Nghiên cứu → Giáo dục - Đào tạo

Một số vấn đề cơ bản, cấp bách của công tác dân tộc ở Sơn La hiện nay


 

 

Một số vấn đề cơ bản, cấp bách của công tác dân tộc
ở Sơn La hiện nay
                                                                                                           Minh Hiến

 

Sơn La là một tỉnh miền núi biên giới phía Tây Bắc của Việt Nam; diện tích tự nhiên 14.174 km2, là tỉnh có diện tích lớn đứng thứ ba toàn quốc; có trên 250 km đường biên giới giáp với tỉnh Hủa Phăn, Luông Pha Bang nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào anh em. Sơn La có trên 1,2 triệu dân với 12 dân tộc anh em chung sống, trong đó trên 80% dân số là dân tộc thiểu số; có dân tộc Thái chiếm trên 56% dân số cả tỉnh. Sơn La có 11 huyện, 01 thành phố; 204 xã, phường, thị trấn; 3.234 bản, tiểu khu, tổ dân phố; trong đó có 5 huyện nghèo; 112 xã, 1.708 bản có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, có 17 xã, 305 bản giáp biên giới, thuộc 6 huyện.

Với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng, bộ mặt kinh tế, đời sống và văn hoá các dân tộc của Sơn La không ngừng đổi thay nhanh chóng. Trong  năm 2017 cả tỉnh đã có những bước tiến lớn về mọi mặt, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 9,59%, thu ngân sách trên địa bàn tỉnh trên 4.459 tỷ đồng, tăng 453 tỷ đồng so với năm 2016, cũng là năm tăng trưởng cao trong 5 năm trở lại đây. Giá trị sản xuất công nghiệp đạt 8.446 tỷ đồng tăng 12,43% so với năm 2016. Là một Năm tỉnh đánh dấu sự tập trung cao cho phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ, đẩy mạnh ứng dụng kỹ thuật ghép cây ăn quả để cải tạo vườn tạp và phát triển cây trồng trên đất dốc; sản lượng cây ăn quả đạt gần 119.000 tấn. Toàn tỉnh có 315 hợp tác xã nông nghiệp, trong đó 30 hợp tác xã trồng cây ăn quả, 16 hợp tác xã rau củ, 47 chuỗi sản xuất và tiểu thụ sản phẩm nông nghiệp an toàn, ổn định góp phần nâng cao đời sống người dân nhất là ở nông thôn.

Công tác quản lý nhà nước về văn hóa – xã hội tiếp tục được tăng cường, có nhiều tiến bộ; truyền thống và bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc trong tỉnh được giữ gìn và phát huy; nhiều lễ hội truyền thống được phục dựng gắn với phát triển văn hóa cộng đồng và du lịch sinh thái. Tiếp tục thực hiện tốt chính sách dân tộc, chính sách an sinh xã hội và giảm nghèo bền vững; chất lượng giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe nhân dân được nâng cao. Hiện có 231 trường học bán trú tổ chức nấu ăn tập trung cho học sinh góp phần nâng cao chất lượng giáo dục thể chất và chất lượng học tập ở vùng cao, dân tộc thiểu số, tỷ lệ học sinh bỏ học giảm thiểu so với nhiều năm. Năm 2017, việc sắp xếp ổn định dân cư tại các xã, bản đặc biệt khó khăn, vùng tái định cư thủy điện Sơn La và chuyển bị điều kiện triển khai đề án “Ổn định dân cư, phát triển kinh tế xã hội vùng tái định cư dự án thủy điện Sơn La”. Tích cực đầu tư cấp điện từ lưới điện Quốc gia cho các hộ dân khu vực chưa có điện, đưa tỷ lệ số hộ được sử dụng điện lưới Quốc gia cả tỉnh lên 91,5% trong năm 2017.

 Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) bình quân đầu người đạt 32,8 triệu đồng/người/năm, tăng 2,6 triệu đồng so với năm 2016. Có thể khẳng định bộ mặt đời sống kinh tế xã hội Sơn La không ngừng được cải thiện tiến bộ, đồng bào dân tộc thiểu số ở Sơn La thay đổi căn bản, toàn diện cả đời sống vật chất và tinh thần.

Bên cạnh những thành tựu, thuận lợi nêu trên, hiện tại công tác dân tộc nói chung, đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Sơn La nói riêng cũng còn đứng trước những khó khăn, thách thức lớn, đó là:

(1) Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thiết yếu ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số chưa được đầu tư hoàn thiện, nhất là vùng cao, vùng biên giới đặc biệt khó khăn. Còn nhiều bản đường đi lại tới trung tâm xã vẫn khó khăn, nhất là vào mùa mưa. Nhiều tuyến đường từ xã đến huyện chưa được đầu tư, nâng cấp chỉ đi được vào mùa khô; còn nhiều diện tích đất canh tác của các bản, xã vùng dân tộc thiểu số chưa có mạng lưới tưới tiêu, chủ yếu phụ thuộc vào nước tự nhiên. Cả tỉnh vẫn còn gần 10% bản chưa được dùng điện lưới quốc gia; các trường tiểu học, trạm xá ở một số xã vùng cao chưa được kiên cố hóa; số bản chưa có nhà văn hóa và nhà sinh hoạt cộng đồng còn lớn (Trên 30%); hộ chưa có điện thoại, chưa kết nối mạng internet còn phổ biến.

(2) Kinh tế, đời sống của một bộ phận lớn đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh vẫn còn khó khăn, khoảng cách về điều kiện sống và tỷ lệ hộ nghèo giữa các dân tộc ngày càng lớn; đây là một vấn đề khó khăn, thách thức to lớn về vận động thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo nhanh và bền vững. Trong tỉnh vẫn còn 5/12 huyện nghèo, toàn quốc là còn 7,0%, thì ở Sơn La vẫn trên 30% (Năm 2015); trong đó có dân tộc thiểu số vẫn còn tỷ lệ nghèo lớn trên 45% (Như dân tộc Mông, Khơ Mú, Xinh Mun, Kháng, La Ha), thậm chí vẫn còn có vùng thiếu gạo ăn, nhất là vào vụ giáp hạt cần phải có sự hỗ trợ của Nhà nước.

(3) Diện tích đất ở, đất sản xuất và phục vụ cộng đồng ở các vùng dân tộc thiểu số ngày càng thu hẹp; xuất hiện một bộ phận không nhỏ đồng bào thiếu đất đai cho sản xuất, tình trạng chanh chấp, khiếu kiện; di dịch cư tự do tìm “không gian sinh tồn” theo truyền thống vẫn diễn ra, gây tâm tư lo lắng và ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân với chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước.

(4) Chất lượng giáo dục ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn thấp, tỷ lệ trẻ em dân tộc thiểu số không được đi học đúng độ tuổi còn cao (Cấp tiểu học 11,2%; cấp trung học cơ sở 27,4%; cấp trung học phổ thông 67,7%). Trình độ học vấn của các giáo viên dân tộc thiểu số còn thấp so với mặt bằng chung; tỷ lệ các trường đạt chuẩn quốc gia về giáo dục ở các xã có nhiều dân tộc thiểu số còn ít; tỷ lệ học sinh bỏ học ở các vùng cao, dân tộc thiểu số còn cao.

(5) Văn hóa truyền thống ở một số vùng dân tộc thiểu số đang bị mai một, một số tập tục lạc hậu vẫn còn tồn tại. Đến nay, còn ít hộ dân tộc giữ được nếp nhà truyền thống; hiện tượng tảo hôn vẫn còn phổ biến, tỷ lệ tảo hôn cao ở một số dân tộc ở địa phương như dân tộc Mông, Xinh Mun, La Ha… đặc biệt tỷ lệ tảo hôn cận huyết thống vẫn hiện hữu ở nhiều vùng kể cả dân tộc thiểu số ở vùng thấp như Thái, Dao, Khơ Mú... Công tác chăm sóc sức khỏe đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn gặp nhiều khó khăn; số trạm y tế xã có bác sĩ chiếm tỷ lệ thấp (dưới 35%); số người dân tộc thiểu số không có bảo hiểm y tế vẫn cao ; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn cao so với các vùng; trên 38% các hộ dân tộc thiểu số vẫn còn thói quen nuôi nhốt gia súc, gia cầm dưới gầm sàn.

(6) Hiện tượng tôn giáo cũng đang phát triển ở một số dân tộc trên địa bàn, nhất là đạo tin lành ở dân tộc Mông; hoạt động của các hiện tượng tôn giáo mới, đạo lạ ở địa bàn vẫn tái diễn và gây phức tạp về an ninh trật tự xã hội.

(7) Chất lượng hệ thống chính trị cơ sở vùng sâu, vùng cao là nơi cư trú dân tộc thiểu số còn thấp, thiếu đội ngũ cán bộ có chất lượng. Cơ cấu cán bộ công chức ở cấp xã tại địa phương thiếu cả về số lượng và chất lượng, cơ cấu dân tộc và giới tính chưa hài hòa. Cán bộ dân tộc thiểu số là lãnh đạo, quản lý ở nhiều cấp từ tỉnh – huyện – xã còn bất cập không tương xứng với dân số, tỷ lệ các dân tộc, cần được quan tâm bố trí hài hòa để tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Chính quyền với nhân dân.

(8) Việc quản lý nhà nước về đất đai và an  ninh trật tự ở các vùng trên địa bàn tỉnh có lúc, có nơi còn hạn chế  bất cập và bộc lộ nhiều yếu kém. Từ năm 2017 đến nay ở nhiều vùng cao, biên giới lực lượng chức năng đã bắt hàng ngàn đối tượng, thu giữ hàng trăm kg ma túy các loại; nhiều vụ buôn lậu, gian lận thương mại hàng hóa bị xử lý và tạm giữ; nhiều đối tượng phạm pháp nghiêm trọng như giết người, cướp của; tình trạng phá rừng, khai thác gỗ, lâm sản trái phép; xâm lấn đất rừng; tranh chấp đất ở, đất sản xuất, mâu thuẫn, khiếu kiện có liên quan đến đất đai ở nhiều địa phương, luôn tiềm ẩn nguy cơ mất an ninh trật tự, kể cả vùng cao biên giới thuần dân tộc thiểu số sinh sống.

Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị và lợi dụng tiếp tục lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo trong đồng bào các dân tộc, can thiệp gây sức ép về vấn đề nhân quyền, quyền của các dân tộc thiểu số ở Sơn La vùng Tây Bắc; chúng gia tăng các hoạt động chống phá gây mất ổn định ở vùng cao biên giới; tuyên truyền về xây dựng nhà nước Mông tự trị; lôi kéo một số người nhẹ dạ cả tin theo họ di cư sang Lào; tuyên truyền theo đạo trái phép chống lại chính sách dân tộc của Đảng.

Những khó khăn, thách thức trên đang đặt ra cho cả hệ thống chính trị của địa phương đòi hỏi phải tăng cường lãnh đạo và tập trung giải quyết đồng bộ những vấn đề cơ bản cấp bách, đó là:

Thứ nhất, Trước hết, phải đặc biệt ưu tiên cho phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc thiểu số; phát triển kinh tế xã hội phải quán triệt sâu sắc đường lối, chính sách của Đảng, gắn với xây dựng nông thôn mới, trên cơ sở qui hoạch cụ thể; phân cấp, phân quyền, phân bổ nguồn lực cho địa phương; đầu tư hoàn thiện kết cấu cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội thiết yếu; hỗ trợ sản xuất, giao đất giao rừng. Đồng thời phải tăng cường kiểm tra, giám sát thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội ở các địa phương đảm bảo các nguồn đầu tư, chương trình dự án thực hiện đúng tiến độ và chất lượng. Quan tâm tổ chức lại sản xuất nông nghiệp ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là vấn đề qui hoạch phát triển sản xuất, liên kết sản xuất giữa các vùng theo hướng phát triển bền vững.Đặc biệt có chính sách đồng bộ hỗ trợ các dân tộc đẩy mạnh việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất dốc bằng cách vận động thay thế các diện tích cây lương thực,cây công nghiệp hiệu quả thấp sang trồng các loại cây ăn quả có chất lượng và nơi tiêu thụ,chế biến,tăng thu nhập cho người dân.

Thứ hai, Đầu tư xây dựng hạ tầng đồng bộ phục vụ sản xuất. Xây dựng chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào chế biến các sản phẩm nông nghiệp ở vùng dân tộc thiểu số làm ra; phát huy vai trò của các đoàn thể ở vùng dân tộc thiểu số trong chủ trì, tổ chức sản xuất nông nghiệp;có các chính sách hỗ trợ sản xuất phải được các đoàn thể, các nhóm sản xuất bàn bạc thống nhất phương thức phát triển thực hiện; ở những nơi  điều kiện kinh tế - xã  hội khó khăn đặc biệt thì nhà nước phải hỗ trợ, giúp đỡ liên kết các hộ, nhóm hộ lại với các doanh nghiệp, tổ chức tín dụng và tổ chức khoa học trong quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm; khuyến khích, khơi dậy phong trào khởi nghiệp của thanh niên dân tộc thiểu số và có cơ chế chính sách hỗ trợ họ lập thân, lập nghiệp, làm ra sản phẩm cho gia đình và xã hội ổn định đời sống,định canh định cư,bảo vệ rừng và môi trường sinh thái.

Thứ ba, Ưu tiên đầu tư phát triển toàn diện kinh tế xã hội đối với các xã là vùng căn cứ kháng chiến trước đây và các xã vùng biên giới, là địa bàn chiến lược, đã có công đóng góp sức người, sức của trong phong trào kháng chiến kiến quốc của dân tộc ; Nhưng trong thời kỳ đổi mới, đồng bào vẫn gặp khó khăn, chênh lệch về mức sống, điều kiện sống ngày càng lớn. Do đó, Đảng, chính quyền các cấp phải có chủ trương, chính sách riêng nhằm đáp ứng mong mỏi của đồng bào các dân tộc ở vùng khó khăn hiện nay.

Thứ tư, Cần tăng cường đầu tư, phát triển văn hóa, giáo dục ý tế ở các vùng dân tộc. Để phát triển văn hóa các dân tộc, giữa gìn và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của họ thì cần phải tạo điều kiện, giúp đỡ, tổ chức cho đồng bào bảo lưu, phục dựng , gìn giữ và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc mình, để văn hóa dân tộc thiểu số thực sự là nền tảng tinh thần và tạo ra động lực trong phát triển kinh tế - xã hội ở đồng bào; đồng thời tạo ra sức đề kháng với văn hóa ngoại lai ;và để phát triển thì giải pháp hữu hiệu nhất là tăng cường đổi mới công tác dân tộc của Đảng trong lĩnh vực văn hóa dân tộc thiểu số (Kể cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần). Phát triển văn hóa dân tộc thiểu số phải đi liền với sự kiên quyết, kiên trì vận động thay đổi tập quán sản xuất, tiết kiệm trong tiêu dùng, cải biến những tập tục lạc hậu trong hiếu, hỷ, lễ hội gây tốn kém tiền của, vật chất, thời gian và xóa bỏ tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống trong các dân tộc.

Thứ năm, Quan tâm  phát triển giáo dục để nâng cao dân trí và chất lượng nguồn nhân lực, tạo điều kiện quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc; khắc phục tình trạng mù chữ, tái mù chữ khá phổ biến ở vùng cao; cần phải có chính sách đầu tư, hỗ trợ cho học sinh dân tộc từ cấp mầm non đến bậc trung học phổ thông, nhất là cho các xã đặc biệt khó khăn, các vùng căn cứ kháng chiến. Từng bước nâng cao phát triển y tế vùng dân tộc thiểu số để nâng cao chất lượng sức khỏe cho nhân dân, trong đó chú trọng đầu tư cơ sở y tế, đào tạo đội ngũ bác sĩ là người dân tộc thiểu số ở địa phương đó mới phục vụ lâu dài cho các dân tộc thiểu số; hỗ trợ, khuyến khích đồng bào tham gia bảo hiểm y tế; trồng, chế biến và sử dụng các loại thuốc dân gian; vận động đồng bào dân tộc thiểu số giữ gìn vệ sinh môi trường và phòng chống dịch bệnh.

Thứ sáu, Cần đặc biệt quan tâm đổi mới hệ thống chính trị ở cơ sở xã và đội ngũ cán bộ công chức người dân tộc thiểu số; trước mắt cần tăng cường cán bộ tâm huyết, trách nhiệm, có trình độ chuyên môn, có năng lực vận động chính trị quần chúng cho các xã đặc biệt khó khăn; tăng cường, bồi dưỡng cán bộ bản về các nội dung phương pháp vận động quần chúng nhân dân thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng. Đồng thời chú trọng lãnh đạo việc thể chế hóa các quan điểm, đường lối,chủ trương của Đảng về công tác dân tộc ở mỗi vùng, mỗi dân tộc một cách cụ thể thì chính sách mới đi vào thực tế cuộc sống. Củng cố hệ thống tổ chức cán bộ làm công tác dân tộc, nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lí nhà nước về chính sách dân tộc; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, của nhân dân trong thể chế hóa và tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc ở các xã,bản có đông đồng bào dân tộc thiểu số.

Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước là vấn đề chiến lược lâu dài. Tỉnh Sơn La là một tỉnh dân tộc thiểu số, qua thực tế và nghiên cứu hiện nay công tác dân tộc đã và đang đặt ra những vấn đề cơ bản cấp bách, cần coi trọng công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học chuyên đề về dân tộc,tập quán,lối sống,truyền thống văn hóa và lịch sử tộc người và  từ đó có quy hoạch ,hoạch định chính sách dân tộc chung và riêng với mỗi vùng,mỗi dân tộc cụ thể của Tỉnh ta mà có chính sách ưu tiên với các dân tộc thiểu số mới có hiệu quả,sớm  thể hòa nhập cùng tiến lên trong thời kỳ hội nhập Quốc tế hiện nay./.

 

 

 

Số lần đọc : 313   Cập nhật lần cuối: 27/01/2018

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 3949532

Số người Onlne: 20