ cập,
 
Trường đạt chuẩn
 
Xã phổ cập,
 
Trường đạt chuẩn
 
Tỷ lệ trường đạt chuẩn QG
 
 
Tỷ lệ trường đạt chuẩn QG
 
 
Tỷ lệ xã phổ cập, Tỷ lệ trường đạt chuẩn QG
 
 
10.Chỉ tiêu về y tế (nội dung thể hiện khác nhau)
 
Tỷ lệ xã, phường đạt chuẩn về y tế, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng
 
Tỷ lệ xã, phường đạt chuẩn về y tế, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, tỷ lệ bảo hiểm y tế
 
Tỷ lệ xã, phường đạt chuẩn về y tế, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng
 
Tỷ lệ xã đạt chuẩn y tế, tỷ lệ bảo hiểm y tế
 
Tỷ lệ tiêm chủng trẻ em
-Bác sĩ, giường bệnh/1 vạn dân
 
 
 
 
0
 
0
 
0
 
Có ở biểu phụ lục
11.Chỉ tiêu về tỷ lệ GĐVH
 
 
 
 
 
 
 
-Tỷ lệ khu dân cư, cơ quan VH
 
0
 
 
 
0
 
 
0
 
0
 
2. Nhận xét
Số lượng, cơ cấu các chỉ tiêu của thành phố và các huyện (cả giữa hệ thống đảng và chính quyền) không giống nhau. Hệ thống nhà nước nhiều chỉ tiêu hơn hệ thống đảng. Từng huyện thì huyện nhiều đến 27 chỉ tiêu, huyện ít 17 chỉ tiêu. Nhìn chung, lĩnh vực xã hội nhiều chỉ tiêu nhất, chiếm 50-70% tổng số chỉ tiêu, nhưng cá biệt có huyện lĩnh vực kinh tế lại nhiều chỉ tiêu hơn. Chỉ có lĩnh vực môi trường là cả hai hệ thống đảng và nhà nước, các huyện cơ bản giống nhau. Còn lại các lĩnh vực khác nhiều chỉ tiêu  không giống nhau. Một số chỉ tiêu giống nhau thì nội dung cũng không hoàn toàn giống nhau
Các huyện, thành phố thống nhất một hệ thống chỉ tiêu vận dụng theo hệ thống chỉ tiêu của tỉnh. Riêng Huyện Bắc Yên, ngoài các chỉ tiêu vận dụng theo tỉnh, còn có trên 10 chỉ tiêu nội bộ.
Hệ thống nhà nước phân các chỉ tiêu theo ba lĩnh vực KT, XH và MT. Nhưng hệ thống đảng không thống nhất, có huyện theo 4 nhóm, thêm một lĩnh vực (kết cấu hạ tầng), có huyện đan xen giữa các lĩnh vực, có huyện theo hai nhóm: Nhóm chỉ tiêu bình quân và Nhóm chỉ tiêu cuối nhiệm kỳ. Không có huyện nào có chỉ tiêu về CCHC.
Cách xếp ngành vào từng lĩnh vực hay nhóm chỉ tiêu cũng khác nhau. Có huyện xếp chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới vào lĩnh vực kinh tế, có huyện xếp vào lĩnh vực xã hội. Có huyện xếp chỉ tiêu khách du lịch vào lĩnh vực kinh tế, có huyện xếp vào lĩnh vực xã hội...
Phương pháp tính toán, nội hàm và số đo của một số chỉ tiêu giữa các huyện không thống nhất. Ví dụ, chỉ tiêu hàng hóa tham gia xuất khẩu có huyện tính theo giá trị quy ra USD, có huyện tính theo số lượng (tấn). Có chỉ tiêu có huyện tính theo tỷ lệ tăng, giảm bình quân/năm, có huyện vừa có chỉ tiêu tỷ lệ tăng, giảm bình quân, vừa có chỉ tiêu kết quả cuối cùng của năm mục tiêu. Có một số chỉ tiêu, có huyện tính theo giá trị tuyệt đối, có huyện tính theo tỷ lệ. Ví dụ, có huyện tính theo số trường đạt chuẩn quốc gia tăng thêm, số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế tăng thêm, có huyện tính tỷ lệ số trường đạt chuẩn quốc gia, tỷ lệ số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, v.v...
Đáng chú ý nhất là các chỉ tiêu đại diện trên các lĩnh vực:
-Gíá trị xản xuất, tăng trưởng và cơ cấu. Theo quy định nhà nước cũng như năng lực nghiệp vụ của cán bộ Thống kê, Kế hoạch cấp huyện, thì cấp huyện không tính GRDP. Nên tất cả các huyện, thành phố đều tính Giá trị sản xuất. Nhưng tốc độ tăng trưởng có huyện gọi là tăng trưởng kinh tế, có huyện gọi tăng trưởng giá trị sản xuất. Về cơ cấu có huyện gọi cơ cấu ngành, có huyện gọi cơ cấu kinh tế. Nên gọi là tăng trưởng sản xuất và cơ cấu sản xuất thì phù hợp hơn.
Có hai vấn đề:
Một là, khu vực Dịch vụ, hay khu vực Thương mại -Dịch vụ (như một số huyện gọi). Dịch vụ thông thường được hiểu và được thống kê bao gồm dịch vụ thương mại và dịch vụ công (Hành chính và sự nghiệp công). Tính theo GRDP, tỷ trọng khu vực dịch vụ của toàn tỉnh (bao gồm dịch vụ thương mại và dịch vụ công) dự ước năm 2020 mới là 39%, trong đó dịch vụ thương mại và dịch vụ công ngang bằng nhau). Trong lúc đó tỷ trọng thương mại-dịch vụ của Thành phố 47,34%, của Thuận Châu gần 46%. Các huyện cần có chú thích: (1) Giá trị sản xuất của khu vực Thương mại - Dịch vụ chỉ tính giá trị bán lẻ hàng hóa và dịch vụ, hay tính cả phần dịch vụ công (của khu vực hành chính, sự nghiệp công). (2) Khu vực Thương mại - Dịch vụ có tỷ trọng cao là do tính trùng lắp giá trị sản phẩm của ngành nông nghiệp và ngàng công nghiệp cộng với chiết khấu thương mại và lợi nhuận, vả lại nguồn hàng từ nơi khác đến là chính chứ không phải nguồn hàng của huyện là chính.
Hai là,  các huyện không thống nhất nguyên tắc tính tốc độ tăng trưởng là theo giá so sánh, còn tính cơ cấu là theo giá hiện hành. Có huyện tính tốc độ tăng trưởng và cơ cấu sản xuất đều theo giá hiện hành, ngược lại có huyện lại tính cả hai chỉ tiêu theo giá so sánh (2010). Cả hai trường hợp  đều không đúng. 
- Thu nhập bình quân đầu người. Tất cả các huyện không tính GRDP, nhưng một số huyện lại có chỉ tiêu  thu nhập bình quân đầu người. Thu nhập bình quân đầu người  là thu nhập dân cư, hay thu nhập quốc dân (GRDP/người), cần được chú thích. Có lẽ đây là thu nhập dân cư (GRDP đã trừ đi thuế, lãi uất tín dụng, lợi nhuận doanh nghiệp, khấu hao). Có một số huyện tính thu nhập bình quân trong phần đánh giá nhiệm kỳ cũ, nhưng lại không có trong chỉ tiêu của nhiệm kỳ mới, có một số huyện có nhưng lại để ở phần phụ lục. Nhà nước không yêu cầu cấp huyện tính GRDP và thu nhập bình quân đầu người trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, nhưng cũng theo quy định của nhà nước, thu nhập lại là một trong những chỉ tiêu quan trọng hàng đầu để xem xét đánh giá huyện nghèo hay thoát nghèo. Thu nhập cũng là chỉ tiêu cơ bản để công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới. Thu nhập cũng là chỉ tiêu quan trọng để công nhận cấp đô thị (ví dụ đô thị loại II phải có thu nhập bình quân đầu người tối thiểu gấp 1,4 lần thu nhập bình quân cả nước). Vì vậy, các huyện tính được và có chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người cũng tốt. Hoặc chí ít, những huyện nào tính được thu nhập trong phần đánh giá nhiệm kỳ 2015-2020 thì cũng nên tính toán đưa vào chỉ tiêu nhiệm kỳ 2020-2025 (để ở phần chính thức, không để ở phần phụ lục).
- Chỉ tiêu về giáo dục-đào tạo. Đa số nghị quyết HĐND các huyện có chỉ tiêu về giáo dục, một số không có, còn dự thảo báo cáo chính trị đại hội đều có chỉ tiêu giáo dục, nhưng nội dung ít nhiều khác nhau. Có huyện là chỉ tiêu tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia, có huyện thêm chỉ tiêu tỷ lệ xã phổ cập giáo dục theo cấp học, có huyện có cả chỉ tiêu xóa mù chữ... Đa số các huyện có chỉ tiêu bằng con số đối, đó là số lao động được đào tạo trong năm, hoặc bình quân năm, một số huyện có chỉ tiêu tỷ lệ lao động qua đào tạo, trong đó có huyện tách tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ, có huyện không tách;
- Chỉ tiêu về y tế. Cả hai hệ thống đảng và chính quyền, đa số huyện có chỉ tiêu tăng thêm số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, chỉ tiêu về tỷ lệ xã đạt chuẩn y tế, chỉ tiêu tỷ lệ tham gia BHYT, một số có chỉ tiêu tỷ lệ bác sĩ, giường bệnh/1 vạn dân. Cá biệt có huyện chỉ có chỉ tiêu về tỷ lệ tiêm chủng trẻ em
- Chỉ tiêu về văn hóa. Huyện nào cũng có chỉ tiêu về tỷ lệ hộ đạt tiêu chí gia đình văn hóa. Còn chỉ tiêu tỷ lệ bản, tổ khu phố, cơ quan đạt danh hiệu Văn hóa thì cả hai hệ thống đảng và chính quyền huyện có, huyện không.
- Chỉ tiêu về thu ngân sách. Tất cả các huyện, thành phố đều có chỉ tiêu thu ngân sách tính bằng tỷ đồng, huyện nhiều, huyện ít khác nhau. Nhưng không huyện nào có chỉ tiêu phấn đấu về tỷ lệ tự cân đối. Có khi huyện A có số thu tuyệt đối cao hơn huyện B, nhưng tỷ lệ tự cân đối lại thấp hơn. Ví dụ, huyện Thuận Châu có số thu trên địa bàn đứng thứ 10 trong toàn tỉnh, nhưng tỷ lệ tự cân đối lại đứng thứ 12 (cuối cùng).
Tình hình các chỉ tiêu như trên rất khó lấy làm căn cứ để so sánh giữa các huyện với nhau. Trong lúc có một số huyện đặt ra mục tiêu phấn đấu về thứ hạng phát triển trong khối huyện, thành phố. Để đánh giá thứ hạng phát triển của một huyện thì hai chỉ tiêu cơ bản không thể bỏ qua, đó là chỉ tiêu thu nhập bình quân và chỉ tiêu tự cân đối ngân sách.
3. Khuyến nghị
Các huyện rất cần được Tỉnh (Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh) rà soát, chỉ đạo, hướng dẫn thống nhất:
- Hệ thống chỉ tiêu trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm và hàng năm do HĐND huyện ra nghị quyết. Hệ thống chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội do đại hội đảng bộ cấp huyện  quyết định. Hệ thống chỉ tiêu giữa HĐND và đảng bộ, cấp ủy huyện.
- Nên thống nhất các chỉ tiêu cơ bản cả về nội dung, phương pháp tính toán, đơn vị đo lường, còn các chỉ tiêu đặc thù thì tùy từng huyện.
- Thống nhất đưa nghị quyết HĐND của tất cả các huyện và thành phố về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm và hàng năm trên cổng thông tin điện tử UBND tỉnh và UBND các huyện, thành phố.
                                                                                    Phan Đức Ngữ
                                                                  CVCC, PCT Liên hiệp các hội KH&KT tỉnh.

 

     (1).    Nội dung Bài viết trên đã được tác giả phản ánh với thường trực Tỉnh ủy. 
 
 
       

Số lần đọc : 508   Cập nhật lần cuối: 11/04/2020

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 10034963

Số người Onlne: 32