Nghiên cứu → Khoa học - Công nghệ

Một số thành tựu về hoạt động nghiên cứu, ứng dụng KH&CN của tỉnh Sơn La trong 30 năm đổi mới


MỘT SỐ THÀNH TỰU VỀ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA TỈNH SƠN LA TRONG 30 NĂM
 THỰC HIỆN CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI (1986 - 2015)
 TS. Nguyễn Minh Đức - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ  Sơn La
* * *
Trong mấy chục năm trở lại đây, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi mỗi quốc gia trên thế giới phải đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ để phát triển đất nước. Mọi dân tộc đều ý thức được rằng: khoa học và công nghệ là đòn bẩy quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội theo hướng văn minh, hiện đại. Những thành công của Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc và nhiều nước trên thế giới đã chứng minh điều đó. Đầu tư cho khoa học chính là đầu tư để phát triển bền vững cho cả hiện tại và tương lai. Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa XI cũng đã khẳng định: “Khoa học và công nghệ là vấn đề đặc biệt quan trọng, là quốc sách hàng đầu, là động lực để phát triển kinh tế - xã hội”.
Sơn La là một tỉnh miền núi và biên giới phía Tây Bắc Việt Nam; có vị trí chiến lược về an ninh quốc phòng; có nhiều lợi thế về đất đai, khí hậu để phát triển các sản phẩm nông sản chất lượng cao gắn với công nghiệp chế biến. Đồng thời, với vai trò và vị thế là trung tâm của vùng Tây Bắc; Sơn La luôn nhận được sự quan tâm của Trung ương Đảng, Chính phủ, các Bộ Ngành Trung ương, sự giúp đỡ của các cơ quan nghiên cứu khoa học và công nghệ trong cả nước. Chính vì vậy, hoạt động khoa học và công nghệ (KH & CN) của Sơn La trong những qua có sự phát triển mạnh mẽ, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Trong 30 năm đổi mới, nhất là trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay qua, nhờ ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, từ một tỉnh miền núi đặc biệt khó khăn, Sơn La đã nỗ lực làm bật dậy những tiềm năng, tạo những bước đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội. Nền kinh tế của tỉnh luôn giữ được thế ổn định và có nhiều mặt phát triển và tiến bộ.
 Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) theo giá so sánh đã tăng từ 1.837 tỷ đồng (năm 2000) lên 14.566,5 tỷ đồng (năm 2010) và 38.904 tỷ đồng (năm 2015). Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt bình quân trên 12%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ: tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng nông - lâm nghiệp. Thu ngân sách trên địa bàn tăng từ tỷ đồng 111,5 tỷ đồng (năm 2000) lên 14.566,5 tỷ đồng (năm 2010) và 3.373 tỷ đồng (năm 2015). Thu nhập bình quân đầu người đã tăng từ 2,25 triệu đồng (năm 1986) lên 13,25 triệu đồng (năm 2010) và 26,4 triệu đồng (năm 2015).
Nhờ ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ, Sơn La đã lựa chọn được nhiều giống cây trồng và vật nuôi có giá trị kinh tế cao, phù hợp với điều kiện về đất đai, khí hậu của tỉnh. Từ năm 2000 đến nay, thông qua các chương trình nghiên cứu khoa học của các cơ quan trung ương, của các địa phương và doanh nghiệp trên địa bàn; bình quân mỗi năm đã có từ 10 - 15 đề tài, dự án được nghiên cứu, ứng dụng vào sản xuất. Bằng việc sử dụng giống mới, sử dụng công nghệ sinh học và áp dụng các quy trình sản xuất tiên tiến; sản lượng và năng suất của nhiều loại cây trồng đều tăng: Sản lượng lương thực có hạt tăng từ 82 ngàn tấn (năm 1986) lên 244 ngàn tấn (năm 2000) và 770 ngàn tấn (năm 2015). Năng suất lúa tăng từ 14,6 tạ/ha (năm 1990) lên 26 tạ/ha (năm 2000) và 34 tạ/ha (năm 2015). Như vậy, sau 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới (1986 - 2015); sản lượng lương thực đã tăng gấp 9,4 lần, năng suất cây trồng đã tăng từ 2,2 đến 3 lần. Nhiều sản phẩm nông sản đặc sản của Sơn La đã và đang khẳng định được thương hiệu trên thị trường trong và ngoài nước như: Chè Shan tuyết Mộc Châu, sữa Mộc Châu, mía đường Mai Sơn, xoài và chuối Yên Châu, cà phê Sơn La, rau hoa chất lượng cao Mộc Châu, táo mèo Sơn La, nhãn ghép Sông Mã, ngô tẻ đỏ Sơn La, gạo nếp tan Mường Chanh Mai Sơn, Mận hậu và Hồng giòn Mộc Châu, khoai sọ Cụ Cang Thuận Châu, mật ong Sơn La, chè Tà Xùa Bắc Yên, Cam Mường Thải Phù yên, …
Nhiều tiến bộ khoa học và công nghệ mới đã được đưa vào ứng dụng trong chăn nuôi và đánh bắt thủy sản. Sản lượng sản phẩm thịt hơi xuất chuồng của tỉnh năm 2000 mới là 10.900 tấn; năm 2015 đã đạt 54.230 tấn, tăng 4,97 lần so với năm 2000. Sản lượng thủy sản nuôi trồng năm 2000 là 1.638 tấn; năm 2015 đạt 5.472 tấn; tăng 3,3 lần so với năm 2000. Sản lượng đánh bắt thủy sản năm 2000 là 543 tấn; năm 2014 đạt 1.105 tấn; tăng hơn 2 lần so với năm 2000.
Với thế mạnh là công nghiệp chế biến, công nghiệp khai khoáng, công nghiệp sản xuất và phân phối điện; trong những năm qua, công nghiệp Sơn La đã có sự phát triển vượt bậc cả về giá trị và tỷ trọng trong tổng GRDP của tỉnh. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 1986 mới đạt 251 triệu đồng, tăng lên 3.422 đồng (năm 2010)  và năm 2015 là 6.706 tỷ đồng (giá so sánh 2010). Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2015 tăng gần gấp 2 lần so với năm 2010 và gấp khoảng 26,7 lần so với năm 1986. Nhiều công nghệ mới đã được ứng dụng vào sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế cao. Tỷ trọng công nghiệp trong tổng sản phẩm trong tỉnh đã tăng từ 7,27% (năm 1990) lên 9,49% (năm 2000) và 34,54% (năm 2015).
Bên cạnh những thành tựu to lớn trong sản xuất nông nghiệp và công nghiệp; hoạt động thương mại, du lịch, dịch vụ của tỉnh cũng có nhiều chuyển biến tích cực, đóng góp nguồn thu đáng kể cho ngân sách; giáo dục, y tế, văn hóa - xã hội luôn được quan tâm đúng mức; quốc phòng an ninh được tăng cường, bảo vệ vững chắc chủ quyền, biên giới quốc gia; tạo tiền đề quan trọng để phát triển trong những năm tiếp theo.
Có thể điểm qua một số thành tựu nổi bật trong hoạt động nghiên cứu, ứng dụng KH&CN của tỉnh Sơn La trong 30 năm thực hiện công cuộc đổii mới như sau:
1. Trong lĩnh vực điều tra cơ bản:
Các hoạt động khoa học tập trung vào việc triển khai một số đề tài nghiên cứu như: “Xây dựng cơ sở dữ liệu và bản đồ số hóa về tai biến địa chất, tài nguyên khoáng sản”; “Điều tra, nghiên cứu các hiện tượng tai biến trượt đất và lũ quét tại các vùng trọng điểm của tỉnh”, … Thông qua kết quả thực hiện các đề tài đã xác định được 276 mỏ và điểm quặng, thuộc 38 loại hình khoáng sản trên địa bàn tỉnh; xây dựng được bản đồ hiện trạng tai biến trượt đất và lũ quét tỷ lệ 1:50.000. Các nghiên cứu về sương muối, về các điều kiện tự nhiên khí hậu, thổ nhưỡng, địa chất thủy văn, … là cơ sở khoa học để hoạch định các mục tiêu chiến lược, triển khai các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn toàn tỉnh nói chung và của mỗi huyện, thành phố nói riêng.
2. Trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn:
Các đề tài nghiên cứu đã tập trung xây dựng luận cứ khoa học cho các Nghị quyết của các cấp ủy Đảng, làm cơ sở cho việc hoạch định các chủ trương, chính sách và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của chính quyền các cấp; điều chỉnh một số nội dung trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong điều kiện xây dựng thuỷ điện Sơn La và hội nhập kinh tế quốc tế; nghiên cứu phát huy các di sản văn hóa, tiềm năng du lịch phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng. Có thể điểm qua một số kết quả nổi bật như sau:
- Đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp, mô hình ứng dụng khoa học, công nghệ để chuyển dịch kinh tế nông lâm nghiệp tỉnh Sơn La” đã được ngành Nông nghiệp & PTNT triển khai ứng dụng trong công tác quy hoạch ngành, quy hoạch các cây con chủ lực, trong các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm và khuyến ngư rất hiệu quả.
- Các đề tài: "Nghiên cứu đề xuất những chủ trương và giải pháp giải quyết vấn đề truyền học đạo ở một bộ phận đồng bào dân tộc Mông tỉnh Sơn La"; “Những vấn đề tín ngưỡng và tôn giáo của dân tộc Mông; “ Nghiên cứu thực trạng và giải pháp giải quyết tình hình di cư tự do của đồng bào Mông tỉnh Sơn La”, … là cơ sở khoa học để các cấp, các ngành đề ra các chủ trương chính sách trong quá trình triển khai thực hiện cuộc vận động nhân dân không truyền đạo, học đạo trái pháp luật, xây dựng đời sống văn hóa ở vùng cao, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số.
  - Kết quả đề tài: “Thiết kế phần mềm bộ font chữ thái Sơn La” trên máy tính để sử dụng trong việc viết, dịch thuật, biên tập, in bài … đã được ứng dụng rộng rãi để xây dựng chương trình phát thanh, truyền hình tiếng Thái trên sóng phát thanh và truyền hình của các tỉnh và Trung ương. Đồng thời, một số địa phương đã sử dụng phần mềm này để biên soạn các văn bản, các tài liệu giảng dạy tiếng dân tộc Thái.
- Đề tài: “Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Sơn La” đã được Bảo tàng tỉnh và các đơn vị trong Ngành Văn hóa - thể thao và du lịch triển khai ứng dụng.
  - Một số đề tài nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn khác như: “Nghiên cứu giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc Thái ở Sơn La trong quá trình hội nhập”; Nghiên cứu biên soạn “Địa chí Sơn La”; “Nghiên cứu giải pháp xây dựng mô hình phát triển du lịch cộng đồng nhằm bảo tồn văn hoá, giảm nghèo và bảo vệ môi trường tỉnh Sơn La”; “Nghiên cứu tiềm năng du lịch sinh thái và nhân văn huyện Quỳnh Nhai”;… đã đề cập đến những nội dung sát với thực tiễn, có hiệu quả đối với cộng đồng dân cư, cung cấp những luận cứ khoa học về địa nhân văn, góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của tỉnh, thúc đẩy phát triển du lịch bền vững.
  3. Trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn:
  Khoa học và công nghệ đã phục vụ đắc lực cho phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng CNH, HĐH. Nhiều mô hình ứng dụng tiến bộ KH & CN đã được nhân rộng và đạt hiệu quả kinh tế cao như: Trồng và sản xuất hoa ôn đới theo quy trình công nghệ cao, sản xuất rau cao cấp bằng công nghệ của Hà Lan; sản xuất các giống ngô lai chịu hạn tại Sơn La; tuyển chọn trên 50 giống lúa mới đưa vào phục vụ sản xuất, năng suất tăng từ 1,8 - 3,2 lần so với các giống thông thường; chuyển giao các kỹ thuật canh tác trên đất dốc; trồng và nhân giống hồng giòn MC-1; nhân giống và nuôi lợn rừng, lợn lai thương phẩm; nuôi cá hồi và ba ba; Trồng nguyên liệu và chế biến chè Actiso; Trồng măng tre điền trúc; Trồng song, mây thương phẩm, … Có thể điểm qua một số đề tài và dự án thử nghiệm có giá trị như:
- Đề tài “Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật nhằm phát triển các giống lúa chất lượng cao cho một số vùng của tỉnh” và đề tài “Nghiên cứu phục tráng các giống lúa nếp Tan Hin, Tan Lo, Săm Pa Tong tại huyện Sốp Cộp”. Kết quả của các đề tài là cơ sở xây dựng vùng lúa hàng hóa và xây dựng thương hiệu cho sản phẩm lúa đặc sản của một số địa phương trong tỉnh.
- Đề tài “Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật đưa giống ngô mới vào sản xuất (LVN10, BIOSIS, HQ 2000...)”. Qua nghiên cứu và thực hiện thành công đề tài, Công ty cổ phần Nông nghiệp Chiềng Sung đã tổ chức sản xuất hàng chục giống ngô lai cung cấp cho thị trường trong nước và các tỉnh Bắc Lào.
- Dự án “Xây dựng mô hình sản xuất rau ứng dụng công nghệ tiên tiến của Hà Lan tại Mộc Châu”. Kết quả của mô hình đã được nhân rộng cho hàng trăm hộ nông dân để sản phẩm rau chất lượng cao cung cấp cho thị trường (trung bình 1,5 tấn /ngày) với thương hiệu “Mộc Châu xanh” tại các siêu thị lớn tại Hà Nội.
- Đề tài “Ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất giống, nuôi trồng, chế biến, nhân giống các loại nấm tại Sơn La”. Đề tài là cơ sở xây dựng các mô hình sản xuất nấm thương phẩm, đem lại thu nhập cao cho nhiều hộ gia đình. Đồng thời kết quả của đề tài cũng đã được chuyển giao để xây dựng mô hình sản xuất giống và nấm thương phẩm tại hai tỉnh Uđômxay và Hủa Phăn (thuộc nước CHDCND Lào).
- Dự án “Ứng dụng quy trình công nghệ ghép và xây dựng mô hình thâm canh cà chua ghép trái vụ tại Mộc Châu” đã góp phần giải quyết khó khăn về nguồn giống cà chua trái vụ của của Miền Bắc. Đây là mô hình sản xuất mới, tiên tiến trên thế giới và Việt Nam. Ngoài ra dự án cũng đã thu hút hàng trăm lao động tham gia vào mô hình sản xuất cây giống tại địa bàn huyện Mộc Châu và đang dự kiến triển khai tại thành phố Sơn La trong những năm tới.
- Dự án “Xây dựng mô hình trồng thử nghiệm giống hồng giòn MC1 tại  huyện Mộc Châu”, thực hiện từ năm 2007 đến năm 2010 cho thu hoạch. Kết quả của dự án đã khẳng định sự phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu của một giống cây ăn quả mới được nhập khẩu từ Nhật Bản; đồng thời đã hoàn thiện được các quy trình: nhân giống, trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, chuyển giao kỹ thuật cho nhân dân trong vùng và nhiều địa phương khác của tỉnh. Dự án thử nghiệm thành công đã đóng góp cho ngành nông nghiệp Sơn La một cây trồng mới, có hiệu quả kinh tế cao với mức doanh thu trung bình trên 100 triệu đồng/ha/năm.
- Dự án “Xây dựng mô hình ghép giống nhãn chất lượng cao để chuyển đổi diện tích nhãn cũ trên địa bàn huyện Sông Mã” đã góp phần chuyển đổi trên 4.000 ha nhãn năng suất thấp thành sản phẩm có giá trị và danh tiếng trên thị trường, tạo thêm việc làm và nâng cao thu nhập cho hàng trăm hộ nông dân. Mô hình này đang được tiếp tục nhân rộng trên địa bàn toàn tỉnh.
Trong lĩnh vực chăn nuôi, đã ứng dụng thành công kỹ thuật cấy chuyển phôi bò sữa thuần chủng tại Công ty cổ phần giống bò sữa Mộc Châu; nghiên cứu nguồn thức ăn và cách điều trị một số bệnh cho bò sữa, bò thịt; nghiên cứu thử nghiệm nuôi một số giống cá chim trắng; nhân giống cá rô phi đơn tính, ba ba gai; sản xuất giống cá lăng chấm, nuôi thử nghiệm cá hồi, cá tầm; nâng cao chất lượng và hiệu quả thụ tinh nhân tạo cho trâu, bò, lợn;  phát triển các mô hình chăn nuôi gia súc gia cầm theo quy mô trang trại tập trung, … Thông qua việc ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ mới, nguồn thực phẩm sạch trong tỉnh khá dồi dào, cơ bản đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa.
4. Trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng:
Đã tập trung nghiên cứu ứng dụng tiến bộ KH & CN trong công nghiệp chế biến nông sản để tạo ra các sản phẩm hàng hóa có giá trị (như chè, sữa, đường, tinh bột sắn, ngô sấy, rượu mận, rượu sơn tra, mứt mận, ...). Trong giao thông đã nghiên cứu thiết kế, sử dụng nguồn nguyên liệu địa phương để xây dựng kết cấu mặt đường phù hợp với điều kiện từng vùng trên địa bàn tỉnh. Trong xây dựng đã triển khai ứng dụng thành công công nghệ sản xuất các sản phẩm gạch không nung, bê tông nhẹ và các sản phẩm vật liệu xây dựng khác. Có thể điểm qua một số kết quả như sau:
- Trong công nghiệp chế biến: Dự án “Ứng dụng công nghệ làm lạnh và sản xuất sữa tươi thanh trùng tại Công ty Giống bò sữa Mộc Châu” đã góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm sữa an toàn vệ sinh, đem lại lợi ích cho người tiêu dùng.
Các dự án khoa học: Sản xuất rượu mận hậu Mộc Châu bằng công nghệ Pháp; Sản xuất mứt mận thành sản phẩm ăn liền tại Hợp tác xã dịch vụ Nông nghiệp 19-5 huyện Mộc Châu; Ứng dụng công nghệ trong chế biến các sản phẩm đồ uống từ quả sơn tra tại Công ty cổ phẩn Bắc Sơn huyện Bắc Yên; Ứng dụng công nghệ Đài Loan, Nhật Bản trong sản xuất và chế biến chè xuất khẩu tại Mộc Châu, ... đã góp phần nâng cao chất lượng và làm tăng giá trị các sản phẩm được chế biến từ nguyên liệu của địa phương, tạo được uy tín đối với người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh.
- Trong công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, các đề tài: Ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất gạch không nung tại Mộc Châu; Sử dụng công nghệ sản xuất bê tông nhẹ bằng nguyên liệu địa phương, … đã mở ra triển vọng sản xuất vật liệu xây dựng bằng nguyên liệu có sẵn tại địa phương, góp phần bảo vệ môi trường.
5. Trong lĩnh vực thông tin và truyền thông:
KH&CN hướng vào việc khuyến khích đầu tư công nghệ mới, nâng cấp và mở rộng hệ thống mạng lưới viễn thông trên toàn tỉnh. Đến nay, tại thành phố và trung tâm các huyện đều đã có hệ thống VIBA. Công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi trong dịch vụ liên lạc và truyền tin, đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt trong tỉnh, trong nước và thế giới. 100% số xã có điện thoại cố định và di động.
Trong ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT): đã xây dựng cổng thông tin cho tất cả các Sở, Ban, Ngành và UBND các huyện, thành phố; ứng dụng CNTT trong lĩnh vực khám chữa bệnh, phòng, chống dịch và trong công tác quản lý, sử dụng thuốc; ứng dụng CNTT phục vụ công tác quản lý, tác nghiệp, biên soạn chương trình, tài liệu giảng dạy; ứng dụng CNTT trong lĩnh vực quảng bá du lịch, phát triển thương mại; ứng dụng CNTT trong phục vụ công tác an ninh, quốc phòng, ... 
6. Trong lĩnh vực y tế và bảo vệ sức khỏe nhân dân:
Hoạt động KH&CN đã hướng vào các giải quyết các vấn đề trong công tác khám chữa bệnh, bảo vệ sức khoẻ, ngăn chặn các dịch bệnh nguy hiểm, kết hợp y học cổ truyền dân tộc với y học hiện đại, khai thác và phát triển nguồn nguyên liệu và dược liệu tại địa phương, ... Điển hình là đề tài nghiên cứu giải pháp hỗ trợ đối với bệnh nhân phong; điều tra các bài thuốc, cây thuốc của đồng bào dân tộc Thái, Mông; ứng dụng và làm chủ các phương pháp phẫu thuật nội soi; ứng dụng khai thác sử dụng hiệu quả các thiết bị chạy thận nhân tạo; khai thác và sử dụng các trang thiết bị X quang, cộng hưởng từ, thiết bị xạ trị, siêu âm đa chiều và các thiết bị công nghệ cao khác, …
7. Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường:
Hoạt động KH&CN tập trung vào việc xây dựng các mô hình quản lý, khai thác, sử dụng các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung ở các vùng nông thôn của tỉnh; nghiên cứu các hiện tượng trượt đất và lũ quét tại các vùng trọng điểm; ứng dụng và chuyển giao công nghệxử lý chất thải nguy hại tại các bệnh viện, xử lý và chế biến chất thải rắn của các khu đô thị và các khu dân cư tập trung trong tỉnh, …
8. Trong lĩnh vực phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật:
Thông qua nhiều hoạt động, đặc biệt là Hội thi sáng tạo kỹ thuật toàn tỉnh định kỳ 02 năm một lần đã góp phần thúc đẩy phong trào phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật trong nhiều lĩnh vực của sản xuất và đời sống xã hội. Hàng năm, toàn tỉnh có hàng trăm sáng kiến cấp cơ sở và hàng chục giải pháp kỹ thuật được ứng dụng vào sản xuất và đời sống; đem lại hiệu quả thiết thực. Ngày 13/11/2014, UBND tỉnh đã ban hành quyết định về “Quy trình công nhận sáng kiến trên địa bàn tỉnh Sơn La”. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động sáng tạo và sáng kiến trong tỉnh.
9. Trong lĩnh vực quản lý nhà nước về KH&CN:
Công tác quản lý nhà nước về KH&CN trên địa bàn tỉnh những năm qua đã được quan tâm đổi mới theo hướng nâng cao hiệu quả, phù hợp với xu thế xã hội hóa và phát huy được tính chủ động của các cấp, các ngành trong tỉnh; đồng thời cũng đã được tăng cường trên tất cả các lĩnh vực: quản lý khoa học, quản lý công nghệ, sở hữu trí tuệ, an toàn bức xạ và hạt nhân, tiêu chuẩn đo lường và chất lượng, thông tin KH&CN,… Nổi bật là hoạt động nghiên cứu triển khai các đề tài, dự án KH&CN. Giai đoạn 1986 - 2014, tỉnh Sơn La đã triển khai thực hiện 420 đề tài, dự án KH&CN; bình quân là 14 đề tài, dự án/năm. Riêng trong giai đoạn từ năm 2006 - 2014 đã có 158 đề tài, dự án KH&CN được nghiên cứu, ứng dụng; trong đó: Lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp có 69 đề tài, dự án (chiếm 43,7%); lĩnh vực kỹ thuật và công nghệ có 28 đề tài, dự án (chiếm 17,7%); lĩnh vực xã hội và nhân văn, y tế, giáo dục có 61 đề tài (chiếm 38,6%).
10. Về phát triển tiềm lực KH&CN của tỉnh:
- Về nhân lực: Đội ngũ cán bộ KH&CN của tỉnh trong những năm qua được tăng cường về cả số lượng và chất lượng. Hiện nay đội ngũ tri thức toàn tỉnh có trên 2,7 vạn người; trong đó có 1,6 vạn đại học, trên 400 thạc sỹ và tiến sỹ. 
- Về đầu tư phát triển KHCN: Vốn đầu tư tăng cường tiềm lực KHCN tăng đều qua các năm và được sử dụng đúng mục đích, đem lại hiệu quả cao.
- Về các tổ chức KH&CN: trên địa bàn tỉnh có 01 trường đại học, 5 Trường cao đẳng, 01 Trung tâm giống cây trồng vật nuôi, các trại thực nghiệm nông lâm nghiệp, hệ thống trung tâm khuyến nông các cấp, hệ thống các trung tâm phân tích, kiểm nghiệm, kiểm định chuyên ngành ... Riêng Sở Khoa học và Công nghệ Sơn La đã có: Trung tâm ứng dụng và chuyển giao công nghệ, Trung tâm Tin học và thông tin KHCN, Trung tâm Kiểm định đo lường thử nghiệm.
* Một số  hạn chế trên trong hoạt động KH&CN của tỉnh:
- Trình độ công nghệ của nhiều ngành sản xuất còn ở mức thấp.
- Tiềm lực KH&CN chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
- Công tác quản lý nhà nước về KH&CN vẫn còn nhiều bất cập.
- Chưa tạo được sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp trong quản lý hoạt động KH&CN. Một số Hội đồng Khoa học thuộc các ngành và huyện, thành phố còn chưa phát huy được chức năng tư vấn và phản biện khoa học.
- Đội ngũ cán bộ quản lý về KH&CN còn thiếu, yếu. Những chính sách đối với cán bộ công tác vùng sâu, vùng xa chưa thực sự khuyến khích và hấp dẫn.
- Hệ thống chính sách hỗ trợ hoạt động ứng dụng đổi mới công nghệ, chuyển giao công nghệ chưa được hoàn thiện; do đó chưa khuyến khích được các tổ chức và cá nhân tham gia sâu vào các hoạt động ứng dụng chuyển giao tiến bộ KH&CN phục vụ sản xuất và đời sống.
* Một số nhiệm vụ trọng tâm đối với hoạt động khoa học và công nghệ của tỉnh cần tập trung triển khai thực hiện trong thời gian tới:
Thứ nhất, phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền và toàn xã hội về phát triển KH&CN.
Thứ hai, phải tăng cường đầu tư và nâng cao tiềm lực KH&CN của tỉnh
Thứ ba, tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý KH&CN trên địa bàn tỉnh.
Thứ tư, tiếp tục thực hiện đa dạng hóa nguồn kinh phí phát triển KH&CN.
Thứ năm, tập trung xây dựng và phát triển thị trường KH&CN.
Thứ sáu, tiếp tục xây dựng các chính sách khuyến khích phát triển KH&CN.
Thứ bảy, Đẩy mạnh liên kết, hợp tác trong nước và quốc tế về KH&CN.
* * *
Nhìn nhận một cách tổng thể, sau 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, bức tranh kinh tế - xã hội Sơn La nhìn chung đã có những khởi sắc mới; nhưng về cơ bản: nhiều tiềm năng và lợi thế lớn vẫn chậm được khai thác; hoạt động nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ trên nhiều lĩnh vực chưa thực sự đem lại hiệu quả. Sản lượng, năng suất, chất lượng của nhiều sản phẩm hàng hóa và dịch vụ trên nhiều lĩnh vực còn thiếu tính cạnh tranh. Việc xác lập, xây dựng và phát triển thương hiệu sản phẩm chưa được quan tâm đúng mức. Hoạt động quản lý nhà nước đối với lĩnh vực khoa và công nghệ còn nhiều bất cập. Công tác đấu tranh phòng chống xâm phạm quyền Sở hữu trí tuệ còn nhiều hạn chế. Công tác quản lý tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng hàng hóa, an toàn bức xạ chưa thực sự đồng bộ. Đội ngũ cán bộ trên lĩnh vực khoa học và công nghệ của tỉnh còn hạn chế cả về trình độ và năng lực, ít được tiếp cận với các lĩnh vực khoa học và công nghệ mới ở cả trong nước và trên thế giới.

 

Khẳng định những thành tựu; đánh giá một cách đày đủ, khách quan những đóng góp của Ngành khoa học và công nghệ Sơn La với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong 30 năm qua; chỉ ra những hạn chế, tồn tại, những vấn đề cần giải quyết cả ở tầm vĩ mô và vi mô để nâng tầm của các hoạt động khoa học và công nghệ của tỉnh trong những năm tới là nhiệm vụ của các cấp, các ngành, của mọi tổ chức và cá nhân trong tỉnh nhưng trực tiếp là của đội ngũ trí thức, các nhà khoa học, các cán bộ, công chức viên chức Ngành khoa học và công nghệ của tỉnh: Làm thế nào để hoạt động khoa học và và công nghệ ngày càng thiết thực hơn, chất lượng hơn, hiệu quả hơn; thực sự trở thành động lực trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu “Sớm xây dựng  Sơn La trở thành tỉnh phát triển khá trong vùng trung du và miền núi phía Bắc” như Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XIV đã đề ra.!.

Số lần đọc : 1992   Cập nhật lần cuối: 11/08/2016

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 4765873

Số người Onlne: 61