Nghiên cứu → Khoa học - Công nghệ

Một số chỉ dẫn quý báu của Bác Hồ về Khoa học - Công nghệ và Trí thức


                                                                                                                                                   Phan Đức Ngữ

                                                                                  Chuyên viên cao cấp.
Bác  nói và viết riêng về KHCN không nhiều, mà  thường gắn với  các lĩnh vực khác nhân dịp dự hội nghị tổng kết các ngành hay nhân dịp đi thăm địa phương và cơ sở. Bài nói, bài viết của Bác rất giản dị, gần gũi, ít khi dùng nguyên thể thuật ngữ chuyên môn. Nhưng  người ta thấy trong đó vẫn ẩn chứa những luận điểm rất cơ bản, rất quan trọng  về vai trò của khoa học công nghệ, về quan hệ giữa khoa học công nghệ với sản xuất, về nhiệm vụ của khoa học công nghệ, về động lực phát triển khoa học công nghệ...của nước nhà.
Sinh thời, Bác đã sớm cho rằng, nguồn lực vật chất (tài nguyên thiên nhiên, lao động, vốn liếng... ) là hữu hạn. Còn nguồn lực trí tuệ, khả năng sáng tạo là vô hạn. Bác sớm coi trọng trí thức dân tộc. Ngay từ năm 1947( ngày 22/6), trả lời một nhà báo nước ngoài,Bác đã khẳng định “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc. Ở nước khác như thế, ở Việt Nam càng như thế”.1 Năm 1958, Bác đã ký sắc lệnh phong tặng danh hiệu anh hùng cho các trí thức tiêu biểu. Đồng thời Bác cũng đánh giá rất cao tri thức dân gian, sáng kiến của quảng đại quần chúng. Tại Đại hội chiến sỹ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc ngày 01-5-1952, Bác đã nhấn mạnh: “Trí khôn, sáng kiến, học hỏi, tiến bộ và tinh thần hy sinh của người ta không có giới hạn, nó cứ tiến mãi” 2. “Sáng kiến và kinh nghiệm là của quý chung của dân tộc. Không biết quý trọng và phổ biến kinh nghiệm tức là lãng  phí của dân tộc”3 . Vì vậy mà Bác sớm có chủ trương kết hợp nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp với phong trào sáng kiến, cải tiến kỷ thuật của quần chúng.  Cán bộ chính trị cũng phải biết kỷ thuật. Tại hội nghị cán bộ cao cấp nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 BCH TWĐ( khoá III), ngày 16/01/1966, Bác nhắc nhở:  “Cán bộ chính trị phải biết kỷ thuật, không biết, chỉ chính trị suông không lãnh đạo được”4 .
Chủ nghĩa xã hội chỉ có thể xây dựng thành công trên nền tảng của cơ sở vật chất hiện đại, khoa học công nghệ tiên tiến. Mỗi lần đi thăm, nói chuyện với cán bộ xí nghiệp, cán bộ HTX, Bác đều nhắc nhở phải ra sức phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật. Theo Bác, xây dựng quan hệ sản xuất mới, cải tiến quản lý phải đi đôi với cải tiến kỷ thuật, xây dựng nền tảng cơ sở vật chất kỷ thuật mới bảo đảm tháng lợi toàn diện, bền vững. Ngay từ năm 1963 của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, Bác và Đảng ta đã đặt vấn đề tiến hành cách mạng KHKT, từng bước tiến hành công nghiệp hóa đất nước.
Bác có quan điểm rất biện chứng, rất kinh điển về mối quan hệ giữa sản xuất với khoa học và công nghệ. Ngay từ tháng 10 năm 1947, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Bác đã nói rõ : “Sáng kiến  không phải cái gì kỳ lạ hay chung chung, trừu tượng. Nó chỉ là kết quả của sự nghiên cứu, suy nghĩ trong những hoàn cảnh, những điều kiện bình thường, rất  phổ thông, rất thiết thực”. Hiểu rộng ra là sản phẩm khoa học công nghệ nói chung cũng như vậy. Ở tầm sáng tạo lớn, có ảnh hưởng rộng là phát minh, bao hàm cả sáng chế. Ở tầm thấp hơn, nhỏ hơn thì là sáng kiến, cải tiến kỹ thuật. Tất cả đều là sản phẩm được sáng tạo ra khi cuộc sống thúc bách. 5
Để phát triển khoa học công nghệ một cách thiết thực, hiệu quả, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Hội phổ biến khoa học, kỷ thuật Việt nam, tháng 5 năm 1963, Bác đã chỉ dẫn:  Khoa học phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng, nhằm nâng cao năng suất lao động và không ngừng cải thiện đời sống của nhân dân, bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi. Chúng ta đều biết rằng, trình độ khoa học kỹ thuật của chúng ta hiện nay còn thấp kém. Lề lối sản xuất chưa cải tiến được nhiều. Cách thức làm việc còn nặng nhọc. Năng suất lao động còn thấp kém. Phong tục tập quán lạc hậu còn nhiều. Nhiệm vụ của khoa học là ra sức cải biến những cái đó. Các tổ chức khoa học và nhà khoa học phải lăn lộn trong thực tiễn, quan hệ chặt chẽ với các xí nghiệp, hợp tác xã, với người sản xuất, phải biết công nhân, nông dân yêu cầu gì, họ làm ăn và sinh sống như thế nào, họ cần được giúp đỡ, chuyển giao, phổ biến những tiến bộ khoa học công nghệ  như thế nào 6 .
Bác rất quý trọng trí thức. Nhưng Bác cũng cũng đã sớm  lưu ý, cảnh báo và nhắc nhở, đại ý: Trí thức mà chỉ có sự hiểu biết, không đem vào áp dụng trong hoạt động thực tiễn thì mới trí thức một nửa, chưa phải trí thức hoàn toàn7.    Theo tư tưởng của Bác, chúng ta có thể  suy rộng ra: Khoa học công nghệ phải được áp dụng và kiểm nghiệm trong thực tiễn. Nếu nghiên cứu xong mà không đem áp dụng được trong sản xuất thì chỉ mới là khoa học một nửa.  
Theo  Bác, phát triển KHKT tất yếu gắn liền với giáo dục - đào tạo.  Khi nói về giáo dục - đào tạo, ngay từ đầu, Người quan tâm ngay đến thế hệ trẻ, coi đây là những chủ nhân tương lai của nước nhà, là lực lượng nắm bắt, tiếp thu khoa học hiệu quả, sẽ làm nên cuộc cách mạng KHKT trong tương lai. Cũng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Hội phổ biến khoa học, kỷ thuật Việt nam, Bác nói rằng: "Phải dạy bảo các cháu thiếu niên về KHKT, làm cho các cháu ngay từ thuở nhỏ đã biết yêu khoa học, để mai sau các cháu trở thành những người có thói quen sinh hoạt và làm việc theo khoa học”8. Theo Người, nâng cao trình độ văn hoá, trình độ dân trí cho toàn dân là tiền đề cơ bản để tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật. Quần chúng  không chỉ có khả năng áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, mà còn có khả năng sáng tạo, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, thậm chí là phát minh, sáng chế. Quả đúng  như vậy, nước ta càng ngày càng xuất hiện nhiều nhà khoa học “chân đất”. Tuy bằng cấp không cao, nhưng nhờ gắn bó, trải nghiệm và học trong thực tế, nhiều người lao động( công nhân, nông dân...) đã có những sản phẩm khoa học công nghệ rất có giá trị, và họ đã vươn lên thành lập doanh nghiệp bằng chính sản phẩm sáng tạo của mình.
Bác có một luận điểm hết sức quan trọng về động lực sáng tạo. Cũng từ năm 1947, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Người nói: “Dân chủ, sáng kiến, hăng hái, ba điều đó rất quan hệ với nhau. Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến. Những sáng kiến đó được khen ngợi, thì những người đó càng thêm hăng hái và người khác cũng học theo. Và trong khi tăng thêm sáng kiến và hăng hái làm việc thì những khuyết điểm lặt vặt cũng tự sửa chữa được nhiều”  9.  Theo tầm nhìn của Bác, sức mạnh trí tuệ và ý chí là vô cùng tận. Nhưng trí tuệ  được phát huy như thế nào lại phụ thuộc vào môi trường dân chủ và quan hệ lợi ích.
Chỉ dẫn của Bác không phải nằm trong chỉ thị, nghị quyết. Thông qua đối thoại trực tiếp, thông qua Báo đảng và các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là thông qua lãnh đạo giải quyết nhiệm vụ thực tiễn, các luận điểm của Bác  đã trở thành thông điệp và đi vào cuộc sống, đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Tư tưởng của Bác đã tạo tiền đề quan trọng để Đảng và Nhà nước ta kế thừa và phát triển đường lối, cơ chế, chính sách trong lĩnh vực khoa học và công nghệ. Trong mấy thập kỷ qua, thực hiện theo chỉ dẫn và dặn dò của Bác, Khoa học và công nghệ nước ta đã có những bước tiến  vượt bậc cả về hệ thống tổ chức, nhân lực khoa học công nghệ, phương tiện trang thiết bị. Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng đã tập trung phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh. Cùng với  hoạt động khoa học công nghệ chuyên nghiệp, phong trào sáng kiến, cải tiến kỷ thuật đã được phát triển rộng khắp. Khoa học và  công nghệ có đóng góp to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Tuy nhiên, đối chiếu với chỉ dẫn và căn dặn của Bác, khoa học công nghệ của nước ta nói chung và tỉnh ta nói riêng, còn có mặt chưa làm tốt. Đó là, một thời gian dài, công tác tuyên truyền, giáo dục của ta nghiêng về đề cao cao gíá trị tài nguyên thiên nhiên và  tài sản vật chất. Cho đến bây giờ, giá trị tài sản trí tuệ của quốc gia, của địa phương, của doanh nghiệp mới chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng GDP và vẫn chưa được quan tâm phát triển đúng mức. Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ khá nhiều, nhưng sản phẩm có giá trị thương mại còn ít, việc ứng dụng  vào thực tế còn hạn chế.  Thế hệ trẻ ( học sinh, sinh viên) rối bận học để thi cử, nặng về lý thuyết, chậm tiếp cận với thực tiễn sản xuất, với sự sáng tạo khoa học công nghệ như ở các nước.
Trong giai đoạn mới, mở của, hội nhập kinh tế thế giới, tiếp tục thực hiện tốt hơn những chỉ dẫn và dặn dò quý báu của Bác, đồng thời phải tiếp cận sâu rộng hơn  với kinh tế thị trường, đó là động lực để phát triển của khoa học - công nghệ và đội ngũ trí thức của nước ta, tỉnh ta...
__________
1 Hồ Chí Minh, TT, T.5, NXB chính trị quốc gia, Hà nội, 1995, tr.156
2 , 3 Sđd,T.6,  tr.471;  tr.472.
4 Sđd, T.12, tr.22.
Sửa đổi lối làm việc.Một số bài nói và viết của chủ tịch Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí quan liêu. Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà nội, năm 2008, tr.89.
 6  Hồ Chí Minh, TT, T.11, NXB chính trị quốc gia, Hà nội, 1995, tr.78.
7   Sửa đổi lối làm việc.Một số bài nói và viết của chủ tịch Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí quan liêu. Ban tuyên giáo Trung ương biên soạn.Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà nội, năm 2008, tr.76
 8  Hồ Chí Minh, TT, T.11, NXB chính trị quốc gia, Hà nội, 1995, tr.80.
9  Sửa đổi lối làm việc.Một số bài nói và viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Ban tuyên giáo Trung ương biên soạn. Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2008, Tr.88.

Số lần đọc : 4394   Cập nhật lần cuối: 01/08/2012

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 10809344

Số người Onlne: 36